VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Giác Lâm

覺林寺 · Cẩm Sơn, Sơn Can, Cẩm Đệm

Ngôi chùa xưa nhất còn lại của đất Gia Định, chốn tổ mà phần lớn các dòng truyền thừa của Phật Giáo Nam Bộ đều tính ngược về.

Khởi dựng
1744
cư sĩ Lý Thụy Long, mùa xuân năm Giáp Tý
Tượng cổ
113 pho
phần lớn bằng gỗ, chỉ bảy pho bằng đồng
Bảo tháp
32,7 m
bảy tầng hình lục giác, khánh thành năm 1994

Rẽ khỏi đường Lạc Long Quân vào cổng chùa, quý vị đi qua một khoảng sân có cây bồ đề tán rộng, rồi bước lên nền chính điện. Trong đó là bốn cột lớn dựng thành thế tứ trụ, những hàng cột gỗ đen bóng chạm câu đối thếp vàng, và trên tường là hàng nghìn chiếc đĩa sứ gắn thành hoa văn. Ánh sáng lọt vào ít, mùi gỗ và mùi nhang lâu năm đọng lại; đây là một trong số rất ít chỗ ở thành phố này còn giữ được nguyên cái không khí của thế kỷ mười tám.

Sài Gòn có nhiều chùa lớn hơn Giác Lâm, mới hơn Giác Lâm, đông người hơn Giác Lâm. Nhưng Giác Lâm là ngôi tổ đình, nghĩa là chốn tổ, nơi một dòng truyền thừa đặt gốc rồi từ đó chia nhánh đi khắp vùng. Cái khác của nơi này không nằm ở quy mô mà nằm ở vị trí trong phả hệ: rất nhiều ngôi chùa ở Nam Bộ, khi lần lại thầy của thầy mình, sẽ dừng lại ở đây.

Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm. Ảnh: Phan Ba at vi.wikipedia, giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

Chốn Tổ Của Phật Giáo Nam Bộ

Chữ tổ đình không phải một danh hiệu ban tặng mà là một sự thật của phả hệ truyền thừa. Một ngôi chùa được gọi là tổ đình khi các vị tăng từ chùa ấy đi ra, dựng chùa khác, nhận đệ tử khác, và các chùa con ấy vẫn tính mình thuộc dòng của chùa gốc. Giác Lâm giữ vai trò ấy đối với một phần rất lớn Phật Giáo ở Gia Định và đồng bằng phía nam.

Theo giáo nghĩa

Theo cách nhà Phật tự nói, chùa là nơi Tam Bảo trú ngụ, gồm Phật, Pháp và Tăng. Dòng thiền được truyền ở đây là Lâm Tế, một tông phái Thiền lấy việc trực chỉ tâm người làm cốt, truyền từ thầy sang trò không dựa vào chữ nghĩa mà dựa vào sự ấn chứng. Bởi thế trong nhà Phật, việc một ngôi chùa giữ được mạch truyền thừa liên tục quan trọng hơn việc chùa ấy to hay nhỏ; mạch ấy mới là thứ được gọi là đèn tổ, truyền hết đời này sang đời khác không tắt.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, chùa do cư sĩ Lý Thụy Long, người Minh Hương, dựng vào mùa xuân năm 1744, ban đầu mang các tên Sơn Can, Cẩm Sơn và Cẩm Đệm. Năm 1774, Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc cử Thiền sư Tổ Tông Viên Quang về đây trụ trì, và từ đó chùa mang tên Giác Lâm. Chính từ mốc 1774 này, chùa mới trở thành trung tâm của dòng Lâm Tế ở vùng Gia Định, chứ không phải từ ngày khởi dựng.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người nghĩ chùa cổ nhất thì phải là chùa lớn nhất hoặc nổi tiếng nhất. Ở Sài Gòn không như vậy. Giác Lâm nằm trong một khu dân cư đông đúc, mặt tiền không bề thế, dễ đi qua mà không nhận ra. Cái làm nên giá trị của nó là lớp hiện vật gỗ và lớp truyền thừa bên trong, hai thứ không nhìn thấy từ ngoài đường.

