Viện UK MASTER ACADEMY phát triểnDeveloped by UK MASTER ACADEMY

Các gò bàn tay: tám gò, Minh Đường và cái thật nằm bên dướiThe mounts of the hand: eight mounts, the Bright Hall and what really lies beneath

Gò là những chỗ thịt nổi trên lòng bàn tay, mỗi gò mang tên một hành tinh. Bài này đi từng gò, chỉ cách nhìn một gò như người xem tay lâu năm vẫn nhìn, rồi đặt tên giải phẫu thật cạnh tên tướng pháp để quý vị biết đâu là đo được, đâu là lời luận để tham khảo.Mounts are the fleshy rises of the palm, each named after a planet. This piece goes mount by mount, shows how seasoned readers judge a mount, then sets the real anatomy beside the palmistry names so you know what can be measured and what is a reading for reflection.

Thầy Ưng Khiêm soạnBy Master Ung Khiem ĐăngPublished 30/09/2026Đọc khoảng 15 phútAbout 15 minutes
Trả lời ngắnShort answerCác gò bàn tay là chỗ thịt nổi trên lòng bàn tay: bốn gò ở gốc ngón là Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thái Dương, Thủy Tinh, Kim Tinh ở gốc ngón cái, Thái Âm và Hỏa Tinh trên ở mép ngón út, Hỏa Tinh dưới phía ngón cái, và Minh Đường ở giữa. Xem gò là xem cao thấp, chắc mềm, tâm gò có lệch không và vạch trên gò. Dưới gò là cơ, mỡ, gân nên gò đổi theo cách dùng tay. Nghĩa tướng pháp để tham khảo.The mounts of the hand are the fleshy rises of the palm: Jupiter, Saturn, Apollo and Mercury at the finger bases, Venus at the thumb, the Moon and Upper Mars on the little finger edge, Lower Mars on the thumb side, and the Bright Hall in the centre. Judge a mount by height, firmness, whether its centre leans, and the lines on it. Beneath lie muscle, fat and tendon, so mounts change with use. The meanings are for reflection.

Gò bàn tay là gìWhat the mounts are

Gò là những chỗ thịt nổi trên lòng bàn tay. Cách gọi này đến từ lối xem tay phương Tây, nơi mỗi gò mang tên một hành tinh. Cheiro, tên thật William John Warner, nhà xem tay người Ireland (1866 tới 1936), viết trong Palmistry for All (1916) rằng tên các gò là tên bảy hành tinh chính: Mặt Trời, Mặt Trăng, Kim Tinh, Thủy Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh. William G. Benham, trong The Laws of Scientific Hand Reading in cuối năm 1900, xếp chỗ bảy gò ấy: bốn gò ở gốc các ngón, hai gò dọc mép bàn tay phía ngón út, một gò ở gốc ngón cái.

Mounts are the fleshy rises of the palm. The idea comes from Western hand reading, where each mount carries the name of a planet. Cheiro, born William John Warner, the Irish palmist (1866 to 1936), wrote in Palmistry for All (1916) that the mounts bear the names of the seven principal planets: the Sun, Moon, Venus, Mercury, Mars, Jupiter and Saturn. William G. Benham, in The Laws of Scientific Hand Reading published at the end of 1900, placed them: four at the bases of the fingers, two along the little finger edge of the hand, and one at the base of the thumb.

Sơ đồ bàn tay trên trang tổng Sinh Trắc Tam Tướng vẽ tám gò và Minh Đường: gò Hỏa Tinh tách làm hai, một ở mép ngón út, một ở phía ngón cái, còn khoảng giữa lòng tay là đồng bằng Hỏa Tinh, sách Trung Hoa gọi là Minh Đường. Bài cách xem chỉ tay mới chỉ vị trí. Bài này đi sâu từng gò, cách nhìn một gò, cái thật nằm dưới gò và vì sao gò đổi theo năm tháng.

The hand map on the Sinh Trắc Tam Tướng hub draws eight mounts and the Bright Hall: Mars is split in two, one on the little finger edge and one on the thumb side, and the space in the middle of the palm is the Plain of Mars, which Chinese texts call the Bright Hall (Minh Đường). The palm reading guide only showed where they are. This piece goes deeper: each mount, how to judge one, what really lies beneath, and why mounts change over the years.

1234567891Gò Mộc TinhMount of JupiterJupiter, gốc ngón trỏMộc Tinh, base of the index2Gò Thổ TinhMount of SaturnSaturn, dưới ngón giữaThổ Tinh, below the middle finger3Gò Thái DươngMount of ApolloApollo, dưới ngón áp útThái Dương, below the ring finger4Gò Thủy TinhMount of MercuryMercury, dưới ngón útThủy Tinh, below the little finger5Gò Kim TinhMount of VenusVenus, gốc ngón cáiKim Tinh, base of the thumb6Gò Thái ÂmMount of the MoonMoon, mép dưới bàn tayThái Âm, lower outer edge7Gò Hỏa Tinh trênUpper MarsUpper Mars, mép ngón útHỏa Tinh trên, little finger edge8Gò Hỏa Tinh dướiLower MarsLower Mars, phía ngón cáiHỏa Tinh dưới, thumb side9Đồng bằng Hỏa TinhPlain of MarsMinh Đường, giữa lòng tayMinh Đường, centre of the palmLòng bàn tay phải, ngón cái bên phảiRight palm, thumb on the right
Hình 1. Bản đồ tám gò và Minh Đường trên lòng bàn tay phải nhìn thẳng. Mỗi dòng chú giải có tên Việt, tên phương Tây và vị trí. Vị trí lấy đúng dữ liệu sơ đồ bàn tay của trang tổng.Figure 1. The eight mounts and the Bright Hall on a right palm seen face on. Each legend line gives the Vietnamese name, the Western name and the position, taken from the hub's hand map data.

Tên Việt của năm gò không đặt ngẫu nhiên. Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh là tên Hán Việt của Jupiter, Saturn, Mercury, Venus, Mars, và chữ đầu mỗi tên là một hành. Theo mục ngũ hành trên Wikipedia, ngũ hành ban đầu gắn với năm hành tinh cổ điển nhìn thấy bằng mắt thường, cùng Mặt Trời, Mặt Trăng: Kim là Venus, Mộc là Jupiter, Thủy là Mercury, Hỏa là Mars, Thổ là Saturn. Hình dưới tô màu theo hành của tên cho dễ nhớ. Màu ấy chỉ để nhớ tên, bài này không luận gò theo ngũ hành.

