Viện UK MASTER ACADEMY phát triểnDeveloped by UK MASTER ACADEMY

Vân tay hình cung: nhóm vân hiếm nhất, cung thường và cung lềuArch fingerprints: the rarest group, plain and tented arches

Vân cung là nhóm vân đơn giản nhất mà cũng ít gặp nhất. Bài này đi từ định nghĩa chuẩn pháp y, phép dò hướng vân cho thấy vì sao vân cung không có tam giác điểm, ba kiểu cung lều, phép thử để khỏi nhầm với vân móc, tới tỷ lệ, ngón hay gặp và số vân bằng không.The arch is the simplest pattern group and also the least common. This piece runs from the forensic definitions, through a ridge direction probe that shows why arches have no delta, the three tented arch types and the loop test, to how rare arches are, where they sit and why they count zero.

Thầy Ưng Khiêm soạnBy Master Ung Khiem ĐăngPublished 30/09/2026Đọc khoảng 13 phútAbout 13 minutes
Trả lời ngắnShort answerVân tay hình cung là dạng vân mà các gờ chạy vào từ một mép đầu ngón, gồ lên ở giữa rồi chạy ra mép bên kia, không vân nào quặt ngược lại. Vì thế vân cung không có tâm vân, cung thường không có tam giác điểm, và số vân tính bằng 0. Có hai dạng: cung thường gồ êm như sóng lặng, cung lều dựng nhọn ở giữa. Theo tài liệu FBI, nhóm cung chỉ chiếm khoảng 5% dấu vân tay, ít nhất trong ba nhóm.An arch fingerprint is a pattern whose ridges enter from one side of the fingertip, rise in the middle and leave on the other side, with no ridge turning back. So an arch has no core, a plain arch has no delta, and the ridge count is 0. There are two kinds: the plain arch, a calm wave, and the tented arch, which peaks in the middle. In FBI material arches make up only about 5% of prints, the smallest of the three groups.

Vân tay hình cung là gìWhat an arch fingerprint is

Trong ba nhóm vân của Galton là cung, móc và xoáy, vân cung là nhóm đơn giản nhất và cũng ít gặp nhất. Tài liệu The Science of Fingerprints của FBI định nghĩa cung thường như sau: gờ vân đi vào từ một bên dấu in và chảy, hoặc có xu hướng chảy, ra bên kia, với một chỗ nhô hay gợn sóng ở giữa. Cũng tài liệu ấy gọi cung thường là dạng đơn giản nhất trong mọi dạng vân, và dễ nhận ra.

Of Galton's three groups, arch, loop and whorl, the arch is the simplest and also the least common. The FBI's The Science of Fingerprints defines the plain arch this way: the ridges enter on one side of the impression and flow, or tend to flow, out the other, with a rise or wave in the centre. The same manual calls the plain arch the most simple of all fingerprint patterns, and easily distinguished.

Năm 1892, Francis Galton viết trong cuốn Finger Prints rằng ở vân cung, nói cho đúng thì không có hình vân, vì không có khoảng lõi: các gờ chỉ nở rộng dần đều khi chạy qua bầu đầu ngón. Hướng dẫn phổ thông của Trung tâm Công nghệ Khoa học Pháp y Quốc gia Hoa Kỳ (NFSTC) tả vân cung là dạng gợn sóng, gồm cung thường và cung lều, và ghi cung lều nhô lên thành mũi nhọn hơn cung thường.

In his 1892 book Finger Prints, Francis Galton wrote that in arches there is no pattern strictly speaking, since there is no interspace: the ridges simply broaden out regularly as they cross the bulb of the finger. The US National Forensic Science Technology Center (NFSTC) guide describes arches as a wave like pattern that includes plain and tented arches, and notes that tented arches rise to a sharper point.

Mũi lềuPeakVân dựngUpthrustCó thể cóMay havemột tamone deltagiác điểmGồ nhẹGentle riseCung thườngPlain archCung lềuTented archvân sóng lặng, không tâm, không tam giác điểma calm wave, no core, no deltagiữa dựng lên thành mũi nhọnthe centre stands up in a peakDấu in tay tráiLeft hand print
Hình 1. Cung thường và cung lều phóng to, vẽ theo dấu in tay trái. Cung gần như đối xứng nên dấu in tay phải trông gần y hệt. Tam giác nhỏ trên cung lều là chỗ tam giác điểm có thể xuất hiện.Figure 1. Plain and tented arch enlarged, drawn as left hand prints. Arches are nearly symmetric, so a right hand print looks almost the same. The small triangle on the tented arch marks where a delta may appear.

Bài Các dạng vân tay đã giới thiệu hai dạng cung trong tám dạng. Bài này đi sâu hơn: vì sao vân cung không có tam giác điểm, ba kiểu cung lều theo chuẩn FBI, phép thử để khỏi nhầm cung lều với vân móc, tỷ lệ và ngón hay gặp, và vì sao số vân của nó bằng không.