Gần Ba Trăm Năm Trên Gò Cẩm Sơn

Lịch sử chùa chia được thành bốn chặng: chặng cư sĩ dựng am, chặng thiền sư về trụ trì và đặt nền truyền thừa, chặng trùng tu lớn đầu thế kỷ hai mươi, và chặng dựng bảo tháp thời hiện đại. Các mốc dưới đây lấy từ tư liệu của chùa và các bài khảo cứu Phật học.

  • 1744Cư sĩ Lý Thụy Long dựng chùa
    Mùa xuân năm Giáp Tý, một cư sĩ người Minh Hương dựng chùa trên gò Cẩm Sơn. Chùa mang các tên Sơn Can, Cẩm Sơn và Cẩm Đệm; chữ Cẩm Đệm lấy từ nghề đan đệm của người dựng chùa.
  • 1774Thiền sư Viên Quang về trụ trì
    Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc cử Thiền sư Tổ Tông Viên Quang về đây. Chùa đổi tên thành Giác Lâm và bắt đầu giữ vai trò chốn tổ của dòng Lâm Tế ở Gia Định.
  • 1798Trùng tu lần thứ nhất
    Thiền sư Viên Quang khởi công trùng tu, công việc kéo dài tới năm 1804. Diện mạo cơ bản của chính điện định hình từ lần này.
  • 1827Viên Quang viên tịch
    Thiền sư Hải Tịnh kế vị. Sau đó, năm 1873, Thiền sư Minh Khiêm trụ trì và tiếp tục việc khắc in kinh sách tại chùa.
  • 1906Trùng tu lần thứ hai
    Hòa thượng Hồng Hưng chủ trì, có Hòa thượng Như Phòng giúp sức, công việc kéo dài tới năm 1909.
  • 1953Nhận xá lợi và cây bồ đề
    Ngày 24 tháng 6 năm 1953, ngài Narada từ Sri Lanka dâng xá lợi Phật; cùng năm ấy một cây bồ đề mang từ Sri Lanka sang được trồng trong sân chùa.
  • 1970Khởi công bảo tháp xá lợi
    Lễ đặt đá ngày 29 tháng 11 năm 1970. Công việc ngưng năm 1975, nối lại ngày 17 tháng 4 năm 1993 và hoàn thành năm 1994.
  • 1988Di tích quốc gia
    Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.

Kiến Trúc Nam Bộ Và Bộ Tượng Gỗ

Chùa dựng theo lối chữ Tam, tức ba dãy nhà ngang nối liền nhau: chính điện, giảng đường và trai đường. Bố cục này khác hẳn lối chữ Đinh hay nội công ngoại quốc quen thuộc của chùa Bắc Bộ. Chính điện làm theo kiểu nhà dân gian Nam Bộ một gian hai chái, giữa đặt bốn cột lớn dựng thành thế tứ trụ, chia không gian ra năm phần.

Cổng nhị quan và cổng tam quan

Cổng nhị quan xây năm 1945, có tượng sư tử ở góc và hoa văn mang dấu ấn Khmer. Cổng này không mở lối đi thẳng ở giữa mà chỉ có hai lối bên. Cổng tam quan xây năm 1955.

Chính điện

Khu nhà rộng khoảng 22 mét, dài khoảng 65 mét, tường hai bên dày chừng 30 phân. Trong chính điện có 56 cột lớn, trên đó khắc 86 câu đối thếp vàng cùng chín tấm bao lam chạm thủng.

Bộ tượng gỗ

Chùa giữ 113 pho tượng cổ, phần lớn tạc bằng gỗ mít và gỗ khế, chỉ có bảy pho bằng đồng. Trong đó có hai bộ Thập Bát La Hán, hai bộ Thập Điện Diêm Vương và bộ tượng Cửu Long.

Khu tháp tổ

Gồm tám tháp mộ của các vị thiền sư từng trụ trì chùa và ba tháp mộ của hòa thượng các chùa khác, dựng vào khoảng đầu thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi.

Bảo tháp xá lợi

Bảy tầng hình lục giác, cao 32,7 mét, diện tích hơn 600 mét vuông. Tầng thứ bảy đặt tháp thờ xá lợi Đức Phật Thích Ca và chùm đèn Cửu Long.

