1 Sao Phục Binh là gì

Phục Binh là sao thứ mười một của vòng Bác Sĩ, ví như đạo quân mai phục ẩn trong bóng tối. Đây là một sao nhỏ thiên về điều bất lợi ngầm, chủ sự ám hại, tiểu nhân, cản trở đến từ phía sau.
2 Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kinh văn Phục Binh an theo Lộc Tồn, mà Lộc Tồn an theo thiên can năm sinh. Bác Sĩ ngồi đúng cung Lộc Tồn, rồi đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, rồi tới Phục Binh ở bước thứ mười một. Chiều đếm lấy theo âm dương can năm cùng giới tính: dương nam và âm nữ đếm thuận, âm nam và dương nữ đếm nghịch. Vậy muốn biết Phục Binh của mình ở đâu chỉ cần hai dữ kiện: can năm sinh và chiều đếm.
Suy luận Bước thứ mười một, tính từ Lộc Tồn, nghĩa là lùi hai cung khi đếm thuận và tiến hai cung khi đếm nghịch. Con số hai này quyết định gần như toàn bộ tính cách cấu trúc của sao. Hai cung không phải đồng cung (không cung), không phải tam hợp (bốn hoặc tám cung), không phải xung chiếu (sáu cung). Cho nên Phục Binh vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu với Lộc Tồn. Nhưng hai cung lại là khoảng cách vừa đủ để Phục Binh đứng ngay cung kề của Đà La khi đếm thuận, và ngay cung kề của Kình Dương khi đếm nghịch. Đây chính là cái tượng của sao: không ngồi chung với sát tinh, mà nấp ngay bên cạnh nó.
| Tuổi can | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La | Phục Binh khi thuận | Phục Binh khi nghịch |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu | Tý | Thìn |
| Ất | Mão | Thìn | Dần | Sửu | Tỵ |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Thìn | Mão | Mùi |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tỵ | Thìn | Thân |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn | Mão | Mùi |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ | Thìn | Thân |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi | Ngọ | Tuất |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân | Mùi | Hợi |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất | Dậu | Sửu |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi | Tuất | Dần |
Năm điều bất biến của Phục Binh
- Không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Ba sao ấy chiếm ba cung liền nhau quanh Lộc Tồn, Phục Binh đứng cách ra hai cung nên rơi ngay ngoài cụm. Đã kiểm đủ mười can và cả hai chiều.
- Nhưng luôn kề một sát tinh của bộ ấy. Đếm thuận thì cung kề Phục Binh có Đà La, đếm nghịch thì cung kề có Kình Dương. Không có ngoại lệ. Nói theo tượng: quân mai phục bao giờ cũng nấp sát vách chỗ có gươm.
- Hai cung kề Phục Binh luôn là Đại Hao và Quan Phủ. Đại Hao ở bước trước, Quan Phủ ở bước sau, nên trên mọi lá số Phục Binh bị kẹp giữa mất của và cửa quan. Mà Quan Phủ lại chính là sao ngồi chung cung với Đà La khi thuận, với Kình Dương khi nghịch. Cụm ba cung Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ là một hằng số của mọi lá số.
- Người đếm thuận thì Phục Binh không bao giờ vào bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Nó chỉ rơi vào Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Hệ quả rất gọn: vì Thiên Mã chỉ đóng bốn cung Dần Thân Tỵ Hợi, nên dương nam và âm nữ thì Phục Binh cả đời không đồng cung Thiên Mã.
- Người đếm nghịch thì Phục Binh không bao giờ vào bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Nó chỉ rơi vào Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi. Hệ quả song song: vì Đào Hoa chỉ đóng bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu, nên âm nam và dương nữ thì Phục Binh cả đời không đồng cung Đào Hoa. Hai điều bốn và năm cộng lại cho một câu đáng nhớ: không ai vừa có Phục Binh đồng cung Thiên Mã vừa có Phục Binh đồng cung Đào Hoa, vì hai khả năng ấy thuộc hai chiều đếm loại trừ nhau.
Suy luận Còn một điều nữa nên nói cho hết: không có chính tinh nào kiêng Phục Binh theo nghĩa cấu trúc. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung Phục Binh có thể tới đều ra đủ mười bốn chính tinh. Nghĩa là Phục Binh có thể ngồi cùng Tử Vi, cùng Thiên Phủ, cùng bất cứ ai. Cái quyết định không phải là gặp chính tinh nào, mà là chính tinh ấy sáng hay tối, có hóa hay không.
Kinh nghiệm Thầy nêu điều thứ ba lên đầu khi dạy học trò, vì nó chữa được một lối luận rất hay sai. Nhiều người thấy Phục Binh liền tìm xem tiểu nhân là ai, mà quên rằng ngay cung bên cạnh đã có Quan Phủ đứng cùng một sát tinh. Ba cung liền nhau ấy phải đọc như một cụm: của mất, người ngầm, việc quan. Ba mặt của cùng một chuyện, thường nối nhau chứ ít khi rời nhau.
3 Cách An Theo Lộc Tồn, Nói Gọn Trước Khi Đi Sâu

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Phục Binh giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Phục Binh.
4 Đặc Tính Của Phục Binh Khi Thủ Mệnh

Phục Binh mang khí của sự rình rập, ám hại kín. Ở cung Mệnh, Nô Bộc hay Quan, nó nhắc đề phòng tiểu nhân, kẻ hại ngầm, những cản trở không lộ mặt. Người có Phục Binh cần cẩn trọng người xung quanh và giữ kín việc quan trọng.
Là sao nhỏ, Phục Binh không gây đại họa một mình; có chính tinh sáng và quý nhân (Khôi Việt, Tả Hữu) thì tiểu nhân khó hại, gặp sát tinh và Hóa Kỵ thì sự ám hại rõ hơn.