The Vietnamese names of five mounts are not arbitrary. Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thủy Tinh, Kim Tinh and Hỏa Tinh are the Sino Vietnamese names of Jupiter, Saturn, Mercury, Venus and Mars, and the first word of each is an element. According to the Wikipedia article on wuxing, the five phases were first tied to the five classical naked eye planets, together with the Sun and Moon: Metal is Venus, Wood Jupiter, Water Mercury, Fire Mars, Earth Saturn. The figure below colours each name by its element as a memory aid only. This piece does not read the mounts by the five elements.

Hành MộcWoodMộc TinhJupiterJupiterMộc TinhHành ThổEarthThổ TinhSaturnSaturnThổ TinhHành ThủyWaterThủy TinhMercuryMercuryThủy TinhHành KimMetalKim TinhVenusVenusKim TinhHành HỏaFireHỏa TinhMarsMarsHỏa TinhThái Dương là Mặt Trời, Thái Âm là Mặt Trăng, không thuộc năm hành tinh ấyThái Dương is the Sun and Thái Âm the Moon, outside those five planets
Hình 2. Năm gò mang tên ngũ hành của năm hành tinh, tô theo bảng màu ngũ hành của UK MASTER.Figure 2. Five mounts carry the element names of five planets, coloured by the UK MASTER element palette.

Tám gò, từng gò mộtThe eight mounts, one by one

Bảng dưới lấy đúng dữ liệu sơ đồ bàn tay của trang tổng, để quý vị đọc ở đâu cũng khớp. Cột nghĩa là tướng pháp để tham khảo, không phải kết quả đo.

The table below uses the hub's hand map data word for word, so every page agrees. The meaning column is physiognomy for reference, not a measurement.

Tám gò và Minh Đường theo trang tổngThe mounts and the Bright Hall, as on the hub
GòMountTên phương TâyWestern nameVị trí và nghĩa tướng phápPosition and reading
Gò Mộc TinhMộc TinhJupiterMount of JupiterGốc ngón trỏ. Chí hướng, lòng tự tôn, khả năng dẫn dắt.Base of the index. Ambition, self respect, leadership.
Gò Thổ TinhThổ TinhSaturnMount of SaturnDưới ngón giữa. Trầm tĩnh, trách nhiệm, sự nghiêm cẩn.Below the middle finger. Seriousness, duty, discipline.
Gò Thái DươngThái DươngApolloMount of ApolloDưới ngón áp út. Tài hoa, cái đẹp, danh tiếng.Below the ring finger. Talent, beauty, reputation.
Gò Thủy TinhThủy TinhMercuryMount of MercuryDưới ngón út. Ăn nói, buôn bán, sự lanh lợi.Below the little finger. Speech, trade, quick wit.
Gò Kim TinhKim TinhVenusMount of VenusGốc ngón cái. Sức sống, tình thương, lòng ham sống.Base of the thumb. Vitality, warmth, love of life.
Gò Thái ÂmThái ÂmMoonMount of the MoonPhần dưới mép ngoài bàn tay. Trí tưởng tượng, cảm xúc, trực giác.Lower outer edge of the hand. Imagination, feeling, intuition.
Gò Hỏa Tinh trênHỏa Tinh trênUpper MarsUpper MarsMép ngoài, giữa Thái Âm và Thủy Tinh. Sức chịu đựng, lòng kiên nhẫn.Outer edge between Moon and Mercury. Endurance, patience.
Gò Hỏa Tinh dướiHỏa Tinh dướiLower MarsLower MarsDưới Mộc Tinh, trên Kim Tinh. Dũng khí, tinh thần dám làm.Below Jupiter, above Venus. Courage, drive to act.
Đồng bằng Hỏa TinhMinh ĐườngPlain of MarsPlain of MarsGiữa lòng bàn tay, sách Trung Hoa gọi là Minh Đường. Lòng tay rộng, hơi trũng là tốt.Centre of the palm, the Bright Hall of Chinese texts. A broad, slightly hollow centre is favourable.

Bốn gò gốc ngónThe four finger mounts

Bốn gò nằm ngay trên đường tâm đạo, mỗi gò dưới một ngón: Thủy Tinh dưới ngón út, Thái Dương dưới ngón áp út, Thổ Tinh dưới ngón giữa, Mộc Tinh dưới ngón trỏ. Gò và ngón đi cùng tên: Benham gọi ngón giữa là ngón Thổ Tinh và coi ngón ấy như bánh xe cân bằng của tính nết.

The four mounts sit just above the heart line, one below each finger: Mercury below the little finger, Apollo below the ring finger, Saturn below the middle finger, Jupiter below the index. Mount and finger share a name: Benham calls the middle finger the finger of Saturn and treats it as the balance wheel of character.

Ngón útLittleNgón áp útRingNgón giữaMiddleNgón trỏIndexGò Thủy TinhMercuryăn nói, buôn bánspeech, tradeGò Thái DươngApollotài hoa, danh tiếngtalent, reputationGò Thổ TinhSaturntrầm tĩnh, trách nhiệmseriousness, dutyGò Mộc TinhJupiterchí hướng, dẫn dắtambition, leadershipTam giác nhỏ: tâm gò theo Benham. Lòng bàn tay phải phóng to, ngón út bên tráiSmall triangles: mount centres after Benham. Right palm enlarged, little finger on the left
Hình 3. Bốn gò gốc ngón phóng to trên lòng bàn tay phải. Nét kem vắt ngang là đường tâm đạo in sẵn trên tranh. Tam giác nhỏ là tâm gò theo cách tìm của Benham, bàn ở mục cách nhìn một gò.Figure 3. The four finger mounts enlarged on a right palm. The cream line across is the heart line printed on the drawing. The small triangles are the mount centres found Benham's way, explained under how to judge a mount.

Cheiro tả gò Mộc Tinh ở gốc ngón trỏ: gò lớn cho thấy ý muốn dẫn dắt, sắp xếp, đứng ra điều khiển. Ông cũng dặn gò lớn mà những nét khác trong tay kém thì dễ thành tự cao (lời gốc nặng hơn, ở đây đã làm nhẹ). Trang tổng ghi gò này là chí hướng, lòng tự tôn, khả năng dẫn dắt.

Cheiro places the Mount of Jupiter at the base of the index: a large one shows a wish to lead, organise and direct. He warns that a large mount with poor signs elsewhere in the hand tends toward pride (his wording is harsher, softened here). The hub reads this mount as ambition, self respect and leadership.

Gò Thổ Tinh thì khác. Benham viết gò Thổ Tinh nổi cao là chuyện hiếm, phần lớn bàn tay chỗ ấy lại hơi lõm, và theo ông kiểu Thổ Tinh chỉ nên có vừa phải mới lộ mặt tốt. Nên dưới ngón giữa phẳng hay hơi lõm là điều thường gặp nhất, không có gì phải lo.

