Bài thuốc tân lương giải biểu, thanh nhiệt giải độc, trị ôn bệnh mới phát.
[TỔNG QUAN]
Ngân Kiều Tán là phương thuốc lừng danh trong Ôn Bệnh Điều Biện của Ngô Cúc Thông. Đây là bài thuốc đầu bảng thuộc nhóm tân lương giải biểu, chuyên đặc trị ôn bệnh ở giai đoạn Vệ phận, ngoại cảm phong nhiệt, viêm họng, phát sốt cấp tính.
[THÀNH PHẦN BÀI THUỐC]
- Kim ngân hoa: 15g.
- Liên kiều: 15g.
- Cát cánh: 6g.
- Bạc hà: 6g.
- Trúc diệp: 6g.
- Cam thảo (sống): 3g.
- Kinh giới tuệ: 6g.
- Đạm đậu xị: 6g.
- Ngưu bàng tử: 9g.
- Lô căn (rễ sậy): 15g.
Cách dùng: Tán bột thô, sắc với nước, đun sôi nhanh (không sắc lâu để giữ được khí vị tân tán). Uống ấm chia nhiều lần trong ngày, uống đến khi bệnh lui thì ngừng.
[CÔNG NĂNG CHỦ TRỊ]
Công năng: Tân lương thấu biểu, thanh nhiệt giải độc.
Chủ trị: Ôn bệnh sơ khởi (phong nhiệt cảm mạo): phát sốt nặng, sợ gió nhẹ, đầu đau, miệng khát, ho, họng sưng đỏ đau, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác.
[PHÂN TÍCH PHƯƠNG TỄ]
- Quân dược (Kim ngân hoa, Liên kiều): Vị ngọt đắng, tính hàn, mùi thơm thấu đạt. Vừa có khả năng thấu tà ra biểu, vừa thanh nhiệt giải độc mạnh ở nội bộ.
- Thần dược (Kinh giới, Đậu xị, Bạc hà, Ngưu bàng tử): Kinh giới, Đậu xị tán biểu tà. Bạc hà, Ngưu bàng tử tân lương sơ tán phong nhiệt, lợi yết hầu, giải độc tiêu thũng.
- Tá dược (Cát cánh, Trúc diệp, Lô căn): Cát cánh tuyên phế chỉ khái. Trúc diệp, Lô căn thanh nhiệt sinh tân chỉ khát, dẹp hỏa tà.
- Sứ dược (Cam thảo sống): Hợp với Cát cánh lợi họng, thanh nhiệt giải độc, điều hòa các vị thuốc.
[LƯU Ý KHI DÙNG]
Thuốc dùng để thấu biểu tà, đun sắc không được quá lâu kẻo mất khí vị. Không dùng cho chứng ngoại cảm phong hàn (sợ lạnh nhiều, không khát, nước mũi trong). Lưu ý: Cần có sự tư vấn của thầy thuốc trước khi sử dụng.