The article Fingerprint types introduced the two arches among the eight types. This one goes further: why arches have no delta, the FBI's three tented arch types, the test that keeps a tented arch from being called a loop, how rare arches are and where they sit, and why their ridge count is zero.

Vì sao vân cung không có tam giác điểmWhy arches have no delta

FBI định nghĩa tam giác điểm là điểm trên một gờ vân, nằm tại hoặc ngay trước, gần nhất với tâm chỗ hai đường kiểu tách nhau. Đường kiểu là hai gờ trong cùng, lúc đầu chạy song song, rồi tách ra và bao, hoặc có xu hướng bao, lấy vùng hình vân. Vân cung không có vùng hình vân để bao, nên không có chỗ tách ấy. FBI ghi rằng ở nhiều vân cung và cung lều, vùng hình vân không thể xác định được. Sổ tay vân tay của Viện Tư pháp Quốc gia Hoa Kỳ (NIJ), khi bàn một hệ phân loại vân lòng bàn tay, cũng ghi vân cung thường được coi là không có vùng hình vân thật, vì không có tâm vân và tam giác điểm.

The FBI defines the delta as the point on a ridge at or in front of and nearest the centre of the divergence of the type lines. Type lines are the two innermost ridges that start parallel, diverge, and surround or tend to surround the pattern area. An arch has no pattern area to surround, so there is no such divergence. The FBI notes that in many arches and tented arches the pattern area is impossible to define. The US National Institute of Justice (NIJ) sourcebook, discussing a palm classification system, likewise records that an arch was typically considered to lack a true pattern area because there was no core and delta.

Nhìn bằng hướng vân: phép dò một vòngSeen through ridge direction: the loop probe

Có một cách nhìn chính xác hơn, dùng trong phần mềm nhận dạng vân tay. Tại mỗi điểm, vân chạy theo một hướng. Đặt một vòng tròn nhỏ quanh một điểm, đi hết một vòng và cộng xem hướng vân đã xoay bao nhiêu độ. Con số ấy gọi là chỉ số Poincaré. Theo Jin Bo và cộng sự (2008), tâm vân có chỉ số 1/2, tức hướng vân xoay nửa vòng, tam giác điểm có chỉ số âm 1/2, tức xoay nửa vòng theo chiều ngược lại, tâm kép có chỉ số 1, còn các điểm khác không phải điểm kỳ dị.

There is a more exact way to see it, used in fingerprint recognition software. At every point the ridges run in some direction. Draw a small circle round a point, walk once round it and add up how far the ridge direction has turned. That total is the Poincaré index. According to Jin Bo and colleagues (2008), a core has an index of 1/2, the direction turning half a turn, a delta has minus 1/2, half a turn the other way, a double core has 1, and any other point is not a singularity.

0 độ0 degrees0 độ0 degrees0 độ0 degreesxuôi 180 độ180 forwardtâm vâna corengược 180 độ180 backtam giác điểma deltaVân cungArchVân mócLoopVòng dò nào cũng quay 0 độEvery probe turns 0 degreeskhông có điểm kỳ dị nàono singular point anywhereMột chỗ quay ngược nửa vòngOne spot turns half a turn backđó là tam giác điểmthat is the delta
Hình 2. Phép dò một vòng tính bằng máy trên sơ đồ nét. Mỗi vòng nét đứt là một vòng dò, vạch ngắn trên vòng là hướng vân tại chỗ ấy. Vân cung: cả ba vòng dò đều quay 0 độ. Vân móc: vòng quanh tâm vân quay xuôi 180 độ, vòng quanh tam giác điểm quay ngược 180 độ. Vân móc vẽ theo một trường hướng có một tâm và một tam giác điểm.Figure 2. The loop probe, computed on line diagrams. Each dashed circle is a probe, the short marks on it show the local ridge direction. Arch: all three probes turn 0 degrees. Loop: the probe round the core turns 180 degrees forward, the one round the delta 180 degrees back. The loop is drawn from a direction field with one core and one delta.

Trên vân cung, các vân chỉ uốn nhẹ cùng một chiều, không chỗ nào ba luồng vân rẽ ngả, nên vòng dò đặt ở đâu cũng quay 0 độ. Không có điểm quay ngược nửa vòng thì không có tam giác điểm, không có điểm quay xuôi nửa vòng thì không có tâm vân. Đó là lý do hình học khiến vân cung đứng riêng một nhóm.

On an arch the ridges bend gently the same way, and nowhere do three ridge flows part, so a probe turns 0 degrees wherever it is placed. With no point turning half a turn back there is no delta, and with no point turning half a turn forward there is no core. That is the geometric reason arches form a group of their own.