5 Phục Binh Trong Vòng Bác Sĩ: Vị Trí Thứ Mười Một
Kinh văn Vòng Bác Sĩ là một trong bốn vòng phụ tinh lớn của Tử Vi Đẩu Số, bên cạnh vòng Thái Tuế đếm theo chi năm, vòng Tràng Sinh đếm theo cục, vòng Thần Sát đếm theo tam hợp chi năm. Riêng vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn, tức gián tiếp đếm theo can năm sinh. Mười hai sao theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Mười hai sao rải đủ mười hai cung, mỗi cung đúng một sao, nên lá số nào cũng có đúng một cung mang Phục Binh.
Suy luận Vòng này khác vòng Thái Tuế ở chỗ nó có chiều. Vòng Thái Tuế luôn đếm thuận cho mọi người; vòng Bác Sĩ thì dương nam âm nữ thuận, âm nam dương nữ nghịch. Hai người sinh cùng năm mà khác giới tính có Bác Sĩ cùng một cung nhưng Phục Binh ở hai cung đối xứng qua trục Lộc Tồn, cách nhau tới bốn cung. Đây là chỗ dễ an nhầm nhất, nên phải hỏi giới tính trước khi đếm.
Ai đứng trước, ai đứng sau, ai chiếu về
Suy luận Vì mười hai sao xếp liền nhau mỗi sao một cung, mọi quan hệ trong vòng đều là hằng số, không phụ thuộc tuổi. Với Phục Binh ở bước thứ mười một:
- Đứng ngay trước là Đại Hao, bước thứ mười, sao chủ hao tổn lớn và phá tán.
- Đứng ngay sau là Quan Phủ, bước thứ mười hai, sao chủ cửa quan và kiện tụng, đồng thời là sao ngồi chung cung với Đà La khi thuận và với Kình Dương khi nghịch.
- Ở cung xung chiếu Phục Binh luôn là Tướng Quân, bước thứ năm, sao chủ uy võ và quyền hành. Đây là cặp đối rất đáng đọc: một bên là tướng ra mặt cầm quân, một bên là quân nấp trong bóng tối.
- Trong tam hợp của Phục Binh luôn có Thanh Long và Phi Liêm, bước thứ ba và thứ bảy. Thanh Long chủ hỷ khánh và tài lộc, Phi Liêm chủ tiếng đồn và thị phi bay tới. Hai sao ấy chiếu về ở mọi lá số.
- Lộc Tồn và Bác Sĩ không bao giờ vào tam phương tứ chính của Phục Binh, vì khoảng cách hai cung.
Kinh nghiệm Ghép lại thành một bức tranh thì thấy ngay tính cách của cung có Phục Binh: một bên mất của, một bên việc quan, đối diện có ông tướng ra mặt, tam hợp có tiếng đồn Phi Liêm bay tới và có Thanh Long hỷ khánh làm điểm sáng duy nhất. Thầy vẫn nói cung Phục Binh là cung của chuyện không nói ra được: chuyện có thật, có người, có thiệt hại, nhưng không có bằng chứng để đưa ra ánh sáng.
Bảng dưới in trọn mười hai sao vòng Bác Sĩ theo mười tuổi can, tính theo chiều thuận. Người đếm nghịch thì lấy đối xứng qua cung Lộc Tồn.
| Tuổi can (dương nam âm nữ, đếm thuận) | Bác Sĩ | Lực Sĩ | Thanh Long | Tiểu Hao | Tướng Quân | Tấu Thư | Phi Liêm | Hỷ Thần | Bệnh Phù | Đại Hao | Phục Binh | Quan Phủ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Phục Binh không nằm trong bảng Tứ Hóa
Kinh văn Nói rõ để khỏi mất công tra: không tuổi can nào làm Phục Binh hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ động tới mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, thêm Thiên Phủ ở bảng Bắc phái tuổi Nhâm. Cả mười hai sao vòng Bác Sĩ đều đứng ngoài.
Suy luận Nhưng đứng ngoài Tứ Hóa không có nghĩa là không chịu ảnh hưởng. Phục Binh là sao nấp: nó không tự sinh chuyện, nó chờ một cái cớ. Chính tinh đồng cung đang hóa gì chính là cái cớ ấy.
- Hóa Lộc đồng cung. Chỗ có lợi lộc là chỗ có người rình. Phục Binh gặp Lộc thường ứng vào việc người khác muốn phần của mình: tranh công, tranh khách, tranh phần chia. Kinh nghiệm Đây là tổ hợp Thầy hay thấy ở người làm ăn phát nhanh mà quanh mình bắt đầu có tiếng ra tiếng vào.
- Hóa Quyền đồng cung. Quyền là nắm, mà đã nắm thì có kẻ muốn giành. Phục Binh gặp Quyền cho thế người đứng đầu bị chống ngầm từ bên dưới, việc điều hành hay bị cản mà không thấy mặt ai cản. Cách gỡ nằm ở chỗ minh bạch quy trình chứ không nằm ở chỗ tìm ra thủ phạm.
- Hóa Khoa đồng cung. Đây là hóa hợp với Phục Binh nhất. Khoa là danh tiếng trong sạch và là giấy trắng mực đen. Cái ám của Phục Binh gặp ánh sáng của Khoa thì tan bớt: việc gì cũng có văn bản, có người làm chứng, kẻ ngầm khó ra tay.
- Hóa Kỵ đồng cung. Thế nặng nhất mà cấu trúc cho phép. Kỵ là vướng, Phục Binh là ngầm, cộng lại thành chuyện dây dưa mà không rõ đầu đuôi: hiểu lầm kéo dài, tin đồn không dập được, hoặc một người thân cận trở mặt. Nhưng đây vẫn chỉ là một cung; phải xem chính tinh sáng tối và tam phương có Khôi Việt Tả Hữu đỡ hay không rồi mới định nặng nhẹ.