Saturn is different. Benham writes that a highly developed Mount of Saturn is rare, that most hands show a slight depression there instead, and that the Saturnian type should be only slightly developed to show its better side. A flat or slightly hollow place under the middle finger is the most common sight and nothing to worry about.

Mép ngón út và phía ngón cáiThe little finger edge and the thumb side

Dọc mép bàn tay phía ngón út, từ trên xuống, là gò Thủy Tinh, gò Hỏa Tinh trên, rồi gò Thái Âm sát cổ tay. Cheiro đặt gò Thái Âm ở chân bàn tay, dưới chỗ đường trí tuệ dừng, và cho gò này ứng với trí tưởng tượng, tâm hồn nghệ sĩ, tính lãng mạn, ưa đổi cảnh, ưa đi xa. Phía ngón cái là gò Hỏa Tinh dưới, ngay dưới gò Mộc Tinh, rồi gò Kim Tinh, phần gốc ngón cái nằm trong vòng đường sinh đạo. Cheiro tả gò Kim Tinh cân đối, không quá lớn là lòng muốn thương yêu, muốn có bạn, muốn làm vui lòng người, yêu cái đẹp.

Down the little finger edge, from the top, lie Mercury, Upper Mars, then the Moon near the wrist. Cheiro places the Moon at the base of the hand under the end of the head line and ties it to imagination, the artistic temperament, romance, a love of change and travel. On the thumb side lies Lower Mars just below Jupiter, then Venus, the base of the thumb inside the life line. Cheiro describes a well formed Venus, not too large, as a desire for love and companionship, a wish to please and a worship of beauty.

476Mép ngón útLittle finger edge4Gò Thủy TinhMount of Mercuryăn nói, buôn bánspeech, trade7Gò Hỏa Tinh trênUpper Marschịu đựng, kiên nhẫnendurance, patience6Gò Thái ÂmMount of the Moontưởng tượng, trực giácimagination, intuition85Phía ngón cáiThumb side8Gò Hỏa Tinh dướiLower Marsdũng khí, dám làmcourage, drive5Gò Kim TinhMount of Venussức sống, tình thươngvitality, warmthĐường sinh đạo ôm quanh gò Kim TinhThe life line curves round the Venus mountCả hai khung là lòng bàn tay phải, ngón cái bên phảiBoth panels show the right palm, thumb on the right
Hình 4. Hai cụm gò phóng to trên lòng bàn tay phải. Bên trái mép ngón út với ba gò Thủy Tinh, Hỏa Tinh trên, Thái Âm. Bên phải phía ngón cái với gò Hỏa Tinh dưới và gò Kim Tinh.Figure 4. Two groups of mounts enlarged on a right palm. Left, the little finger edge with Mercury, Upper Mars and the Moon. Right, the thumb side with Lower Mars and Venus.

Hai gò Hỏa Tinh hay làm người mới học lẫn. Cheiro gọi là hai vị trí của gò Hỏa Tinh: một ngay dưới đầu đường sinh đạo, một đối diện ở mép bên kia, giữa đường tâm đạo và đường trí đạo. Theo ông gò thứ nhất ứng với thể chất, gò thứ hai ứng với tinh thần. Benham gọi gò ở mép ngón út là Hỏa Tinh trên, chủ về sức chống chịu, gò phía ngón cái là Hỏa Tinh dưới, chủ về tinh thần xông tới. Trang tổng dùng tên của Benham: Hỏa Tinh trên là sức chịu đựng, lòng kiên nhẫn, Hỏa Tinh dưới là dũng khí, tinh thần dám làm.

The two Mars mounts often confuse beginners. Cheiro speaks of two positions of Mars: one just under the start of the life line, the other opposite, on the far edge between the heart and head lines. The first, he says, relates to the physical and the second to the mental. Benham calls the one on the little finger edge Upper Mars, showing resistance, and the one on the thumb side Lower Mars, showing an aggressive spirit. The hub follows Benham: Upper Mars is endurance and patience, Lower Mars courage and the drive to act.

Chữ trên, dưới là tên gọi, không phải độ cao trên hình. Trên bản đồ ở Hình 1, gò Hỏa Tinh trên lại nằm thấp hơn gò Hỏa Tinh dưới một chút. Cứ nhớ: Hỏa Tinh trên ở mép ngón út, Hỏa Tinh dưới ở phía ngón cái.

Upper and lower are names, not heights on the drawing. On the map in Figure 1, Upper Mars actually sits a little lower than Lower Mars. Just remember: Upper Mars on the little finger edge, Lower Mars on the thumb side.

Minh Đường giữa lòng bàn tayThe Bright Hall in the centre

Giữa lòng bàn tay là một khoảng không thuộc gò nào. Sách phương Tây gọi là đồng bằng Hỏa Tinh, và Benham gộp hai gò Hỏa Tinh với đồng bằng ở giữa thành một kiểu người Hỏa Tinh. Sách Trung Hoa gọi chỗ ấy là Minh Đường. Trong cửu cung bàn tay theo Hậu Thiên Bát Quái, Minh Đường là trung cung, tám cung kia bao quanh.

The centre of the palm belongs to no mount. Western books call it the Plain of Mars, and Benham groups the two Mars mounts and the plain into one Martian type. Chinese texts call the place the Bright Hall (Minh Đường). In the nine palm palaces laid out by the Later Heaven trigrams, the Bright Hall is the centre palace, with the other eight around it.

789Minh ĐườngThe Bright Halltrung cung của cửu cung bàn taythe centre of the nine palm palacesĐồng bằng Hỏa TinhPlain of Marstên theo sách phương Tâyits name in Western booksSáng, rộng, hơi trũng là tốtBright, broad, slightly hollowtheo dữ liệu cửu cung trang tổngis favourable, per the hub dataKiểu Hỏa Tinh theo BenhamThe Mars type after Benham7 Hỏa Tinh trên: sức chống chịu7 Upper Mars: resistance8 Hỏa Tinh dưới: tính xông tới8 Lower Mars: aggressive spirit9 Đồng bằng ở giữa lòng tay9 The plain in the centreÔ viền nét đứt: tám cung còn lạiDashed boxes: the other eight palacesLòng bàn tay phải, ngón cái bên phảiRight palm, thumb on the right
Hình 5. Minh Đường trên lòng bàn tay phải: ô tô đỏ là trung cung, tám ô nét đứt là tám cung còn lại, nét đứt đỏ nối Minh Đường với hai gò Hỏa Tinh.Figure 5. The Bright Hall on a right palm: the red box is the centre palace, the eight dashed boxes the other palaces, dashed red lines join it to the two Mars mounts.