Cung lều: ba kiểu theo chuẩn FBITented arches: the FBI's three types

FBI tả cung lều thế này: phần lớn gờ vân vào một bên và ra bên kia như cung thường, nhưng gờ ở giữa thì không. Cung lều chia làm ba kiểu:

The FBI describes the tented arch this way: most ridges enter on one side and flow out the other, as in the plain arch, but the ridge or ridges at the centre do not. There are three types:

  • Kiểu góc nhọn: gờ ở giữa gấp thành một góc rõ, từ 90 độ trở xuống.
  • Kiểu vân dựng: một hay nhiều gờ ở giữa thành vân dựng, tức một gờ cụt dài bao nhiêu cũng được, nhô lên đủ dốc so với phương ngang, từ 45 độ trở lên.
  • Kiểu gần móc: có hai trong ba đặc điểm cốt lõi của vân móc nhưng thiếu cái thứ ba.
  • Angular type: the centre ridges form a definite angle, 90 degrees or less.
  • Upthrust type: one or more centre ridges form an upthrust, an ending ridge of any length rising at 45 degrees or more from the horizontal.
  • Loop approaching type: it has two of the three basic characteristics of a loop but lacks the third.

Hướng dẫn tra cứu vân tay tự động của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Hoa Kỳ (NIST) tóm lại trong một câu: cung lều có hoặc một góc, hoặc một vân dựng, hoặc hai trong ba đặc điểm cơ bản của vân móc.

The automated fingerprint search guide of the US National Institute of Standards and Technology (NIST) sums it up in one line: tented arches possess either an angle, an upthrust, or two of the three basic characteristics of a loop.

79 độ79 degrees90 độ90 degreesKiểu góc nhọnAngular typeKiểu vân dựngUpthrust typevân giữa gấp thành góccentre ridges form an anglechuẩn: từ 90 độ trở xuốngrule: 90 degrees or lessmột vân cụt dựng lên ở giữaan ending ridge rises in the centrechuẩn: từ 45 độ trở lênrule: 45 degrees or more
Hình 3. Hai kiểu cung lều vẽ bằng máy. Bên trái kiểu góc nhọn: đo trên chính nét vẽ, vân gấp nhọn nhất tạo góc 79 độ, dưới mức 90 độ của chuẩn FBI. Bên phải kiểu vân dựng: vân cụt màu đỏ dựng thẳng 90 độ, trên mức 45 độ.Figure 3. Two tented arch types, computed. Left, the angular type: measured on the drawing itself, the sharpest ridge bends at 79 degrees, under the FBI limit of 90. Right, the upthrust type: the red ending ridge stands at 90 degrees, above the 45 degree threshold.

Cung lều có thể có một tam giác điểm. NIST dặn người nhập liệu đánh dấu tam giác điểm trên cung lều nếu thấy có, và FBI dẫn những cung lều có cả tam giác điểm lẫn số vân, chỉ thiếu vân quặt. Vì thế câu "vân cung không có tam giác điểm" đúng trọn với cung thường. Với cung lều phải nói: không có, hoặc có một.

A tented arch may have a delta. NIST tells examiners to mark deltas on tented arches when present, and the FBI shows tented arches that have both a delta and a ridge count, lacking only the recurve. So "arches have no delta" is fully true of the plain arch. For the tented arch the right answer is: none, or one.

Cung lều hay vân móc: phép thử ba điều kiệnTented arch or loop: the three point test

Đây là chỗ người mới xem vân hay nhầm nhất. FBI ghi ba điều cốt lõi của một vân móc: một vân quặt đủ độ, một tam giác điểm, và số vân đếm được ngang qua một vân quặt. Đủ cả ba là móc. Thiếu một là cung lều kiểu gần móc.

This is where beginners go wrong most often. The FBI lists the three essentials of a loop: a sufficient recurve, a delta, and a ridge count across a looping ridge. All three make a loop. Missing one makes a loop approaching tented arch.

Vân mócLoopCung lềuTented archCó vân quặt đủ độA sufficient recurveCó một tam giác điểmOne deltaSố vân 8, từ 1 trở lênRidge count 8, at least 1Không có vân quặtNo recurveKhông có tam giác điểmNo deltaKhông đếm được vânNo ridge countĐủ ba điều kiện: mócAll three: a loopThiếu dù chỉ một: cung lềuMissing even one: tented arch
Hình 4. Phép thử ba điều kiện. Bên trái vân móc: vân tô đồng là vân quặt trong cùng, đường nét đứt từ tam giác điểm tới tâm vân cắt 8 vân. Bên phải cung lều kiểu vân dựng: không vân nào quặt trở ra, nên dù giữa có dựng nhọn vẫn là cung.Figure 4. The three point test. Left, a loop: the bronze ridge is the innermost recurve, and the dashed line from delta to core crosses 8 ridges. Right, an upthrust tented arch: no ridge turns back, so despite the peak it is still an arch.