Vì sao đọc Phục Binh thì phải đọc cả vòng
Suy luận Một sao lẻ của vòng Bác Sĩ tự nó chỉ là một nhãn dán; cái làm nên nghĩa là vị trí của nhãn ấy trong chuỗi mười hai bước. Chuỗi kể một câu chuyện có đầu có cuối: khởi từ Bác Sĩ ngồi cùng Lộc Tồn là chỗ có kho, qua Lực Sĩ Thanh Long là gắng sức và gặp mừng, tới Tiểu Hao là hao vặt, rồi Tướng Quân Tấu Thư Phi Liêm Hỷ Thần là quãng làm việc và giao tế, tới Bệnh Phù là mỏi mệt, Đại Hao là mất mát lớn, rồi Phục Binh là lúc biết có người đứng sau chuyện ấy, và khép lại bằng Quan Phủ là đưa nhau ra cửa quan. Phục Binh nằm ở đoạn gần cuối, đoạn mà thiệt hại đã xảy ra và người ta bắt đầu tìm nguyên nhân. Đọc nó mà bỏ chuỗi thì chỉ thấy chữ tiểu nhân, không thấy vì sao có tiểu nhân.
6 Phục Binh Tại Bốn Cung Hay Được Hỏi Nhất
Phục Binh đóng ở cung nào thì gieo sắc thái của mình vào lĩnh vực đó.
| Cung | Ý nghĩa khi có Phục Binh |
|---|---|
| Mệnh | Cần đề phòng tiểu nhân, giữ kín việc quan trọng. |
| Nô Bộc | Dễ gặp kẻ hại ngầm trong bạn bè, cấp dưới. |
| Quan Lộc | Công việc dễ bị cản trở từ phía sau. |
| Tài Bạch | Lưu ý kẻ rình rập tiền bạc, lừa ngầm. |
7 Phục Binh An Tại Mười Hai Cung Chức
Tân Biên không lập bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung riêng cho Phục Binh như đã lập cho Song Hao, nên bảng dưới không chia theo đắc hãm mà chia theo thế đỡ và thế bỏ ngỏ. Cột giữa là khi cung ấy có chính tinh sáng, có quý nhân Khôi Việt Tả Hữu hoặc Hóa Khoa. Cột phải là khi cung ấy gặp Đà La, Hóa Kỵ, Không Kiếp hoặc chính tinh hãm. Mỗi ô nói đúng lĩnh vực của cung ấy.
| Cung | Phục Binh được cát tinh đỡ | Phục Binh gặp hung tinh |
|---|---|---|
| Mệnh | Người kín tiếng, biết giữ bí mật, nghĩ trước nói sau, quan sát giỏi. Hợp nghề cần sự kín đáo: điều tra, kiểm toán, an ninh, nghiên cứu, tham mưu đứng sau. | Hay nghi ngờ người, giữ trong lòng không nói, dễ tự cô lập. Ngoài ra hay bị người khác hiểu lầm là có ý đồ, vì mình kín quá. |
| Huynh Đệ | Anh em bạn bè có người kín tính nhưng đáng tin, việc gì cũng lo trong im lặng. | Đây là một trong ba cung nặng nhất của Phục Binh: người chống lại mình lại là người trong nhà. Hay ứng vào việc anh em giấu chuyện tiền nong, hoặc một người ruột thịt nói xấu sau lưng. |
| Phu Thê | Bạn đời kín đáo, ít bộc lộ, nhưng lo toan âm thầm. Hai người hợp nhau ở chỗ không phô trương. | Trong nhà có chuyện giấu nhau, thường là chuyện tiền hoặc chuyện người thứ ba can dự từ bên ngoài. Cái hại không phải hành vi mà là sự im lặng kéo dài. |
| Tử Tức | Con cái tính trầm, ít nói mà nghĩ sâu, cha mẹ cần hỏi mới biết chuyện. | Con giấu chuyện, ngại nói với cha mẹ, dễ chịu ảnh hưởng của bạn xấu mà nhà không hay. Cung này nhắc cha mẹ giữ đường nói chuyện luôn mở. |
| Tài Bạch | Biết giữ kín chuyện tiền nong, không khoe của, nhờ vậy ít bị nhòm ngó. Hợp cách kiếm tiền lặng lẽ, đều đặn. | Có kẻ rình rập tiền bạc: bị rút ruột, bị luồn lách trong sổ sách, bị lừa bởi người quen. Có Đại Hao ở cung kề nên mất tiền và có người đứng sau việc mất ấy thường đi liền nhau. |
| Tật Ách | Bệnh có mà nhẹ, phát hiện sớm nhờ khám định kỳ. | Bệnh ngầm, ủ lâu, triệu chứng mờ, đến khi biết thì đã một quãng. Đây là cung Thầy dặn kỹ nhất về việc khám sức khỏe định kỳ, vì cái tượng của sao đúng là thứ nấp mà không lộ. |
| Thiên Di | Ra ngoài biết giữ mình, không phô, nhờ vậy tránh được nhiều phiền toái. | Ra ngoài dễ gặp người bụng khác miệng, dễ bị gài, dễ mất đồ vì người quen chứ không phải người lạ. Đi xa nên cẩn thận giấy tờ và tài khoản. |
| Nô Bộc | Có cấp dưới trung thành kiểu lặng lẽ, không nói nhiều mà làm được việc. | Cung nặng nhất của Phục Binh. Kẻ hại ngầm nằm trong nhóm bạn bè, cộng sự, cấp dưới: giành công, ăn cắp ý tưởng, kéo bè nói xấu, hoặc mang khách của mình đi. Ứng rất rõ với người làm nghề có đội nhóm. |
| Quan Lộc | Hợp vị trí tham mưu, hậu cần, kiểm soát nội bộ, làm việc sau màn mà thực quyền. Kín tiếng thành lợi thế. | Công việc bị cản từ phía sau: đề xuất bị chặn không rõ lý do, thăng tiến bị chậm vì một lời nói sau lưng. Có Quan Phủ ở cung kề nên chuyện nội bộ dễ leo thành chuyện giấy tờ, hợp đồng. |
| Điền Trạch | Nhà cửa kín đáo, biết giữ của, ít khoe nên ít bị dòm. | Chuyện nhà đất có khuất tất giấy tờ, tranh chấp ranh giới, hoặc có người trong họ ngầm can dự vào tài sản chung. Nên kiểm giấy tờ cho rõ ràng từ đầu. |
| Phúc Đức | Sống nội tâm, có đời sống riêng sâu, hợp việc tu tập và nghiên cứu lặng lẽ. | Trong lòng hay canh cánh, hay nghĩ có người không ưa mình, ngủ không yên vì chuyện chưa nói ra. Đây là cái ám của tâm, không phải của người ngoài. |
| Phụ Mẫu | Cha mẹ tính kín, lo cho con trong im lặng, ít bày tỏ mà có thật. | Bề trên có chuyện giấu con cái, hoặc quan hệ với cấp trên có khoảng cách ngầm. Cũng là cung của hồ sơ giấy tờ bị người khác can thiệp mà mình không hay. |
Kinh nghiệm: mẹo đọc bảng này
- Hỏi cung ấy có người hay không có người. Phục Binh là sao nói về người, khác Đại Hao là sao nói về của. Cho nên Phục Binh ở Tài Bạch không đọc là mất tiền, mà đọc là có người làm cho mình mất tiền. Ở Tật Ách cũng vậy, không đọc là bệnh nặng, mà đọc là bệnh nấp.