Dữ liệu cửu cung của trang tổng ghi Minh Đường: trung cung, lòng bàn tay. Sáng, rộng, hơi trũng là tốt. Ở phần gò, trang tổng ghi đồng bằng Hỏa Tinh là giữa lòng bàn tay, lòng tay rộng, hơi trũng là tốt. Muốn xem đủ tám cung quanh Minh Đường, mời đọc bài cửu cung bàn tay.

The hub's palace data describes the Bright Hall as: the centre palace. Bright, broad and slightly hollow is favourable. Among the mounts, the hub notes that a broad, slightly hollow centre is favourable. For the eight palaces around it, see the nine palaces of the palm.

Sách phương Tây cũ nhìn lòng tay trũng khác hẳn. Benham chép lại một quy tắc cổ nói lòng tay trũng là dấu kém may trong việc làm ăn, và giải thích người xưa nghĩ vậy vì cho lòng tay trũng là thiếu tính xông xáo. Câu gốc rất nặng lời, ở đây đã làm nhẹ, và bài không dùng câu ấy để phán. Benham còn ghi các vạch cắt, ngôi sao, chữ thập, lưới giữa đồng bằng Hỏa Tinh làm tính khí dễ bốc hơn.

Old Western books see a hollow palm very differently. Benham repeats an ancient rule that a hollow palm is an unlucky sign in one's affairs, and explains that the ancients read it as a lack of aggression. The original wording is very harsh, it is softened here, and this piece does not use it to pass judgement. Benham also notes that cross lines, stars, crosses or grilles in the Plain of Mars make the temper flare more easily.

Thầy đặt hai lối cạnh nhauThe Master sets the two side by side

Phương Đông ưa lòng tay rộng và hơi trũng, sách phương Tây cũ ngại lòng tay trũng. Không nguồn nào viết gộp hai câu, Thầy đặt cạnh để tham khảo: hai câu không nói về cùng một mức, nên khi chấm ảnh Thầy ghi độ trũng thành ba mức rồi mới luận.

The East favours a broad, slightly hollow palm, old Western books distrust a hollow palm. No source joins the two, the Master sets them side by side for reference: they do not speak of the same degree, so when marking photos he records the hollow in three degrees before reading it.

Cách nhìn một gòHow to judge a mount

Benham dặn trước hết phải thuộc vị trí và ranh giới từng gò, mới biết một gò nằm đúng chỗ hay bị kéo lệch về một bên bởi gò khác mạnh hơn. Việc đầu tiên khi cầm một bàn tay là tìm gò mạnh nhất, vì theo ông gò ấy cho thấy những nét dẫn đầu của người ấy. Gộp lời Benham lại, một gò được nhìn theo năm điều:

Benham insists on knowing each mount's exact position and boundaries first, so as to tell whether a mount is in its place or pulled to one side by a stronger neighbour. The first task with any hand is to find the strongest mount, since, he says, it shows the leading qualities of the person. Gathering his advice, a mount is judged on five points:

  1. Cao hay thấp: nổi thành đồi nhỏ, phẳng, hay lõm.
  2. Chắc hay mềm, hồng hay nhợt.
  3. Tâm gò nằm đâu, có bị kéo về gò bên cạnh không.
  4. Trên gò có vạch, dấu gì.
  5. Gò nào mạnh nhất, rồi so với tay bên kia.
  1. Height: a little hill, flat, or a hollow.
  2. Firm or soft, pink or pale.
  3. Where the centre lies, and whether it leans toward a neighbour.
  4. What lines and marks sit on it.
  5. Which mount is strongest, then compare with the other hand.

Đầy, phẳng, lõmFull, flat, hollow

Benham chia ba mức: có bàn tay gò nổi thành đồi nhỏ, có bàn tay phẳng hẳn, có chỗ lại lõm xuống. Theo ông gò nổi rõ là gò mạnh, gò phẳng là bình thường, còn chỗ lõm cho thấy nét của gò ấy ít hiện ra. Cheiro nhận xét thêm: người có các gò nổi rõ thường sống theo cảm xúc nhiều hơn người lòng tay phẳng, gò không nổi.

Benham sees three degrees: in some hands the mounts form little hills, in others they are perfectly flat, and in some places there are actual hollows. Prominent mounts are strong, flat ones ordinary, and hollows show that the mount's qualities are little in evidence. Cheiro adds that people with prominent mounts are more swayed by feeling than those with flat palms and undeveloped mounts.

Gò nổi thành đồiLike a little hillBenham: gò mạnhBenham: a strong mountGò phẳngA flat mountBenham: bình thườngBenham: ordinaryGò lõm xuốngA hollowBenham: nét của gò ít hiệnBenham: its qualities show lessdaskincơ, mỡmuscle, fatlớp sâudeep layersMặt cắt ngang một gò, sơ đồ không theo tỷ lệCross section of a mount, a diagram not to scale
Hình 6. Mặt cắt ngang một gò ở ba mức. Nét đen là da, mảng nhạt là cơ và mỡ, dải sẫm là các lớp sâu. Đây là sơ đồ, không theo tỷ lệ.Figure 6. Cross sections of a mount at three degrees. The black line is skin, the pale fill muscle and fat, the dark band the deep layers. A diagram, not to scale.

Độ cao chưa đủ. Benham viết gò chắc và hồng là gò mạnh, còn gò nhão và nhợt thì dù cao vẫn là gò yếu, thiếu sức. Ông cũng nhận thấy ở bàn tay da mịn, có gò hồng có gò trắng. Nên phải thấy độ chắc và màu da trên gò, nhìn độ cao không thôi chưa đủ.

Height is not enough. Benham writes that hard consistency and red colour show a strong mount, while flabbiness and whiteness show weakness even when the mount is prominent. In fine skinned hands he finds some mounts pink and others white. Firmness and colour must be seen too, height alone is not enough.

Tâm gò và gò lệchThe centre of a mount, and leaning

Benham chỉ một cách tìm tâm gò rất cụ thể. Trên da, các đường vân nhỏ chạy tụ lại thành một tam giác bé, và tâm tam giác ấy là tâm đúng của gò, dù chỗ đó không phải chỗ thịt cao nhất. Da thô nhìn bằng mắt thường được, da mịn phải dùng kính lúp. Nếu tâm ấy bị kéo về phía gò bên cạnh, gò bên cạnh là gò mạnh hơn và lấy bớt phần của gò này. Ngón tay cũng vậy: ngón nghiêng về gò nào thì cho gò ấy thêm sức.