Bảng đối chiếu để quý vị dễ nhận ra chỗ khác nhau; con số đĩa sứ 7.454 chiếc được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận năm 2007.
Đặc điểmChùa Nam Bộ ở Giác LâmLối quen của chùa Bắc Bộ
Mặt bằngChữ Tam, ba dãy nhà ngang nối nhauChữ Đinh hoặc nội công ngoại quốc
Kết cấu chính điệnNhà dân gian một gian hai chái, thế tứ trụNhà bốn mái, vì kèo chồng rường
Chất liệu tượngGỗ mít, gỗ khế là chính, tượng đồng rất ítGỗ mít sơn son thếp vàng, nhiều tượng đất và đồng
Trang trí mặt tườngGắn đĩa sứ thành hoa văn, tổng cộng 7.454 chiếcChạm gỗ, đắp vữa, ít khi gắn đồ sứ
Bao lamChạm thủng nhiều lớp, đề tài hoa điểu và tứ linhCửa võng chạm nổi, thếp vàng dày
Chỗ hay hiểu lầm

Hai con số hay bị dùng lẫn với nhau. Chùa hiện thờ khoảng 119 pho tượng nói chung, nhưng trong đó số tượng cổ là 113 pho; phần còn lại thuộc lớp muộn hơn. Khi đọc tài liệu, quý vị nên xem con số ấy đang đếm cái gì, kẻo thấy chỗ ghi một trăm mười ba, chỗ ghi một trăm mười chín rồi tưởng có mâu thuẫn.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng để ý nằm ngay trong cái tên cũ. Chùa từng mang tên Sơn CanCẩm Sơn, đều có chữ sơn là núi, dù cả vùng này không có ngọn núi nào. Chữ ấy chỉ một gò đất cao nổi lên giữa vùng đất thấp. Trong phép xem đất của đồng bằng, nơi không có núi thật thì một gò cao vài thước đã đủ đóng vai huyệt tinh, tức chỗ đất kết. Người xưa dựng chùa trên gò chứ không dựng dưới trũng, và lý do vừa thực tế vừa thuộc về phép xem đất: trên gò thì tránh ngập, mà theo cách nói của phong thủy thì đất cao là chỗ khí tụ, đất trũng là chỗ khí tán và ẩm trệ.

Điều thứ hai là cổng nhị quan không mở lối đi thẳng ở giữa, chỉ có hai lối hai bên. Chi tiết này là điều khảo được, còn cách giải thích thì thuộc về phong thủy: lối đi thẳng một mạch từ ngoài vào chính điện bị coi là xung tâm, khí đi thẳng thì đi nhanh và không đọng lại. Bắt người vào phải rẽ sang bên là bắt luồng khí phải uốn; khí uốn thì chậm, chậm thì tụ. Đây cũng chính là lý do các đền chùa cổ hay dựng bình phong hoặc dịch cổng lệch khỏi trục chính.

Điều thứ ba là minh đường, tức khoảng trống phía trước nơi thờ tự. Sân chùa với cây bồ đề tán rộng giữ đúng vai trò ấy: một khoảng bằng phẳng, sáng, không bị chắn, để khí có chỗ dừng trước khi vào nhà. Trong sách vở, minh đường lý tưởng là chỗ bằng phẳng và có nước; ở giữa phố thị hôm nay thì tán cây và mặt sân lát gạch thay vai của mặt nước, giữ lại được cái ý dừng và chứa.

Cuối cùng là hướng và ngũ hành của vật liệu. Chính điện quay ra hướng nam chếch, hướng mà cả đình chùa Bắc Bộ lẫn Nam Bộ đều chuộng, vì đón gió mát và ánh sáng đều. Bộ khung gỗ, bộ tượng gỗ và những tấm bao lam chạm thủng khiến toàn bộ nội thất thuộc hành Mộc; Mộc chủ về sinh trưởng và về sự mềm. Trên tường lại gắn hàng nghìn chiếc đĩa sứ, mà sứ nung từ đất thuộc hành Thổ, Thổ chủ về chứa giữ. Mộc ở trong, Thổ bọc ngoài, đọc theo lối ngũ hành thì đó là thế cái mềm được cái bền che chở. Chúng tôi ghi điều này như một cách đọc, không phải như ý đồ đã được người dựng chùa nói ra.

Lễ Và Lệ Trong Năm

Là một ngôi chùa đang hành đạo, Giác Lâm giữ đủ các ngày lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, tính theo âm lịch. Ngoài ra, vì là tổ đình nên chùa còn có các ngày húy kỵ của chư vị tổ sư từng trụ trì, là ngày mà tăng chúng các chùa cùng dòng thường tụ về.