- Đọc cùng cung xung chiếu. Đối diện Phục Binh luôn là Tướng Quân. Cung có Tướng Quân là chỗ người ấy ra mặt, cung có Phục Binh là chỗ người ấy bị đánh sau lưng. Hai cung ấy thường là hai mặt của cùng một chuyện đời.
8 Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Kinh nghiệm Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Phục Binh là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn một bậc, còn giáp hai bên là thế bao vây. Riêng với Phục Binh nhớ thêm ba hằng số đã chứng ở trên: Tướng Quân vĩnh viễn ở thế xung chiếu; Lộc Tồn vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính nên đừng chờ nó tới cứu; và cung kề luôn có Đà La khi đếm thuận, có Kình Dương khi đếm nghịch, nên thế giáp sát tinh ấy là mặc định chứ không phải điều bất thường.
Phục Binh nhẹ đi khi gặp
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng được): quý nhân đứng ra bảo lãnh, kẻ ngầm khó ra tay vì có người sáng che.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc giáp hai bên): có người phụ tá thật lòng, chuyện gì cũng có người thứ hai biết, nên khó bị gài một mình.
- Chính tinh hóa Khoa (đồng cung hoặc tam hợp): đưa mọi việc ra giấy trắng mực đen. Đây là cách hóa giải đúng nhất về mặt cấu trúc cho một sao chủ sự khuất.
- Thái Dương miếu vượng (đồng cung): mặt trời soi thì bóng tối ít chỗ nấp. Thái Dương sáng ở Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ đỡ Phục Binh rõ nhất.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): gỡ hiềm khích, làm hiểu lầm tan trước khi thành chuyện.
- Thanh Long (luôn ở thế tam hợp trong cùng vòng): điểm sáng cố định trong tam phương của Phục Binh, chủ hỷ khánh và tài lộc. Không mất được, nên đáng dùng.
Phục Binh nặng thêm khi gặp
- Đà La (ở cung kề khi đếm thuận, đồng cung thì không thể): trì trệ cộng với ám muội, chuyện gì cũng dây dưa không dứt. Đây là thế mặc định của dương nam âm nữ, phải tính vào ngay từ đầu.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung: hiểu lầm hóa thành mắc kẹt. Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì nhẹ hơn hẳn một bậc.
- Cự Môn hãm địa (đồng cung mạnh nhất): Cự Môn chủ khẩu thiệt, Phục Binh chủ ngầm, cộng lại thành tin đồn không tìm được nguồn.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc xung chiếu): mất mà không có dấu vết, khó truy ra ai.
- Phi Liêm (luôn ở thế tam hợp trong cùng vòng): tiếng đồn bay tới. Lực vừa phải nhưng không bao giờ mất, nên chuyện thị phi là nét sẵn có của cung này.
- Quan Phủ cùng Đà La hoặc Kình Dương ở cung kề (thế giáp, mặc định trên mọi lá số): tự nó không đáng ngại, nhưng nếu cung ấy có thêm Hóa Kỵ thì chuyện ngầm dễ leo lên thành chuyện giấy tờ pháp lý.
Kinh nghiệm Một câu để nhớ khi tra hai cột trên: với Phục Binh, hỏi sao ấy đứng ở đâu quan trọng hơn hỏi sao ấy là ai. Cùng là Đà La, người đếm thuận thì nó nằm ngay cung kề nên cái ám kéo dài dai dẳng, người đếm nghịch thì nó cách ba cung nên gần như không dính. Cùng là Khôi Việt, đồng cung thì quý nhân đứng cạnh mà đỡ, tam hợp chiếu thì chỉ là người ở xa nói giúp một câu. Nặng nhẹ nằm ở vị thế, không nằm ở danh sách.
9 Phục Binh Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Phục Binh tĩnh: nó nằm ở đâu, đi cùng ai. Nhưng mười năm đại vận đổi một cung, mỗi năm lưu niên đổi một cung. Đây là chỗ Phục Binh động, cũng là chỗ khách hay hỏi: năm nay tôi có bị ai hại không.
Phục Binh có bản lưu niên
Suy luận Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn, mà Lộc Tồn an theo can. Cho nên khi xem một năm, người ta lấy can của năm ấy an lại trọn bộ vòng Bác Sĩ, gọi là lưu Bác Sĩ, trong đó có lưu Phục Binh. Đây là điểm khác hẳn các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh như Thiên Hình, Thiên Riêu, Văn Xương, Văn Khúc: những sao ấy không có bản lưu vì tháng và giờ sinh không đổi. Vòng Tràng Sinh an theo cục cũng không có bản lưu theo nghĩa này; vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ thì có.
Suy luận Cách tính rất gọn: lấy can năm xem, tra ra lưu Lộc Tồn, rồi đếm mười một bước. Năm 2026 Bính Ngọ, can Bính, lưu Lộc Tồn tại Tỵ, nên lưu Phục Binh tại Mão nếu đếm thuận và tại Mùi nếu đếm nghịch. Năm 2027 Đinh Mùi, lưu Lộc Tồn tại Ngọ, lưu Phục Binh tại Thìn hoặc tại Thân. Trên trang an lá số, chọn năm xem là bảng lưu tự hiện ra.