Hai cái bẫy: vân chụm và gai phụTwo traps: converging ridges and spikes

FBI nhấn một câu: hai vân chỉ chụm vào nhau thì không thành vân quặt, mà không có vân quặt thì không có vân móc. FBI còn một quy tắc tinh hơn: một nhánh phụ hay một cái gai chạm vuông góc vào đầu vân quặt, ở phía ngoài, trong khoảng giữa hai vai móc, thì làm hỏng vân quặt ấy.

The FBI stresses one line: the mere converging of two ridges does not form a recurve, and without a recurve there can be no loop. It adds a finer rule: an appendage or spike abutting a recurve at right angles, on the outside, in the space between the shoulders, spoils that recurve.

Vân quặt thậtA true recurvevân vào rồi vòng trở raenters, turns, goes backtính là vân quặtcounts as a recurveHai vân chụm lạiTwo ridges convergechụm không phải quặtconverging is not a recurvekhông tínhdoes not countGai chạm đầu mócA spike on the headgai vuông góc làm hỏnga right angle spike spoils itkhông tínhdoes not count
Hình 5. Ba trường hợp. Bên trái vân quặt thật: vân tô đồng vào rồi vòng trở ra cùng phía. Ở giữa hai vân chụm lại thành mũi nhọn, không vân nào vòng trở ra. Bên phải một cái gai chạm vuông góc vào đầu vân quặt ở phía ngoài. Theo FBI, hai trường hợp sau không tính là vân quặt. Sơ đồ minh họa quy tắc, không phải dấu vân thật.Figure 5. Three cases. Left, a true recurve: the bronze ridge enters and turns back to the same side. Middle, two ridges converge to a point and none turns back. Right, a spike abuts the head of the recurve at right angles on the outside. Under FBI rules the last two do not count as recurves. Schematic drawings of the rules, not real prints.

FBI còn dẫn hai tình huống khác được xếp vào cung lều. Một là có tam giác điểm và số vân nhưng thiếu vân quặt. Hai là trong vùng hình vân có dáng móc, nhưng tam giác điểm nằm ngay trên vân móc nên không thể lấy được số vân.

The FBI shows two more situations classed as tented arches. One has a delta and a ridge count but lacks the recurve. The other has loop formations in the pattern area, but with the delta sitting on the loop, so no ridge count can be taken.

Cung thường, cung lều và vân móc trên ba điều kiệnPlain arch, tented arch and loop on the three points
DạngTypeVân quặtRecurveTam giác điểmDeltaSố vân trong tổng mười ngónRidge count in the ten finger total
Cung thườngPlain archKhôngNoneKhôngNone00
Cung lềuTented archKhông, hoặc có mà thiếu điều kiện khácNone, or present but another point missingKhông hoặc mộtNone or one00
Vân mócLoopCó, đủ độYes, sufficientMộtOneTừ 1 trở lên1 or more

Khi thật sự phân vân, NIST khuyên ghi cả mọi dạng có thể, để khỏi bỏ sót khi tra cứu. Cuốn luận của Thầy Ưng Khiêm cũng thận trọng như vậy: ngón nào ảnh chưa đủ rõ để quyết, Thầy ghi rõ là chưa chắc và nhờ quý vị chụp lại ngón ấy.

When truly in doubt, NIST advises listing every possible pattern so nothing is missed in a search. Master Ung Khiem's book is just as careful: if a photo is not clear enough to decide, he marks the finger as uncertain and asks you to retake it.

Vân cung hiếm tới mức nàoHow rare arches are

FBI ghi vân móc chiếm khoảng 65% dấu vân tay, vân xoáy khoảng 30%, phần còn lại, chừng 5%, là vân cung. Hướng dẫn của NFSTC cũng ghi vân cung chiếm khoảng năm phần trăm mọi dạng vân.

The FBI puts loops at about 65% of all prints and whorls at about 30%, leaving about 5% for arches. The NFSTC guide likewise says arches make up about five percent of all pattern types.

Năm 2021, Surender Pratap Singh xem 200 phiếu mười ngón của nam giới trưởng thành Ấn Độ, tức 2.000 dấu vân, và đếm được 77 vân cung, bằng 3,85%. Riêng ngón trỏ phải của 200 người ấy, tỷ lệ là 10%.

In 2021 Surender Pratap Singh examined 200 ten print cards of adult Indian men, 2,000 prints in all, and found 77 arches, or 3.85%. On the right index finger of those 200 men alone, the figure was 10%.