Các ngày lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông mà chùa giữ theo lệ.
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngThượng NguyênLễ cầu an đầu năm, một trong những ngày đông người nhất trong năm.
Rằm tháng TưPhật ĐảnKỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có lễ tắm Phật.
Rằm tháng BảyVu LanLễ báo hiếu và cầu siêu cho cửu huyền thất tổ, kèm lễ Trung Nguyên.
Rằm tháng MườiHạ NguyênLễ cuối trong ba ngày nguyên của năm, mang ý tạ ơn và cầu an.
Ngày húy kỵ chư tổGiỗ tổLễ tưởng niệm các vị thiền sư từng trụ trì, mỗi vị một ngày riêng theo lịch của chùa.

Ngoài những ngày trên, chùa đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một. Nhiều gia đình gốc Gia Định giữ lệ đầu năm đi Giác Lâm trước rồi mới đi các chùa khác, coi đó là việc về chốn tổ chứ không chỉ là đi lễ.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 565 Lạc Long Quân, phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa ở số 565 đường Lạc Long Quân, phường 10, quận Tân Bình, nằm trong khu dân cư nên cổng không dễ thấy từ xa; đi từ trung tâm thành phố theo hướng Lạc Long Quân là thuận nhất.
Toạ độ
10.7815, 106.6386
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự và là nơi tăng chúng đang tu học, không phải bảo tàng. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào tượng, bao lam và các đĩa sứ gắn tường vì đó đều là hiện vật đã mấy trăm năm. Việc thắp nhang xin theo chỉ dẫn tại chỗ, vì nhà chùa hạn chế khói để giữ lớp gỗ chạm.

Nếu quý vị muốn xem kỹ, nên dành thì giờ cho ba chỗ: hàng câu đối trên cột chính điện, chín tấm bao lam chạm thủng, và khu tháp tổ phía sau. Ba chỗ ấy chứa phần lớn giá trị của chùa, mà lại là ba chỗ khách vãng cảnh hay bỏ qua nhất.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Giác Lâm dựng năm nào và ai dựng

Chùa dựng mùa xuân năm 1744 do cư sĩ Lý Thụy Long, người Minh Hương, đứng ra làm. Ban đầu chùa mang các tên Sơn Can, Cẩm Sơn và Cẩm Đệm. Tên Giác Lâm có từ năm 1774, khi Thiền sư Tổ Tông Viên Quang về trụ trì.

Vì sao gọi Giác Lâm là tổ đình

Vì đây là chốn tổ của dòng thiền Lâm Tế ở vùng Gia Định. Các vị tăng từ đây đi ra dựng chùa khác, và nhiều chùa ở Nam Bộ khi lần lại phả hệ truyền thừa của mình đều dừng ở Giác Lâm. Chữ tổ đình nói về vị trí trong dòng truyền thừa chứ không nói về quy mô.

Chùa giữ bao nhiêu pho tượng cổ

Chùa giữ 113 pho tượng cổ, phần lớn tạc bằng gỗ mít và gỗ khế, chỉ có bảy pho bằng đồng. Tính cả các pho thuộc lớp muộn hơn thì tổng số tượng thờ trong chùa vào khoảng 119 pho.

Kiến trúc chùa Nam Bộ khác chùa Bắc Bộ ở chỗ nào

Giác Lâm dựng theo lối chữ Tam, ba dãy nhà ngang nối liền, trong khi chùa Bắc Bộ hay dùng lối chữ Đinh hoặc nội công ngoại quốc. Chính điện làm kiểu nhà dân gian một gian hai chái với bốn cột tứ trụ ở giữa, và mặt tường gắn đĩa sứ thành hoa văn, một lối trang trí hầu như không gặp ở ngoài Bắc.

Bảo tháp xá lợi trong chùa có gì

Bảo tháp bảy tầng hình lục giác, cao 32,7 mét, khởi công năm 1970, ngưng năm 1975, nối lại năm 1993 và hoàn thành năm 1994. Tầng thứ bảy đặt tháp thờ xá lợi Đức Phật Thích Ca, phần xá lợi do ngài Narada từ Sri Lanka dâng cúng ngày 24 tháng 6 năm 1953.

Đọc Tiếp