Benham gives a precise way to find the centre. On the skin, the fine ridges run together into a small triangle, and the centre of that triangle is the exact centre of the mount, even if it is not the fleshiest spot. Coarse skin shows it to the naked eye, fine skin needs a magnifying glass. If this apex is pulled toward a neighbouring mount, the neighbour is the stronger and takes over part of the mount's type. Fingers work the same way: a finger leaning toward a mount gives that mount some of its strength.

Khoa vân da ngày nay gọi chỗ ba luồng vân rẽ ba ngả là tam giác điểm. Ở vùng gốc ngón, Maceo và cộng sự (2013) ghi có bốn vị trí tam giác điểm nằm ở hoặc gần gốc mỗi ngón trỏ, giữa, áp út, út. Thầy đặt cạnh để tham khảo: tâm gò Benham tả rất gần với bốn tam giác điểm ấy, tức là một mốc tìm được trên ảnh chụp rõ, không phải ước lượng bằng mắt. Bài sinh trắc vân tay là gì có hình bốn tam giác điểm a, b, c, d.

Modern dermatoglyphics calls the point where three ridge flows part a delta, or triradius. In the finger base region, Maceo and colleagues (2013) record four delta positions at or near the base of the index, middle, ring and little fingers. The Master sets them side by side for reference: Benham's mount centre lies very close to these four deltas, a point one can locate on a sharp photo rather than guess by eye. The article what is fingerprint biometrics shows the four deltas a, b, c, d.

Ngón giữaMiddleNgón trỏIndexThổ TinhSaturnMộc TinhJupiterTâm gò nằm giữaCentre in its placedưới đúng ngón trỏright below the indexNgón giữaMiddleNgón trỏIndexThổ TinhSaturnMộc TinhJupiterTâm gò lệch sang bênCentre pulled asidegò Thổ Tinh mạnh hơn, lấy bớt phầnSaturn is stronger, takes a shareSơ đồ theo mô tả của Benham, trên lòng bàn tay phải: ngón trỏ bên phảiDiagram after Benham, on a right palm: the index on the right
Hình 7. Tâm gò Mộc Tinh theo tam giác vân. Bên trái tâm nằm ngay dưới ngón trỏ. Bên phải tâm bị kéo về phía gò Thổ Tinh: theo Benham, gò Thổ Tinh là gò mạnh hơn.Figure 7. The centre of Jupiter by its ridge triangle. Left, right below the index. Right, pulled toward Saturn: by Benham, Saturn is the stronger mount.

Vạch và dấu trên gòLines and marks on a mount

Benham quý một vạch dọc sâu, rõ, không bị vạch ngang cắt trên gò: dù gò phẳng, vạch ấy làm gò gần như ngang với một gò nổi. Ngược lại, gò đầy vạch ngang, chữ thập hay lưới thì theo ông nét của gò kém gọn (lời gốc gọi là khiếm khuyết của kiểu người, ở đây đã làm nhẹ). Ông tóm lại: vạch dọc là vạch tốt, vạch ngang cắt ngang vạch dọc là vạch xấu. Nghĩa từng dấu trên từng gò có trong bài các dấu đặc biệt trên bàn tay.

Benham values a deep, clear vertical line on a mount, uncut by cross lines: even on a flat mount it gives almost the same standing as a high one. A mount grilled, cross lined or marked with crosses, on the other hand, shows its qualities less cleanly (his word is defects of the type, softened here). His summary: vertical lines are good, horizontal lines cutting them are bad. Each mark on each mount is covered in the special marks of the hand.

Một vạch dọc rõOne clear upright lineBenham: thêm sức cho gòBenham: adds to the mountVạch ngang cắt quaCross bars cutting itBenham: vạch cắt là xấuBenham: cutting bars are badLướiA grillenét của gò kém gọnthe qualities less cleanLời Benham đã làm nhẹ. Nghĩa riêng từng dấu xem bài dấu đặc biệtBenham softened. Each mark in detail: see the special marks article
Hình 8. Ba kiểu vạch trên một gò theo Benham: một vạch dọc rõ, vạch dọc bị vạch ngang cắt, và lưới.Figure 8. Three kinds of lines on a mount after Benham: one clear upright line, an upright line cut by bars, and a grille.

Dưới các gò là gì: giải phẫu thậtWhat lies beneath: the real anatomy

Gò không phải một cơ quan riêng. Gò là chỗ da nằm trên cơ, mỡ, gân và khớp của bàn tay. Đặt tên giải phẫu cạnh tên tướng pháp, lòng bàn tay chia ra bốn vùng.

A mount is not an organ of its own. It is skin lying over the muscle, fat, tendon and joints of the hand. Setting anatomical names beside the palmistry names, the palm falls into four zones.

Khớp gốc ngón, gân gấpKnuckle joints, flexor tendonscơ giun mảnh bám gân gấpslender lumbricals on the tendonstướng pháp: bốn gò gốc ngónpalmistry: the four finger mountsCân gan tayPalmar aponeurosistấm sợi tam giác, bám chặt daa triangular sheet bound to the skintướng pháp: Minh Đườngpalmistry: the Bright HallÔ mô cáiThenar eminenceba cơ ngón cái, thần kinh giữathree thumb muscles, median nervetướng pháp: gò Kim Tinhpalmistry: the Venus mountÔ mô útHypothenar eminencebốn cơ, thần kinh trụfour muscles, ulnar nervetướng pháp: Thái Âm, Hỏa Tinh trênpalmistry: Moon, Upper MarsSơ đồ vùng trên lòng bàn tay phải, không vẽ từng cơ, theo StatPearls và WikipediaZone diagram on a right palm, muscles not drawn one by one, after StatPearls and Wikipedia
Hình 9. Bốn vùng giải phẫu dưới các gò trên lòng bàn tay phải, dòng vàng đồng là tên tướng pháp tương ứng. Sơ đồ vùng, không vẽ từng cơ.Figure 9. Four anatomical zones under the mounts on a right palm, the bronze line gives the matching palmistry name. A zone diagram, muscles not drawn one by one.
Tên tướng pháp và giải phẫu bên dướiPalmistry names and the anatomy beneath
Tướng phápPalmistryGiải phẫu bên dướiAnatomy beneathTheoSource
Gò Kim TinhMount of VenusÔ mô cái: ba cơ vận động ngón cái là cơ dạng ngón cái ngắn, cơ gấp ngón cái ngắn, cơ đối ngón cái, phần lớn do nhánh quặt ngược của thần kinh giữa chi phốiThenar eminence: three thumb muscles, abductor pollicis brevis, flexor pollicis brevis and opponens pollicis, mostly supplied by the recurrent branch of the median nerveStatPearlsStatPearls
Gò Thái Âm, gò Hỏa Tinh trênMoon, Upper MarsÔ mô út: bốn cơ là cơ dạng ngón út, cơ gấp ngón út ngắn, cơ đối ngón út, cơ gan tay ngắn, toàn bộ do thần kinh trụ chi phốiHypothenar eminence: four muscles, abductor digiti minimi, flexor digiti minimi brevis, opponens digiti minimi and palmaris brevis, all supplied by the ulnar nerveStatPearlsStatPearls
Minh ĐườngThe Bright HallCân gan tay: tấm mô sợi hình tam giác giữa lòng tay, che cung mạch nông, gân cơ gấp và nhánh thần kinh, bám chặt vào da. Sâu hơn nữa là cơ khép ngón cái, lớp cơ sâu nhất của lòng bàn tayPalmar aponeurosis: a triangular fibrous sheet in the centre of the palm, covering the superficial arch, flexor tendons and nerve branches, tightly bound to the skin. Deeper still lies adductor pollicis, the deepest muscle layer of the palmWikipedia, StatPearlsWikipedia, StatPearls
Bốn gò gốc ngónThe four finger mountsKhông có khối cơ lớn như hai ô mô. Bên dưới là bốn dải cân gan tay chạy lên gốc bốn ngón, gân gấp, và bốn cơ giun mảnh mọc từ gân gấp sâu, giúp gập khớp gốc ngónNo large muscle mass like the two eminences. Beneath run four slips of the aponeurosis to the finger bases, the flexor tendons, and four slender lumbricals arising from the deep flexor tendons, which flex the knuckle jointsWikipedia, StatPearlsWikipedia, StatPearls

