VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Thiên Mụ

天姥寺 · Chùa Linh Mụ

Ngôi cổ tự trên đồi Hà Khê bên tả ngạn sông Hương, nơi một lời tiên tri thành cái cớ để dựng nghiệp, và một ngọn tháp bảy tầng thành hình bóng của cả xứ Huế.

Khởi lập
1601
đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng
Tháp Phước Duyên
21 m
bảy tầng, dựng năm 1844
Đại hồng chung
1710
nặng khoảng 1.986 kg, bảo vật quốc gia

Từ trung tâm Huế ngược sông Hương chừng năm cây số về phía tây, bên tả ngạn nổi lên một quả đồi thấp. Trên đỉnh đồi ấy là một ngọn tháp bát giác bảy tầng, và sau ngọn tháp là ngôi chùa mà người Huế gọi là đệ nhất cổ tự. Đó là chùa Thiên Mụ, cũng gọi là chùa Linh Mụ.

Điều khiến ngôi chùa này khác mọi ngôi chùa khác không nằm ở tuổi tác. Nó nằm ở chỗ chùa ra đời từ một lời tiên tri, và người nghe lời tiên tri ấy là một vị chúa đang tìm chỗ dựng nghiệp trên vùng đất mới. Chùa Thiên Mụ vì thế vừa là một ngôi chùa, vừa là dấu mốc mở đầu của cả một triều đại.

Chùa Thiên Mụ
Chùa Thiên Mụ. Ảnh: CEphoto, Uwe Aranas, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Bà Lão Áo Đỏ Và Vị Chân Chúa

Năm Tân Sửu 1601, chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho dựng chùa trên đồi Hà Khê. Trước đó, theo chuyện được chép lại, ban đêm trên đồi thường hiện một bà lão mặc áo đỏ quần lục, nói với người quanh vùng rằng rồi đây sẽ có một vị chân chúa tới lập chùa ở chốn này.

Theo giáo nghĩa

Tên chùa lấy thẳng từ chuyện ấy: Thiên Mụ là bà lão nhà trời. Về sau, đời vua Tự Đức, chùa mang tên Linh Mụ, và bức hoành khắc ba chữ Linh Mụ Tự treo ở cổng tam quan. Hai tên nay vẫn dùng song song, người Huế gọi cả hai đều không sai.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, chuyện bà lão thuộc lớp truyền thuyết chứ không phải sử biên niên. Điều chắc chắn là năm 1601 Nguyễn Hoàng cho dựng chùa, và việc dựng chùa nằm trong một chuỗi việc lớn hơn: ông đang đặt nền cho quyền lực của họ Nguyễn ở Đàng Trong. Dựng chùa trên một quả đồi bên sông, nơi dân quanh vùng đã sẵn coi là đất thiêng, là việc vừa hợp lòng tin của dân vừa hợp toan tính của người cầm quyền. Hai điều ấy không mâu thuẫn nhau, và người xưa cũng không thấy chúng mâu thuẫn.

Bốn Trăm Năm Của Ngôi Chùa

  • 1601Chúa Nguyễn Hoàng dựng chùa
    Chùa khởi lập trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương.
  • 1695Thiền sư Thạch Liêm trụ trì
    Chúa Nguyễn mời thiền sư Thạch Liêm, người Trung Hoa, làm trụ trì. Giai đoạn này chùa thành một trung tâm truyền pháp của Đàng Trong.
  • 1710Đúc đại hồng chung
    Chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả chuông lớn nặng 3.285 cân, tức khoảng 1.986 kg. Chuông nay là bảo vật quốc gia.
  • 1714Đại trùng tu
    Lần trùng tu lớn nhất thời chúa Nguyễn, dựng thêm nhiều công trình trong khuôn viên.
  • 1715Dựng bia Ngự kiến Thiên Mụ tự
    Bia cao 2,6 mét, rộng 1,25 mét, đặt trên lưng một con rùa đá cẩm thạch dài 2,2 mét, rộng 1,6 mét.
  • 1844Vua Thiệu Trị dựng tháp Phước Duyên
    Tháp bát giác bảy tầng cao 21 mét dựng ở phía trước chùa, cùng với đình Hương Nguyện ở chân tháp.
  • Từ 1945Hòa thượng Thích Đôn Hậu đại trùng tu
    Công cuộc trùng tu kéo dài hơn ba mươi năm, đưa chùa về diện mạo phần lớn còn thấy hôm nay.