Kinh nghiệm Điều đáng lưu ý nhất: năm cần đề phòng không phải năm lưu Phục Binh đi qua một cung bất kỳ, mà là năm lưu Phục Binh chồng đúng lên Phục Binh gốc, hoặc chồng lên cung Nô Bộc, cung Quan Lộc của lá số. Hai lớp Phục Binh chồng nhau ở một cung là dấu hiệu rõ nhất mà Thầy dùng để dặn khách giữ kín kế hoạch trong năm ấy. Còn lưu Phục Binh rơi vào một cung bình thường thì chỉ là một nét nhỏ.
Đại vận đi vào cung có Phục Binh
Kinh nghiệm Mười năm đại vận rơi đúng cung có Phục Binh gốc thường là mười năm đời sống có phần chìm. Biểu hiện hay gặp: công việc bị cản mà không rõ ai cản; có một hai chuyện hiểu lầm kéo dài; quan hệ với cộng sự hoặc người thân cận nguội đi mà không nói ra được lý do; và một cảm giác chung là mình làm nhiều mà công không được ghi nhận đúng.
Kinh nghiệm Nhưng phải phân hai hướng. Đại vận Phục Binh mà cung ấy có chính tinh sáng, có Khôi Việt Tả Hữu hoặc Hóa Khoa thì cái kín ấy trở thành lợi thế: đây là quãng người ta làm việc sau màn mà chắc, xây nền, tích lũy chuyên môn, chuẩn bị cho một bước ra mặt về sau. Rất nhiều người làm nghề tham mưu, nghiên cứu, kiểm soát nội bộ đi lên trong đúng loại vận này. Ngược lại, đại vận Phục Binh mà cung ấy gặp Đà La, Hóa Kỵ, Cự Môn hãm thì là mười năm phải giữ mồm và giữ giấy: mọi thỏa thuận nên có văn bản, mọi khoản chung nên có sổ, và đừng giao toàn quyền cho một người duy nhất. Thầy dặn một câu cho loại vận này: cái hại của Phục Binh nằm ở chỗ không có bằng chứng, nên việc cần làm là tạo ra bằng chứng từ trước.
Suy luận Một điểm cấu trúc dùng được ngay: vì Tướng Quân luôn ở cung xung chiếu, đại vận đi vào cung Tướng Quân cũng là đại vận bị Phục Binh chiếu về. Nghĩa là quãng đời mình ra mặt mạnh nhất cũng chính là quãng có người nấp sau lưng nhiều nhất. Đây là quy luật rất đời: càng nổi càng bị nhòm.
Các lưu sao chạm vào cung Phục Binh
- Lưu Đà La hoặc lưu Kình Dương rơi vào cung Phục Binh. Hai sao ấy cũng an theo can năm xem. Năm chúng rơi trúng cung Phục Binh gốc là năm chuyện ngầm có thêm phần sắc bén hoặc phần dai dẳng, tùy là Kình hay Đà.
- Lưu Quan Phù, lưu Bạch Hổ của vòng Thái Tuế rơi vào cung Phục Binh. Suy luận Đây là năm chuyện sau lưng dễ nổi lên thành chuyện có giấy tờ, có bên thứ ba can dự. Nên đọc kỹ hợp đồng trước khi ký trong những năm ấy.
- Lưu Xương Khúc rơi vào cung Phục Binh. Suy luận Văn tinh là giấy tờ và lời chữ. Rơi vào đây thì việc ghi chép, hợp đồng, thư từ trở thành công cụ tự vệ tốt trong năm. Thầy để thẻ Suy luận vì sách không có mục này.
10 Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Phục Binh
Phục Binh là cái tên gợi ra hình ảnh quân mai phục, nên nó bị gán cho đủ thứ tai họa mà sách chưa từng nói. Mục này Thầy viết kỹ, vì với những sao mang tên nặng, việc gỡ hiểu lầm còn quan trọng hơn việc luận thêm.
Hiểu lầm một: có Phục Binh là chắc chắn bị hại
Kinh văn Sách nói gì: Phục Binh là sao trong vòng Bác Sĩ, mang khí rình rập và ám hại kín, ở Mệnh, Nô Bộc, Quan thì nhắc đề phòng tiểu nhân và những cản trở không lộ mặt. Sách không nói gì: không có câu nào bảo người có Phục Binh sẽ bị hại. Suy luận Thêm điều cấu trúc chỉ ra: Phục Binh là một trong mười hai sao của một vòng phụ tinh, lá số nào cũng có đúng một cung mang nó, không ai không có. Một thứ mà ai cũng có thì không thể là dấu hiệu của một tai họa hiếm. Nó chỉ nói rằng ở lĩnh vực này, quý vị nên kín hơn một chút.
Hiểu lầm hai: Phục Binh chỉ điểm được kẻ xấu là ai
Kinh nghiệm Rất nhiều người mang lá số tới hỏi Thầy tiểu nhân của con là ai, tuổi gì, tên vần gì. Xin nói thẳng: lá số không chỉ được mặt người. Cung có Phục Binh nói lĩnh vực, không nói danh tính. Phục Binh ở Nô Bộc nói rằng rủi ro nằm phía bạn bè và cộng sự, chứ không nói ông A hay bà B. Ai luận ra được tên tuổi kẻ xấu từ một phụ tinh thì đó là đoán, không phải luận. Thầy không làm việc ấy, và cũng khuyên quý vị đừng tin nơi nào làm việc ấy, vì hậu quả của một lời chỉ mặt sai là hỏng cả một mối quan hệ lành.