Đặt hai tên cạnh nhau cho thấy vì sao gò Kim Tinh và gò Thái Âm là hai gò đầy nhất ở phần lớn bàn tay: bên dưới là hai khối cơ thật. Cũng vì da giữa lòng tay bám chặt vào cân gan tay, còn hai bên là hai khối cơ, nên giữa lòng bàn tay thường là chỗ thấp nằm giữa hai khối nổi. Đó là dáng giải phẫu, trùng với chỗ tướng pháp gọi là Minh Đường.

Setting the names side by side shows why Venus and the Moon are the fullest mounts on most hands: real muscle masses lie beneath them. And because the skin of the central palm is bound to the aponeurosis while muscle rises on either side, the centre is usually a low place between two rises. That is anatomy, and it coincides with the place palmistry calls the Bright Hall.

Đệm gan tay trong bụng mẹThe volar pads before birth

Trong bụng mẹ, lòng bàn tay có những đệm thật. Chương 3 của sách The Fingerprint Sourcebook (Kasey Wertheim viết) ghi mỗi bàn tay thường có mười một đệm gan tay, một đệm ở mỗi ngón và sáu đệm trên lòng bàn tay. Đệm gian ngón hiện ra trước, khoảng tuần thứ sáu, liền sau là đệm ô mô cái và ô mô út. Đệm lòng bàn tay có thể bắt đầu lặn từ tuần mười một, và tới tuần mười sáu thì đã hòa hết vào dáng bàn tay. Dáng đệm lúc ấy ảnh hưởng tới dạng vân: đệm cân đối cho vân xoáy hay vân cung, đệm lệch cho vân móc.

Before birth the palm carries real pads. Chapter 3 of The Fingerprint Sourcebook (by Kasey Wertheim) notes that eleven volar pads normally form on each hand, one on each digit and six on the palm. The interdigital pads appear first, around week six, closely followed by the thenar and hypothenar pads. The palm pads may begin to regress from week eleven, and by week sixteen they have merged into the contours of the hand. Pad shape at that time shapes the ridges: symmetrical pads give whorls or arches, leaning pads give loops.

446688101012121414161618182020tuần thai kỳweeks of pregnancyTuần 6Week 6đệm gian ngón hiện ra,interdigital pads appear,liền sau là ô mô cái, ô mô útthen thenar, hypothenar padsTuần 11Week 11đệm lòng bàn taypalm pads maybắt đầu lặnbegin to regressTuần 16Week 16đệm đã hòa hếtpads have mergedvào dáng bàn tayinto the handMỗi bàn tay thường có 11 đệm: 5 ở đầu ngón, 6 trên lòng bàn tay. Đường cao thấp là sơ đồEach hand usually has 11 pads: 5 on the digits, 6 on the palm. The curve is schematic
Hình 10. Đệm gan tay thai nhi hiện ra khoảng tuần 6 và hòa vào dáng bàn tay trước tuần 16, theo The Fingerprint Sourcebook. Đường cao thấp là sơ đồ, không phải số đo.Figure 10. Fetal volar pads appear around week 6 and merge into the hand by week 16, after The Fingerprint Sourcebook. The curve is schematic, not a measurement.

Thầy đặt cạnh để tham khảo: chỗ của các đệm gian ngón, đệm ô mô cái, đệm ô mô út nằm gần các gò sách tướng đặt tên. Đó là trùng về chỗ, không phải bằng chứng cho nghĩa tướng pháp của gò.

The Master notes for reference that the interdigital, thenar and hypothenar pads sit near the mounts that palmistry names. That is a match of place, not evidence for the meanings palmistry gives the mounts.

Gò là mô mềm, đổi theo cách dùng tayMounts are soft tissue and change with use

Vì gò là cơ, mỡ và da, gò đổi theo cách mình sống. Một nghiên cứu năm 2021 trên tạp chí Academic Radiology của Pedrianes-Martin và cộng sự đo bằng siêu âm thấy bề dày khối cơ ô mô cái ở tay không thuận đi cùng lực nắm tay và khối nạc của cả cơ thể, hệ số tương quan với lực tay khoảng 0,72. Tức là gò Kim Tinh đầy hay mỏng phần nhiều nói lên khối cơ của người ấy lúc được đo.

Because mounts are muscle, fat and skin, they follow how one lives. A 2021 study in Academic Radiology by Pedrianes-Martin and colleagues measured by ultrasound that the size of the thenar muscles of the non dominant hand tracks grip strength and whole body lean mass, with a correlation of about 0.72 with hand strength. A full or thin Venus mount largely reflects a person's muscle mass at the time.

Cơ teo đi khi ít dùng, vận động giúp làm chậm hay lấy lại. Tuổi tác làm khối cơ giảm dần, và tập luyện làm chậm quá trình ấy. Da trên gò dày lên thành chai ở người làm việc tay chân, người tập xà, cử tạ, và chai có thể tự lặn khi thôi cọ xát.

Muscle wastes with disuse, and activity slows or reverses it. Age slowly reduces muscle mass, and exercise slows that too. Skin on the mounts thickens into calluses in manual workers, gymnasts and weightlifters, and calluses can fade once the friction stops.