FBIFBIMóc khoảng 65%Loops about 65%Xoáy khoảng 30%Whorls about 30%Cung khoảng 5%, nhóm ít nhấtArches about 5%, the smallest groupFBI, NFSTCFBI, NFSTCmọi ngónall fingerskhoảng 5%about 5%Singh 2021Singh 20212.000 dấu vân2,000 prints3,85%3.85%Singh 2021Singh 2021ngón trỏ phảiright index10%10%0%0%5%5%10%10%Tỷ lệ vân cung trên tổng số dấu vânArches as a share of all prints
Hình 6. Tỷ lệ vân cung theo các nguồn đã dẫn. Thanh trên là tỷ lệ ba nhóm theo FBI. Ba thanh dưới là vân cung theo FBI và NFSTC, theo mẫu 2.000 dấu vân của Singh, và riêng ngón trỏ phải trong mẫu ấy.Figure 6. Arch frequency in the cited sources. The top bar shows the FBI's three group split. The three bars below show arches per FBI and NFSTC, in Singh's 2,000 print sample, and on the right index finger in that sample.

Con số đổi theo mẫu nghiên cứu. Năm 2026, nhóm Gomes, Matsushita và Araújo phân tích dạng vân của hơn 500.000 người Brazil và thấy chính loại ngón là yếu tố gắn chặt nhất với phân bố dạng vân, còn giới tính và nơi xuất thân có ảnh hưởng thật về thống kê nhưng yếu. Vì thế với vân cung, hỏi nó nằm ở ngón nào có ích hơn nhiều so với hỏi người ấy là nam hay nữ.

The figures shift from sample to sample. In 2026 Gomes, Matsushita and Araújo analysed the patterns of more than 500,000 Brazilians and found that finger type was the factor most strongly tied to pattern distribution, while sex and geographic origin had statistically significant but weak effects. So for arches, asking which finger is far more useful than asking whether the person is a man or a woman.

Vân cung hay nằm ở ngón nàoWhich fingers carry arches

Trong mẫu của Singh, số vân cung ở ngón trỏ phải và ngón trỏ trái là cao nhất. Hệ phân loại Henry cũng phản ánh điều ấy. Theo sổ tay NIJ, để tính tới chỗ vân cung, cung lều và móc quay hiếm gặp ở các ngón không phải ngón trỏ, hệ Henry ghi các dạng ấy ở những ngón này bằng chữ thường a, t, r. Hệ NCIC của Hoa Kỳ ghi cung thường là AA, cung lều là TT.

In Singh's sample the right and left index fingers had the most arches. The Henry system reflects the same thing. According to the NIJ sourcebook, to account for the rarity of arches, tented arches and radial loops on non index fingers, Henry wrote those patterns on such fingers as lower case a, t, r. The US NCIC system codes the plain arch AA and the tented arch TT.

Lòng bàn tay tráiLeft palm1 ngón vân cung1 arch fingerLòng bàn tay phảiRight palm2 ngón vân cung2 arch fingersVòng đồng: ngón mang vân cungBronze rings: fingers with arches
Hình 7. Một bản đồ mười ngón ví dụ trên hai lòng bàn tay nhìn thẳng. Vòng đồng là ngón mang vân cung: ngón trỏ trái là cung thường, ngón trỏ phải là cung lều, ngón giữa phải là cung thường. Đầu ngón nhìn thẳng là ảnh chụp, không phải dấu in. Đây là ví dụ để minh họa, không phải số liệu.Figure 7. An example ten finger map on two palms seen face on. Bronze rings mark fingers with arches: a plain arch on the left index, a tented arch on the right index, a plain arch on the right middle finger. Fingertips seen face on are photos, not prints. An illustration, not data.
Vân cung trong các hệ ghi chépArches in the recording systems
HệSystemCung thườngPlain archCung lềuTented archGhi chúNote
HenryHenrya ở ngón không phải ngón trỏa on non index fingerst ở ngón không phải ngón trỏt on non index fingersChữ thường vì hiếm ở các ngón ấyLower case for rarity on those fingers
NCICNCICAAAATTTTHai ký tự mỗi ngónTwo characters per finger

Số đếm vân bằng 0A ridge count of zero

FBI định nghĩa số vân là số gờ nằm giữa tam giác điểm và tâm vân. Vân cung thường không có cả hai đầu mút ấy, nên không có gì để đếm. Trang tổng Sinh Trắc Tam Tướng ghi theo lệ chung: vân cung không có tâm nên tính bằng không. Với cung lều có dáng móc mà tam giác điểm nằm ngay trên vân móc, FBI ghi thẳng là không thể lấy được số vân.

The FBI defines the ridge count as the number of ridges between the delta and the core. A plain arch has neither end point, so there is nothing to count. The Three Readings main page follows the usual convention: an arch has no core, so it counts zero. For a tented arch with a loop formation whose delta sits on the loop, the FBI states plainly that a ridge count cannot be taken.