Chùa nằm trong Quần thể di tích Cố đô Huế, quần thể đã được UNESCO ghi vào danh mục di sản thế giới. Điều đó có nghĩa mọi việc tu bổ ở đây đều chịu ràng buộc của quy chế bảo tồn, và cũng có nghĩa những gì quý vị thấy hôm nay đã qua tay nhiều thế hệ giữ gìn chứ không phải nguyên trạng của năm 1601.

Tháp, Chuông Và Bia

Ba hiện vật làm nên tên tuổi của chùa đều không nằm trong chính điện, mà nằm ở khoảng sân trước: một ngọn tháp, một quả chuông và một tấm bia.

Tháp Phước Duyên

Bát giác bảy tầng, cao 21 mét, do vua Thiệu Trị dựng năm 1844. Mỗi tầng thờ tượng Phật. Đây là hình ảnh được vẽ, chụp và in lại nhiều nhất của xứ Huế.

Đại hồng chung

Đúc năm 1710 đời chúa Nguyễn Phúc Chu, nặng 3.285 cân, tức khoảng 1.986 kg. Đã được công nhận bảo vật quốc gia.

Bia Ngự kiến Thiên Mụ tự

Dựng năm 1715, cao 2,6 mét, rộng 1,25 mét, đặt trên lưng rùa đá cẩm thạch dài 2,2 mét. Văn bia ghi việc trùng tu và tấm lòng của người dựng.

Đình Hương Nguyện

Nhà vuông tám mái ở chân tháp, trên chóp có bánh xe pháp luân. Đình dựng cùng đợt với tháp Phước Duyên.

Điện Đại Hùng

Chính điện của chùa, dựng theo lối trùng thiềm điệp ốc, tức hai lớp mái nối nhau, là lối kiến trúc đặc trưng của Huế.

Tháp mộ Hòa thượng Thích Đôn Hậu

Nằm trong khuôn viên phía sau, nơi an nghỉ của vị hòa thượng đã chủ trì công cuộc trùng tu kéo dài hơn ba mươi năm.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người tưởng tháp Phước Duyên có từ thời dựng chùa. Không phải: chùa dựng năm 1601, còn tháp dựng năm 1844, cách nhau hơn hai trăm bốn mươi năm. Ngọn tháp mà cả nước quen coi là biểu tượng của chùa thật ra là phần trẻ nhất trong những công trình lớn ở đây.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa tọa trên đồi Hà Khê, một gò đất nổi cao hẳn lên giữa vùng ven sông vốn bằng phẳng. Trong phép xem đất, một gò nổi lên giữa chỗ bằng gọi là đột, và đột là dấu hiệu của khí kết. Người xưa tìm huyệt thường tìm những chỗ như thế: không phải núi lớn, chỉ cần một gò cao hơn xung quanh mà thế đất quanh nó ôm lại.

Trước mặt chùa là sông Hương chảy qua. Đây là thế minh đường có thủy, tức khoảng trống trước huyệt có nước tụ và chảy. Sông Hương ở đoạn này chảy chậm và uốn, không xiết, không thẳng đuột; nước chảy chậm mà uốn thì khí lưu lại, còn nước chảy thẳng và xiết thì khí cuốn đi. Chỗ đứng của chùa được thế nước ấy che cho.

Về hướng, chùa nhìn ra sông, tức nhìn về phía nam và đông nam, lưng tựa vào phần cao của đồi và dải đất phía sau. Đây đúng là thế tựa sơn hướng thủy mà sách phong thủy coi là chuẩn mực: có chỗ dựa sau lưng, có nước sáng trước mặt. Ở đồng bằng châu thổ, tìm được một chỗ hội đủ cả hai điều ấy không dễ, và điều đó giải thích vì sao mảnh đất này được coi là đất thiêng từ trước khi có chùa.