Khi một gò xẹp đi nhanh bất thườngWhen a mount shrinks unusually fast

StatPearls ghi hội chứng ống cổ tay có thể làm teo cơ ô mô cái, và khi thần kinh trụ bị tổn thương thì cơ ô mô út teo theo. Gò Kim Tinh hay gò Thái Âm tự nhiên xẹp đi ở một tay, nhất là kèm tê hay yếu tay, là việc của bác sĩ, không phải việc của tướng pháp. Tướng pháp không thay cho khám bệnh.

StatPearls notes that carpal tunnel syndrome can waste the thenar muscles, and that damage to the ulnar nerve wastes the hypothenar muscles. A Venus or Moon mount that shrinks on one hand, especially with numbness or weakness, is a matter for a doctor, not for palmistry. Palm reading never replaces a medical check.

So gò ở hai tayComparing the mounts on both hands

Tay trái là ảnh soi gương của tay phải: ngón cái ở bên trái, nên gò Kim Tinh nằm bên trái, gò Thái Âm nằm bên phải. Vì gò đổi theo cách dùng tay, khi so hai tay phải ghi rõ người ấy thuận tay nào. Một gò đầy ở tay thuận mà vừa phải ở tay kia có khi chỉ là dấu của việc làm hằng ngày.

The left hand mirrors the right: the thumb is on the left, so Venus lies on the left and the Moon on the right. Since mounts change with use, always note the working hand when comparing. A mount fuller on the working hand than on the other may simply record daily work.

Tay tráiLeft handTay phảiRight handsoi gương, ngón cái bên tráimirrored, thumb on the leftngón cái bên phảithumb on the rightgò Kim Tinh vừaa moderate Venus mountgò Kim Tinh đầy hơna fuller Venus mountHình ví dụ, người thuận tay phải. Gò đổi theo cách dùng tay, nên ghi rõ tay nào thuậnAn example, a right handed person. Mounts follow use, so always note the working hand
Hình 11. So hai tay của một người thuận tay phải. Tay trái vẽ soi gương, ngón cái bên trái. Gò Kim Tinh tô xám bạc, gò Thái Âm tô màu nhạt.Figure 11. Both hands of a right handed person. The left hand is drawn mirrored, thumb on the left. Venus in silver grey, the Moon in a pale tone.

Thầy Ưng Khiêm đọc các gò thế nàoHow Master Ung Khiem reads the mounts

Trong cuốn luận, phần gò chia hai tầng rõ ràng. Tầng đo ghi những gì thấy được trên ảnh. Tầng luận đặt những điều ấy cạnh dáng tay, đường chỉ, vân tay và tướng mặt.

In the book, the mounts are handled in two clear layers. The measuring layer records what the photos show. The reading layer sets that beside the hand shape, the lines, the fingerprints and the face.

Phần đoMeasuringĐặt cạnhSet besidePhần luậnReadingCao, phẳng, lõmHigh, flat, hollowChắc hay mềmFirm or softTâm gò, gò lệchCentre, leaningVạch, dấu trên gòLines, marksGò trội nhấtStrongest mountSo hai tayBoth handsDáng tay ngũ hànhFive element shapeĐường chỉThe linesVân tayFingerprintsTướng mặtThe facenét trội,leading traits,sở trườngstrengthskhông phánno verdictsố phậnon fateĐo xong mới luận, luận thì luôn đặt cạnh các phép khácMeasure first, then read, always beside the other methods
Hình 12. Phần đo và phần luận khi Thầy đọc các gò.Figure 12. Measuring and reading when the Master reads the mounts.
Đọc để hiểu mình, không để sợRead to understand, not to fear

Thầy chấm gò ở cả hai tay: gò nào nổi, gò nào phẳng, tâm gò có lệch không, trên gò có vạch gì. Gò là mô mềm, đổi theo năm tháng và cách dùng tay, nên Thầy đọc gò như dáng hiện tại của một người, không như dấu định sẵn.

The Master marks the mounts on both hands: which rise, which are flat, whether a centre leans, what lines sit on them. Mounts are soft tissue that change with the years and with use, so he reads them as a person's present shape, not as a fixed sign.

Không gò nào được luận riêng. Mỗi gò được đọc cùng dáng tay, cùng tay bên kia, cùng vân tay và tướng mặt. Nghĩa tướng pháp của gò để tham khảo và tự hiểu mình, không thay cho khám bệnh hay lời khuyên chuyên môn.

No mount is read alone. Each is read with the hand shape, the other hand, the fingerprints and the face. The palmistry meanings are for reflection and self understanding, never a substitute for a medical check or professional advice.

Để Thầy đọc các gò trên hai bàn tay của quý vịLet the Master read the mounts on both your hands

Chụp hai lòng bàn tay bằng điện thoại dưới ánh sáng xiên để gò hiện rõ, xem trước miễn phí ngay trên trang. Cuốn luận Sinh Trắc Tam Tướng đọc các gò cùng đường chỉ, vân tay và tướng mặt, do chính Thầy Ưng Khiêm chấm ảnh và soạn tay.

Photograph both palms with your phone in side light so the mounts show, and preview for free on the page. The Three Readings book reads the mounts together with your lines, fingerprints and face, marked and written by Master Ung Khiem himself.

Hỏi đápQuestions

Bàn tay có mấy gò?How many mounts does a hand have?

Sơ đồ của trang tổng vẽ tám gò và Minh Đường: bốn gò gốc ngón, gò Kim Tinh, gò Thái Âm, hai gò Hỏa Tinh, cộng đồng bằng Hỏa Tinh ở giữa. Sách phương Tây cũ đếm bảy gò theo bảy hành tinh, vì gộp hai gò Hỏa Tinh làm một.

The hub map shows eight mounts and the Bright Hall: four finger mounts, Venus, the Moon, two Mars mounts, and the Plain of Mars in the centre. Older Western books count seven, after seven planets, treating Mars as one.

Gò Kim Tinh nằm ở đâu?Where is the Mount of Venus?

Ở gốc ngón cái, trong vòng đường sinh đạo. Bên dưới là ô mô cái, khối ba cơ vận động ngón cái. Trang tổng ghi nghĩa tướng pháp là sức sống, tình thương, lòng ham sống.

At the base of the thumb, inside the life line. Beneath it is the thenar eminence, three muscles that move the thumb. The hub reads it as vitality, warmth and love of life.

Vì sao gò Hỏa Tinh trên lại nằm thấp hơn gò Hỏa Tinh dưới?Why does Upper Mars sit lower than Lower Mars?