Cung thườngPlain arch00Cung lềuTented arch00Vân mócLoop88Tay tráiLeftCáiT1818TrỏI00GiữaM1212ÁpR1414ÚtL1111Tay phảiRightCáiT1515TrỏI00GiữaM00ÁpR1616ÚtL1010TổngTFRC9696
Hình 8. Hàng trên: cung thường và cung lều không có đường đếm, số vân bằng 0. Vân móc bên cạnh cắt 8 vân trên đường đếm. Hàng dưới: số vân mười ngón của bản đồ ví dụ ở Hình 7, ba ngón vân cung góp 0, tổng mười ngón là 96. Số trong ô là số ví dụ.Figure 8. Top: the plain and tented arch have no counting line, so their count is 0. The loop beside them crosses 8 ridges on its line. Bottom: ridge counts for the example map in Figure 7, where the three arches add 0 and the ten finger total is 96. The numbers are examples.

Vì mỗi ngón vân cung góp số 0, người có nhiều vân cung thường có tổng số vân mười ngón (TFRC) thấp. Các chỉ số khác cũng nhận ra vân cung ngay. Chỉ số cường độ mẫu PII tính cung 0 điểm, móc 1, xoáy 2. Chỉ số Dankmeijer lấy số vân cung chia số vân xoáy rồi nhân 100. Với bản đồ ví dụ, ba cung và hai xoáy cho chỉ số Dankmeijer bằng 150, PII bằng 9.

Since each arch adds 0, people with many arches tend to have a low total finger ridge count (TFRC). Other indices pick up arches at once. The pattern intensity index PII scores arch 0, loop 1, whorl 2. The Dankmeijer index divides arches by whorls and multiplies by 100. For the example map, three arches and two whorls give a Dankmeijer index of 150 and a PII of 9.

Vân cung theo tướng pháp, để tham khảoArches in physiognomy, for reference

Trang tổng Sinh Trắc Tam Tướng tả cung thường là vân chạy từ mép này sang mép kia, gồ lên nhẹ ở giữa như sóng lặng, còn cung lều thì giữa vân dựng đứng thành mũi nhọn như nóc lều. Đó là hai hình ảnh để nhớ, và cũng là cách Thầy gọi tên hai dạng này trong cuốn luận.

The Three Readings main page describes the plain arch as ridges running from one side to the other with a gentle rise, like a calm wave, and the tented arch as a centre that rises to a sharp peak like a tent pole. They are images to remember by, and the way the Master names the two types in the book.

Trong bài vè đẩu ky, vân xoáy là đẩu, cái đấu đong thóc kín bốn bề, vân móc là ky, cái ky đan hở một đầu. Vân cung không thuộc bên nào. Dân gian Việt đếm hoa tay cũng chỉ tính vân xoáy: vân cung chạy thẳng qua nên không được tính là hoa. Người mang nhiều vân cung vì thế thường có ít hoa.

In the dou ji verse the whorl is dou, the grain measure closed on all sides, and the loop is ji, the woven scoop open at one end. The arch belongs to neither. Vietnamese hand flower counting likewise counts only whorls: an arch runs straight across and is not a flower. People with many arches therefore tend to have few flowers.

Nhiều vân cung không phải điềm xấuMany arches is not a bad sign

Câu vè đếm hoa là kinh nghiệm dân gian đúc thành lời cho dễ nhớ. Chưa có nghiên cứu khoa học nào cho thấy số ngón mang vân xoáy dự đoán được thu nhập, địa vị hay tài năng, và điều ấy cũng đúng với vân cung.

The flower rhyme is folk memory put into verse. No scientific study shows that the number of whorl fingers predicts income, status or talent, and the same holds for arches.

Bài này cũng không gán cho vân cung một kiểu trí thông minh hay năng khiếu nào, như các gói đo năng khiếu bằng vân tay vẫn làm. Lý do nằm ở bài Sinh trắc vân tay có đúng không.

Nor does this article assign arches any type of intelligence or talent, as fingerprint talent tests do. The reasons are in Do fingerprint talent tests work.

Thầy Ưng Khiêm đọc vân cung thế nàoHow Master Ung Khiem reads arches

Đo trước, luận sau, hai phần tách riêngMeasure first, interpret second, kept apart

Phần đo ghi đúng như trong bài: ngón nào mang vân cung, là cung thường hay cung lều, có tam giác điểm hay không, số vân bằng 0, và các chỉ số của cả bộ mười ngón. Phần này ai đếm đúng cách cũng ra cùng một kết quả.

The measured part records exactly what this article describes: which fingers carry arches, plain or tented, whether a delta is present, the zero ridge count, and the indices of the whole set. Anyone counting correctly gets the same result.