Hiểu lầm ba: Phục Binh đồng cung Đà La nên rất nặng
Suy luận Câu này sai ngay ở phần an sao. Phục Binh cách Lộc Tồn đúng hai cung, mà Đà La cách Lộc Tồn một cung, nên hai sao không bao giờ đồng cung, đã kiểm đủ mười can và cả hai chiều. Cái đúng là Phục Binh đứng ngay cung kề Đà La khi đếm thuận, tức thế giáp chứ không phải thế đồng cung. Giáp thì nhẹ hơn đồng cung một bậc rõ rệt. Với người đếm nghịch thì cung kề lại là Kình Dương, còn Đà La cách tới ba cung nên gần như không liên quan. Một chữ sai ở đây kéo theo cả đoạn luận sai nặng nhẹ.
Hiểu lầm bốn: Phục Binh trong Tử Vi cũng là Phục Binh trong phép chọn ngày
Suy luận Trong lịch cổ và trong một số phép chọn ngày giờ có thần sát mang tên tương tự, dùng để kiêng ngày kiêng hướng. Đó là hệ thống khác hẳn, đếm cách khác, dùng vào việc khác. Phục Binh trong Tử Vi Đẩu Số chỉ là bước thứ mười một của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn, và chỉ có nghĩa trong khung mười hai cung của lá số. Cũng đừng nhầm với phép cúng sao giải hạn theo Cửu Diệu: Tử Vi Đẩu Số không có phép cúng sao, và Phục Binh không phải một sao cần cúng.
Kinh nghiệm Nói cho tận cùng: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra. Tên sao là cái tượng, là một hướng gió. Người có Phục Binh mà sống minh bạch, ghi chép rõ ràng, có người làm chứng, thì cả đời không thấy tiểu nhân đâu; người có Phục Binh mà làm ăn miệng, giao hết cho một người, không sổ sách, thì mới ra chuyện. Thầy chưa từng, và sẽ không bao giờ, phán một tai họa từ một phụ tinh.
11 Lá Số Minh Họa: Đọc Phục Binh Qua Ba Bước
Dưới đây là một lá số dựng theo cấu trúc để minh họa, không phải người thật: nam mệnh tuổi can Đinh, can âm nên vòng Bác Sĩ đếm nghịch, Tử Vi an tại Thìn, Mệnh an tại Mão. Hình vẽ chính tinh, Tứ Hóa theo can Đinh, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo đúng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Vòng Bác Sĩ hình không vẽ, xin ghi ra để đối chiếu: tuổi Đinh có Lộc Tồn tại Ngọ nên Bác Sĩ cũng tại Ngọ, đếm nghịch mười một bước thì Phục Binh tại Thân, Đại Hao tại Dậu và Quan Phủ tại Mùi giáp hai bên, còn Tướng Quân tại Dần ở cung xung chiếu.
Tử Vi tại Thìn, Mệnh tại Mão
không phải người thật
đếm nghịch, Phục Binh tại Thân
Bước một: Phục Binh đóng đâu, thế nào
Tuổi Đinh, đếm nghịch, Phục Binh rơi vào cung Thân, mà Thân chính là cung Nô Bộc của lá số này. Đây là cung nặng nhất của Phục Binh theo đúng nghĩa sách: rủi ro nằm phía bạn bè, cộng sự và cấp dưới. Đối diện tại Dần là cung Huynh Đệ, có Tướng Quân xung chiếu về. Vậy trục của sao này nằm trên trục Nô Bộc với Huynh Đệ: người ngoài và người trong nhà là hai đầu của cùng một chuyện. Suy luận Vì đếm nghịch nên Quan Phủ tại Mùi ngồi chung cung với Kình Dương, mà Mùi là cung Quan Lộc, và cung ấy lại giáp ngay cung Phục Binh. Chuyện của nhóm và chuyện của nghề dính liền nhau.
Bước hai: đồng cung với ai, chính tinh hóa gì
Cung Thân có Liêm Trinh độc tọa. Tuổi Đinh thì Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa, Cự Môn hóa Kỵ. Không hóa nào rơi vào cung Thân, nghĩa là bản thân cung Nô Bộc không bị Tứ Hóa khuấy. Nhưng cung Mệnh tại Mão có Thiên Cơ hóa Khoa và Cự Môn hóa Kỵ đồng cung, một thế rất đáng nói: Khoa cho tiếng thơm và tài nghĩ, Kỵ trên Cự Môn cho khẩu thiệt và tiếng ra tiếng vào.
Kinh nghiệm Đọc ra một chân dung rõ: người thông minh, nói năng có sức nặng, có danh trong nghề, nhưng quanh mình luôn có tiếng bàn ra tán vào. Liêm Trinh ở Nô Bộc cho nhóm bạn và cấp dưới thuộc loại có cá tính, thích tranh đua. Cộng với Phục Binh ngồi đó thì đây đúng là người được việc nhờ đội nhóm mà cũng phiền vì đội nhóm.
Bước ba: tam phương chiếu gì, đỡ được tới đâu
Tam phương của cung Nô Bộc tại Thân gồm Tý và Thìn. Tại Tý là cung Tử Tức, có Vũ Khúc và Thiên Phủ; tại Thìn là cung Phụ Mẫu, có Tử Vi và Thiên Tướng. Xung chiếu từ Dần là cung Huynh Đệ, có Tham Lang cùng Tướng Quân.
Suy luận Đọc cấu trúc: hai chân tam hợp đều là bộ sao tĩnh và có nền, Vũ Khúc Thiên Phủ là kho, Tử Vi Thiên Tướng là uy và ấn tín. Đây là chỗ đỡ rất tốt cho cung Nô Bộc: người ấy có gốc vững, có chỗ dựa, nên kẻ ngầm khó lật được. Nhưng xung chiếu là Tham Lang cùng Tướng Quân, tức là ở phía anh em có người mạnh, thích tranh, ra mặt rõ. Kinh nghiệm Kết luận Thầy đọc: chuyện đáng lo của lá số này không phải kẻ lạ, mà là sự lẫn lộn giữa việc chung và tình thân. Lời khuyên cụ thể: việc với anh em và với bạn thân thì càng thân càng phải viết ra giấy.