Vì trên, dưới là tên gọi theo sách phương Tây, không phải độ cao. Hỏa Tinh trên ở mép ngón út, giữa gò Thủy Tinh và gò Thái Âm. Hỏa Tinh dưới ở phía ngón cái, dưới gò Mộc Tinh, trên gò Kim Tinh.

Because upper and lower are names from Western books, not heights. Upper Mars is on the little finger edge between Mercury and the Moon. Lower Mars is on the thumb side, below Jupiter and above Venus.

Gò phẳng có phải là xấu không?Is a flat mount bad?

Không. Benham xem gò phẳng là bình thường, và chính ông viết phần lớn bàn tay chỗ gò Thổ Tinh lại hơi lõm. Một vạch dọc rõ trên gò phẳng còn làm gò gần ngang với gò nổi.

No. Benham treats a flat mount as ordinary, and writes that most hands show a slight hollow where Saturn would be. A clear vertical line on a flat mount even raises it almost to the level of a high one.

Minh Đường trên bàn tay là gì?What is the Bright Hall on the palm?

Là khoảng giữa lòng bàn tay, trung cung của cửu cung bàn tay, sách phương Tây gọi là đồng bằng Hỏa Tinh. Dữ liệu trang tổng ghi Minh Đường sáng, rộng, hơi trũng là tốt.

It is the centre of the palm, the middle of the nine palm palaces, called the Plain of Mars in Western books. The hub data reads a bright, broad, slightly hollow centre as favourable.

Các gò bàn tay có thay đổi theo thời gian không?Do the mounts change over time?

Có. Gò là cơ, mỡ và da, nên đổi theo tập luyện, nghề nghiệp và tuổi tác. Nếu một gò xẹp nhanh ở một tay, nhất là kèm tê hay yếu tay, nên đi khám bác sĩ.

Yes. Mounts are muscle, fat and skin, so they change with exercise, work and age. If a mount shrinks quickly on one hand, especially with numbness or weakness, see a doctor.

Đọc tiếpRead next

NguồnSources

  1. Benham W. G. The Laws of Scientific Hand Reading. New York, G. P. Putnam's Sons, in lần đầu tháng 12 năm 1900, bản số hóa: archive.org
  2. Benham, chương XVIII, Mounts and Fingers: bảy gò nằm đâu, gò bị kéo lệch, ba mức cao phẳng lõm, chắc hồng và nhão nhợt, tìm gò mạnh nhất, vạch dọc và lưới: chestofbooks.com
  3. Benham, Mounts and Fingers phần 2: ngón nghiêng về gò nào thì cho gò ấy thêm sức: chestofbooks.com
  4. Benham, Mounts and Fingers phần 3: tam giác vân là tâm gò, tâm bị kéo lệch, vạch dọc tốt, vạch ngang xấu: chestofbooks.com
  5. Benham, chương XX, The Mount of Saturn: gò Thổ Tinh cao là hiếm, ngón Thổ Tinh là bánh xe cân bằng: chestofbooks.com
  6. Benham, chương XXIII, The Mount of Mars: hai gò Hỏa Tinh, đồng bằng Hỏa Tinh, quy tắc cổ về lòng tay trũng: chestofbooks.com
  7. Cheiro. Palmistry for All, 1916, chương V, The Mounts of the Hand: tên bảy hành tinh, gò nổi và lòng tay phẳng: chestofbooks.com
  8. Cheiro, chương VI, The Mount of Mars: hai vị trí, thể chất và tinh thần: chestofbooks.com
  9. Cheiro, chương VII, The Mount of Jupiter: chestofbooks.com
  10. Cheiro, chương XI, The Mount of the Moon: chestofbooks.com
  11. Cheiro, chương XII, The Mount of Venus: chestofbooks.com
  12. Cheiro. Palmistry for All, bản điện tử Project Gutenberg: gutenberg.org
  13. Cheiro: tên thật William John Warner, người Ireland, 1866 tới 1936: en.wikipedia.org
  14. Wuxing (Chinese philosophy): năm hành ứng với năm hành tinh cổ điển: en.wikipedia.org
  15. Luxenburg D., Rizzo M. G. Anatomy, Shoulder and Upper Limb, Hand Thenar Eminence. StatPearls, cập nhật 2023: ncbi.nlm.nih.gov
  16. Nguyen J. D., Black A. C., Duong H. Anatomy, Shoulder and Upper Limb, Hand Hypothenar Eminence. StatPearls, cập nhật 2023: ncbi.nlm.nih.gov
  17. Launico M. V., Varacallo M. A. Anatomy, Shoulder and Upper Limb, Hand Intrinsic Muscles. StatPearls, cập nhật 2025: ncbi.nlm.nih.gov
  18. Acosta J. R., Graefe S. B., Varacallo M. A. Anatomy, Shoulder and Upper Limb, Hand Adductor Pollicis. StatPearls, cập nhật 2023: ncbi.nlm.nih.gov
  19. Palmar aponeurosis: en.wikipedia.org
  20. Wertheim K. Embryology and Morphology of Friction Ridge Skin. The Fingerprint Sourcebook, chương 3: ojp.gov
  21. Maceo A., Carter M., Stromback B. Palm Prints. Encyclopedia of Forensic Sciences, tái bản lần 2, 2013: evolveforensics.com
  22. Pedrianes-Martin P. B. và cộng sự. Ultrasonographic Size of the Thenar Muscles of the Nondominant Hand Correlates with Total Body Lean Mass in Healthy Subjects. Academic Radiology 28(4), 2021: sciencedirect.com
  23. Muscle atrophy: teo cơ khi ít dùng, vận động và tuổi tác: en.wikipedia.org
  24. Callus: chai tay do cọ xát lặp lại: en.wikipedia.org

Vị trí và nghĩa tướng pháp của tám gò, Minh Đường theo dữ liệu sơ đồ bàn tay trên trang tổng Sinh Trắc Tam Tướng, dẫn để tham khảo. Lời Cheiro và Benham dịch ý, chỗ nặng lời đã làm nhẹ và ghi rõ. Giải phẫu theo các nguồn ghi trên. Hình minh họa do UK MASTER ACADEMY vẽ riêng cho bài, bàn tay vẽ theo lòng bàn tay phải nhìn thẳng, tay trái vẽ soi gương. Bài được cập nhật khi có nghiên cứu mới.Mount positions and readings, and the Bright Hall, follow the hand map data of the Sinh Trắc Tam Tướng hub, cited for reference. Cheiro and Benham are paraphrased, harsh wording softened and marked. Anatomy follows the sources above. Illustrations drawn by UK MASTER ACADEMY for this article, the hand drawn as a right palm seen face on, the left hand mirrored. Updated as new research appears.