Câu vè là kinh nghiệm dân gian đúc thành lời cho dễ nhớ, không phải phép luận. Thầy không đếm hoa để phán giàu nghèo. Cuốn luận xét từng ngón một, ngón nào mang dạng gì, tay trái với tay phải lệch nhau ra sao, rồi cân với chỉ tay và tướng mặt.

The rhyme is folk memory put into verse, not a method. The Master does not count flowers to pronounce anyone rich or poor. The reading looks at each finger in turn, which type sits on which finger, how the left and right hands differ, then weighs it against the palm and the face.

Phần luận tính nết, thời vận trong cuốn là tướng pháp cổ truyền phương Đông, để tham khảo và để tự hiểu mình. Đó không phải chẩn đoán y khoa, không phải trắc nghiệm tâm lý.

The character and timing readings in the book belong to classical Eastern physiognomy, offered for reflection and self understanding. They are not a medical diagnosis and not a psychological test.

Phần đoMeasuredPhần luậnInterpretedai đếm đúng cũng ra như nhauanyone counting gets the sametướng pháp, để tham khảophysiognomy, for referenceCung thường hay cung lềuPlain or tentedSóng lặng, nóc lềuA calm wave, a tent roofSố tam giác điểm: 0Deltas: 0Không đẩu, không kyNeither dou nor jiSố vân: 0Ridge count: 0Không tính là hoa tayNot a hand flowerNgón nào, tay nàoWhich finger, which handHai tay lệch nhau ra saoHow the hands differChỉ số DankmeijerDankmeijer indexCân với chỉ tay, tướng mặtWeighed with palm and face
Hình 9. Phần đo và phần luận khi đọc vân cung. Cột trái là số liệu đo, cột phải là tướng pháp để tham khảo. Hai cột luôn được viết tách riêng trong cuốn luận.Figure 9. The measured and interpreted parts of an arch reading. Left, measurements. Right, physiognomy for reference. The two are always written apart in the book.

Tự nhận ra vân cung trên tay mìnhSpot the arches on your own hands

  1. Chụp cận từng đầu ngón, ánh sáng xiên, tắt flash, lấy cả hai mép và phần dưới đầu ngón để không sót tam giác điểm.
  2. Tìm vân quặt: có vân nào chạy vào rồi vòng trở ra cùng phía không. Không có là nhóm cung.
  3. Nhìn giữa vân: gồ êm là cung thường, gấp thành góc hay có vân cụt dựng lên là cung lều.
  4. Thấy giống móc mà còn phân vân thì thử đủ ba điều kiện ở Hình 4, và ghi chú lại ngón ấy.
  1. Photograph each fingertip up close in side light, flash off, with both edges and the lower part in frame so no delta is missed.
  2. Look for a recurve: does any ridge enter and turn back to the same side? If none, it is an arch.
  3. Look at the centre: a smooth rise is a plain arch, an angle or an upright ending ridge is a tented arch.
  4. If it looks like a loop and you are unsure, run the three point test of Figure 4 and note the finger.

Ứng dụng chụp trên trang Sinh Trắc Tam Tướng hướng dẫn chụp từng ngón, báo ảnh mờ, cho quý vị tự chọn dạng vân cho từng ngón và xem trước miễn phí bản đồ mười ngón ngay trên máy.

The capture app on the Three Readings page guides each shot, flags blurry photos, lets you pick each finger's type and shows a free preview of your ten finger map on your device.

Tìm vân cung trên mười ngón của mìnhFind the arches on your ten fingers

Chụp bằng điện thoại, tự chọn dạng vân và xem trước miễn phí bản đồ mười ngón. Muốn đọc sâu cả vân tay, chỉ tay và tướng mặt thì chính Thầy Ưng Khiêm chấm ảnh và soạn tay cuốn luận.

Capture with your phone, pick each type and preview your ten finger map for free. For the full reading of fingerprints, palm and face, Master Ung Khiem marks your photos and writes the book by hand.

Hỏi đápQuestions

Vân tay hình cung là gì?What is an arch fingerprint?

Là dạng vân mà gờ chạy vào từ một mép đầu ngón, gồ lên ở giữa rồi chạy ra mép bên kia, không vân nào quặt ngược lại. Có hai dạng: cung thường và cung lều.

A pattern whose ridges enter from one side, rise in the middle and leave on the other side, with no ridge turning back. There are two kinds: the plain arch and the tented arch.

Vân cung có hiếm không?Are arches rare?

Có. Theo tài liệu FBI, vân cung chỉ chiếm khoảng 5% dấu vân tay, ít nhất trong ba nhóm. Một mẫu 2.000 dấu vân của nam giới Ấn Độ năm 2021 đếm được 3,85%, nhiều nhất ở hai ngón trỏ.

Yes. In FBI material arches are only about 5% of prints, the smallest of the three groups. A 2021 sample of 2,000 prints from Indian men found 3.85%, most of them on the index fingers.