Đổi tham số sinh thì đọc khác đi thế nào
- Vẫn tuổi Đinh nhưng là nữ mệnh. Đinh là can âm, âm nữ thì đếm thuận. Lộc Tồn vẫn tại Ngọ, nhưng Phục Binh chuyển sang Thìn, tức cung Phụ Mẫu, và cung kề bây giờ có Đà La tại Tỵ thay vì Kình Dương. Đọc ra khác hẳn: rủi ro chuyển từ phía bạn bè sang phía bề trên và giấy tờ, màu của nó cũng chuyển từ sắc bén sang dây dưa kéo dài. Cùng một người, cùng một năm sinh, chỉ đổi giới tính là đổi cả lĩnh vực cần đề phòng.
- Đổi sang tuổi Quý, vẫn nam mệnh nên đếm nghịch. Lộc Tồn chuyển về Tý, Phục Binh về Dần, tức cung Huynh Đệ của lá số này. Bấy giờ Phục Binh và Tướng Quân đổi chỗ cho nhau: người trong nhà thành chỗ cần giữ, còn ngoài xã hội thì mình ra mặt. Tuổi Quý lại có Tham Lang hóa Kỵ, mà Tham Lang đang ở Dần, nên cung Huynh Đệ vừa có Phục Binh vừa có Kỵ. Đây là thế nặng của cung ấy, ứng đúng câu người chống lại mình là người trong nhà.
- Đổi sang tuổi Tân, nam mệnh đếm nghịch. Lộc Tồn tại Dậu, Phục Binh về Hợi, cung Tài Bạch. Tuổi Tân thì Cự Môn hóa Lộc và Văn Xương hóa Kỵ. Cự Môn ở Mão nay hóa Lộc chứ không hóa Kỵ nữa, nên cái miệng từ chỗ gây họa thành chỗ kiếm tiền. Cùng một dàn chính tinh mà đọc ra một người sống bằng nghề nói, chỉ cần giữ kỹ khoản tiền và giấy tờ.
Muốn biết Phục Binh của mình nằm ở cung nào, kề sát tinh nào, đi cùng chính tinh nào, quý vị hãy an lá số Tử Vi tại trang của Thầy, bảng vòng Bác Sĩ và bản lưu từng năm đều hiện sẵn.
12 Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kinh nghiệm Phục Binh không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Nó nói về cách quý vị đứng giữa người khác, và cách hóa giải đúng đắn nhất là bỏ đi những khoảng tối mà kẻ ngầm cần để ra tay. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Phục Binh nổi bật, xếp theo thứ tự quan trọng.
Viết ra giấy, nhất là với người thân
Kinh nghiệm Cái hại của Phục Binh nằm ở chỗ không có bằng chứng, nên việc cần làm là tạo ra bằng chứng từ trước khi có chuyện. Góp vốn thì có hợp đồng, cho mượn thì có giấy, giao việc thì có văn bản, họp xong thì có biên bản gửi lại cho mọi người. Càng là chỗ thân tình càng nên làm, vì phần lớn chuyện Thầy nghe kể đều bắt đầu bằng câu chỗ anh em không cần giấy tờ.
Giữ kín kế hoạch, nhưng đừng giữ kín con người
Kinh nghiệm Người có Phục Binh nên tập một thói quen: việc chưa xong thì chưa nói. Nhưng kín việc khác với kín lòng. Nếu quý vị kín cả con người mình thì đến lúc có chuyện sẽ không ai đứng ra làm chứng cho quý vị. Hãy có ít nhất hai ba người biết mình đang làm gì và tin mình, đó mới là lớp bảo vệ thật.
Đừng giao toàn quyền cho một người
Suy luận Cấu trúc của sao này là một người nấp sau một việc. Cách chặn hiệu quả nhất không phải là nghi ngờ ai, mà là chia việc sao cho không ai nắm trọn một khâu: người giữ tiền khác người ghi sổ, người ký khác người duyệt. Đây là nguyên tắc kiểm soát nội bộ rất thường, nhưng lại đúng y cái tượng của Phục Binh.
Nghi thì hỏi thẳng, đừng nuôi trong lòng
Kinh nghiệm Phục Binh ở Phúc Đức hoặc Mệnh hay làm người ta nghĩ có kẻ không ưa mình, rồi nuôi cái nghĩ ấy thành thật. Phần lớn trường hợp Thầy gặp, hỏi thẳng một câu là tan. Cái ám của sao này sợ nhất ánh sáng, mà lời nói thẳng chính là ánh sáng gần nhất trong tầm tay.
Khám sức khỏe định kỳ nếu Phục Binh ở Tật Ách
Suy luận Tượng của sao là thứ nấp mà không lộ, đặt vào cung bệnh tật thì thành bệnh ủ lâu, triệu chứng mờ. Việc thiết thực nhất là khám định kỳ mỗi năm một lần, đừng đợi thấy đau mới đi.
Ghi chú về phong thủy bổ trợ: nhiều người hỏi Thầy nên bày gì, đeo gì để chặn Phục Binh. Những gợi ý như giữ bàn làm việc quay lưng vào tường thay vì quay lưng ra cửa, không để giấy tờ quan trọng ở nơi ai cũng với tới, đổi mật khẩu định kỳ, đều là gợi ý chung có ích cho mọi người, không phải phép trấn riêng cho sao này. Chúng có tác dụng vì chúng bớt đi khoảng hở, không phải vì chúng đổi được lá số. Thầy không bán vật phẩm và không nhận cúng giải hạn.
13 Nguồn Tham Khảo Và Ghi Chú Kiểm Chứng
Những đoạn gắn thẻ Kinh văn lấy từ sách dẫn dưới đây; đoạn gắn thẻ Kinh nghiệm là đúc kết của Thầy Ưng Khiêm từ lá số thật, chưa có trong sách; đoạn gắn thẻ Suy luận rút từ cấu trúc an sao, nên coi là giả thuyết để tự kiểm.
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần đặc tính các sao, mục vòng Bác Sĩ: mười hai sao an theo Lộc Tồn, thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ; Phục Binh đứng thứ mười một, mang khí rình rập và ám hại kín, chủ tiểu nhân và cản trở không lộ mặt. Đây là sách duy nhất mà trang gốc dẫn cho bài này, và Thầy giữ nguyên phạm vi ấy.
- Sách không lập bảng đắc hãm và không lập phú riêng cho Phục Binh. Khác với Song Hao được Tân Biên ghi rõ đắc địa tại Dần Thân Mão Dậu, Phục Binh không có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung, và cũng không có câu phú riêng trong các bản phú lưu hành. Vì vậy bài này không dẫn câu phú nào và không chia bảng cung chức theo đắc hãm; quý vị nếu gặp một trang trích phú Phục Binh thì nên hỏi lại nguồn.
- Kiểm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn: phần cấu trúc được sinh và đối chiếu bằng chương trình chạy đủ mười thiên can và cả hai chiều thuận nghịch, dùng đúng thuật toán đang chạy trên trang an lá số. Cụ thể đã kiểm: Phục Binh ở bước thứ mười một của vòng; luôn cách Lộc Tồn đúng hai cung nên không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu Lộc Tồn; không bao giờ đồng cung Kình Dương hay Đà La, nhưng luôn kề Đà La khi đếm thuận và kề Kình Dương khi đếm nghịch; hai cung kề luôn là Đại Hao và Quan Phủ; luôn xung chiếu Tướng Quân và luôn tam hợp Thanh Long với Phi Liêm; khi đếm thuận chỉ rơi vào tám cung Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất nên không bao giờ đồng cung Thiên Mã; khi đếm nghịch chỉ rơi vào Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi nên không bao giờ đồng cung Đào Hoa; và đủ mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Phục Binh. Lá số minh họa dựng bằng chính thuật toán ấy.
- Bảng Tứ Hóa dùng trong bài lấy đúng bảng Nam phái đang chạy trên máy chủ của trang.
Ghi chú về dị bản: có hai chỗ các bản chép không thống nhất. Thứ nhất là chiều đếm vòng Bác Sĩ: đa số bản chép theo lối dương nam âm nữ đếm thuận, âm nam dương nữ đếm nghịch, và trang an lá số của Thầy theo lối này; một số bản ít gặp cho vòng Bác Sĩ đếm thuận cho tất cả mọi người. Hai lối cho vị trí Phục Binh khác nhau tới bốn cung ở người âm nam dương nữ, nên khi đối chiếu với lá số an ở nơi khác, xin kiểm chiều đếm trước khi kết luận ai đúng ai sai. Thứ hai là tên gọi: một số bản Việt ngữ chép Phục Binh là Phục Thi hoặc gộp chung với các sao ám khác; đây là bước thứ mười một của vòng Bác Sĩ, xin căn theo vị trí trong vòng chứ đừng căn theo tên.
14 Câu Hỏi Thường Gặp Về Sao Phục Binh
Phục Binh là sao thứ mười một của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, ví như quân mai phục ẩn trong bóng tối. Đây là sao nhỏ chủ sự ám hại ngầm, tiểu nhân, cản trở đến từ phía sau.
Phục Binh đứng thứ mười một trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Người có Phục Binh nổi bật nên đề phòng tiểu nhân, giữ kín việc quan trọng, cẩn trọng người xung quanh. Có quý nhân như Khôi Việt, Tả Hữu và chính tinh sáng thì kẻ ám hại khó ra tay.
Phục Binh là sao nhỏ, không gây đại họa một mình, chủ yếu nhắc đề phòng ám hại ngầm. Gặp sát tinh và Hóa Kỵ thì sự ám hại rõ hơn; có chính tinh sáng và quý nhân thì hóa giải được nhiều.
Không bao giờ. Phục Binh luôn cách Lộc Tồn đúng hai cung, trong khi Kình Dương và Đà La đứng ngay hai bên Lộc Tồn, cách Lộc Tồn một cung. Đã kiểm đủ mười thiên can và cả hai chiều đếm bằng thuật toán an sao của thayungkhiem.vn. Cái đúng là Phục Binh đứng ngay cung kề Đà La khi đếm thuận và kề Kình Dương khi đếm nghịch, tức thế giáp chứ không phải thế đồng cung, mà giáp thì nhẹ hơn đồng cung một bậc rõ rệt.
Vì vòng Bác Sĩ có chiều. Dương nam và âm nữ thì đếm thuận, âm nam và dương nữ thì đếm nghịch. Bác Sĩ luôn ngồi cùng cung Lộc Tồn nên hai người sinh cùng năm có Bác Sĩ ở cùng một chỗ, nhưng Phục Binh ở bước thứ mười một nên hai chiều cho hai cung đối xứng qua trục Lộc Tồn, cách nhau tới bốn cung. Đây là chỗ dễ an nhầm nhất của vòng này, nên khi tra phải hỏi giới tính trước khi đếm.
Không. Cung có Phục Binh nói lĩnh vực cần kín hơn, không nói một sự việc sẽ xảy ra, và tuyệt đối không chỉ ra được ai. Phục Binh tại Nô Bộc nghĩa là rủi ro của người ấy nằm phía bạn bè, cộng sự và cấp dưới nhiều hơn phía khác, nên nên viết rõ ràng khi làm việc chung, chia việc để không ai nắm trọn một khâu, và giữ kín kế hoạch chưa xong. Còn có thành chuyện hay không thì phải xem chính tinh sáng hay tối, có Khôi Việt Tả Hữu đỡ không, có Hóa Kỵ hay Đà La ở đó không, và đại vận có chạm tới hay không.
Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm lấy can của năm ấy an lại trọn bộ vòng Bác Sĩ lưu, trong đó có lưu Phục Binh. Các sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh thì không có bản lưu, vì tháng và giờ sinh không đổi. Năm đáng lưu ý không phải năm lưu Phục Binh đi qua một cung bất kỳ, mà là năm lưu Phục Binh chồng đúng lên Phục Binh gốc, hoặc lên cung Nô Bộc và cung Quan Lộc của lá số.