Cung thường và cung lều khác nhau thế nào?How does a plain arch differ from a tented arch?

Cung thường gồ êm ở giữa như sóng lặng. Cung lều thì giữa gấp thành góc từ 90 độ trở xuống, hoặc có vân cụt dựng lên từ 45 độ trở lên, hoặc có hai trong ba điều kiện của vân móc.

A plain arch rises smoothly like a calm wave. A tented arch has a centre angle of 90 degrees or less, or an ending ridge rising at 45 degrees or more, or two of the three loop requirements.

Làm sao phân biệt cung lều với vân móc?How do I tell a tented arch from a loop?

Xét ba điều kiện của vân móc theo FBI: có vân quặt đủ độ, có một tam giác điểm, có số vân đếm được ngang qua vân quặt. Đủ cả ba là móc, thiếu một là cung lều.

Check the FBI's three loop essentials: a sufficient recurve, a delta, and a ridge count across a looping ridge. All three means a loop, missing one means a tented arch.

Vân cung có tam giác điểm và số vân không?Do arches have a delta and a ridge count?

Cung thường không có tâm vân và tam giác điểm. Cung lều có thể có một tam giác điểm. Trong tổng số vân mười ngón, vân cung tính bằng 0.

A plain arch has no core and no delta. A tented arch may have one delta. In the ten finger total, arches count 0.

Có vân cung có sao không, có tính là hoa tay không?Is having arches a problem, and do they count as hand flowers?

Không sao cả. Vân cung không tính là hoa tay vì không phải vân xoáy. Nghĩa theo tướng pháp chỉ để tham khảo, chưa có nghiên cứu nào cho thấy dạng vân quyết định giàu nghèo hay tài năng.

Not at all. Arches are not hand flowers because they are not whorls. The physiognomic meaning is for reference only, and no study shows that pattern type decides wealth or talent.

Đọc tiếpRead next

NguồnSources

  1. Federal Bureau of Investigation. The Science of Fingerprints: Classification and Uses. Định nghĩa cung thường, cung lều ba kiểu, ba điều cốt lõi của vân móc, vân chụm, gai phụ, đường kiểu, tam giác điểm, số vân, tỷ lệ các nhóm: crime-scene-investigator.net
  2. National Institute of Justice. The Fingerprint Sourcebook, chương 5, Systems of Friction Ridge Classification. Chữ thường a, t, r ở ngón không phải ngón trỏ, mã NCIC AA và TT, vân cung không có vùng hình vân thật: ojp.gov
  3. NIST. Pattern Classification, hướng dẫn tra cứu vân tay tự động. Định nghĩa cung lều, đánh dấu tam giác điểm trên cung lều, ghi mọi dạng có thể khi phân vân: tsapps.nist.gov
  4. National Forensic Science Technology Center. A Simplified Guide to Fingerprint Analysis, 2009. Vân cung khoảng năm phần trăm, cung lều nhọn hơn cung thường: forensicsciencesimplified.org
  5. Singh S. P. Study of Prevalence of Pattern Arch in Right Index Finger of Indian Males for Assisting Fingerprint Analysts in Expediting Criminal Identification. International Journal of Forensic Science and Pathology, 2021. Mẫu 2.000 dấu vân, 3,85% vân cung, ngón trỏ phải 10%: scidoc.org
  6. Gomes G. Â. S., Matsushita R. Y., Araújo M. E. C. Fingerprint pattern distributions under the Vucetich and Henry systems. Forensic Science International, 2026, 385:112959: pubmed.ncbi.nlm.nih.gov
  7. Jin Bo, Tang Hua Ping, Xu Ming Lan. Fingerprint Singular Point Detection Algorithm by Poincaré Index. WSEAS Transactions on Systems, 2008. Chỉ số của tâm vân, tam giác điểm, tâm kép: scispace.com
  8. Galton F. Finger Prints. London: Macmillan, 1892. Chương V, định nghĩa vân cung. Bản số hóa: gutenberg.org

Tỷ lệ vân cung lấy theo các nguồn đã dẫn, mỗi nhóm dân cư và mỗi mẫu nghiên cứu lệch đi ít nhiều. Bản đồ mười ngón và số vân trong Hình 7, Hình 8 là ví dụ minh họa. Hình minh họa do UK MASTER ACADEMY vẽ riêng cho bài, sơ đồ nét và phép dò hướng vân tính bằng máy trên chính các nét vẽ. Bài được cập nhật khi có nghiên cứu mới.Arch frequencies follow the cited sources and vary between populations and samples. The ten finger map and ridge counts in Figures 7 and 8 are illustrative examples. Illustrations drawn by UK MASTER ACADEMY for this article, with line diagrams and ridge direction probes computed on the drawn lines themselves. Updated as new research appears.