Còn một tầng nữa, tầng của người cầm quyền. Nguyễn Hoàng dựng chùa ở đây trước khi họ Nguyễn định đô ở vùng Huế. Đặt một ngôi chùa lên chỗ đất tốt nhất của khúc sông, rồi lấy chuyện bà lão áo đỏ làm lời chứng, là vừa giữ đất vừa giữ lòng người. Người xưa đọc đất không tách khỏi đọc thế cuộc, và chùa Thiên Mụ là ví dụ rõ nhất của lối đọc gộp ấy.

Ngôi Chùa Đang Sống

Thiên Mụ không phải một di tích đóng cửa cho khách xem. Đây là một ngôi chùa đang có tăng chúng tu học, có thời khóa tụng niệm và có các ngày lễ Phật Giáo theo lịch chung.

Các dịp lễ theo lịch Phật Giáo mà chùa cùng giữ với các chùa khác. Lịch cụ thể từng năm do chùa định.
Ngày âm lịchLễGhi chú
Rằm tháng GiêngLễ Thượng NguyênMột trong ba ngày rằm lớn của năm, chùa đông người tới lễ.
Mùng 8 tháng 4Lễ Phật ĐảnTheo lịch Phật Giáo Việt Nam, lễ thường kéo dài tới rằm tháng Tư.
Rằm tháng 7Lễ Vu LanLễ báo hiếu, một trong những dịp đông nhất trong năm ở các chùa Huế.
Rằm và mùng một hàng thángNgày sóc vọngThời khóa tụng niệm và dâng hương thường lệ.

Trong khuôn viên phía sau chùa còn trưng bày chiếc xe Austin gắn với một sự kiện năm 1963 ở Sài Gòn. Thư viện này ghi lại sự có mặt của hiện vật đúng như nó có, và không bàn về các vấn đề chính trị chung quanh sự kiện ấy.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đồi Hà Khê, đường Nguyễn Phúc Nguyên, phường Hương Long, thành phố Huế
Đường tới
Trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía tây. Tới được bằng đường bộ ven sông hoặc bằng thuyền ngược sông Hương.
Toạ độ
16.4536, 107.545
Khi tới nơi

Đây là chùa đang hoạt động, nên lệ nhà chùa là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, không vào khu vực tăng chúng khi chưa được mời. Sân tháp là chỗ đông người chụp ảnh nhất, nhưng khu vực chính điện và tháp mộ thì xin quý vị giữ yên tĩnh.

Chùa có thể tới bằng đường bộ theo đường Nguyễn Phúc Nguyên men bờ sông, hoặc bằng thuyền ngược sông Hương từ trung tâm thành phố. Đi thuyền là lối cũ, và cũng là lối cho quý vị thấy được thế đất của chùa từ phía mặt nước, tức thấy đúng cái mà người xưa đã thấy khi chọn chỗ này.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Thiên Mụ hay chùa Linh Mụ mới đúng

Cả hai đều đúng. Tên gốc là Thiên Mụ, đặt theo chuyện bà lão nhà trời hiện trên đồi. Đời vua Tự Đức chùa mang tên Linh Mụ, và bức hoành Linh Mụ Tự nay vẫn treo ở cổng tam quan. Người Huế dùng cả hai tên.

Chùa dựng năm nào và ai dựng

Khởi lập năm Tân Sửu 1601, do chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho dựng trên đồi Hà Khê. Diện mạo hiện nay là kết quả của nhiều lần trùng tu, đáng kể nhất là năm 1714, năm 1844 và công cuộc trùng tu từ năm 1945 kéo dài hơn ba mươi năm.

Tháp Phước Duyên có phải dựng cùng lúc với chùa không

Không. Chùa dựng năm 1601, tháp dựng năm 1844 dưới đời vua Thiệu Trị, cách nhau hơn hai trăm bốn mươi năm. Tháp cao 21 mét, hình bát giác, bảy tầng, mỗi tầng thờ tượng Phật.

Đại hồng chung nặng bao nhiêu

Chuông đúc năm 1710 đời chúa Nguyễn Phúc Chu, nặng 3.285 cân, tức khoảng 1.986 kg. Chuông đã được công nhận là bảo vật quốc gia.

Vì sao chùa được coi là đất thiêng từ trước khi dựng

Theo chuyện được chép lại, dân quanh vùng đã coi đồi Hà Khê là đất thiêng vì chuyện bà lão áo đỏ. Đọc theo phong thủy thì gò đất nổi cao giữa vùng bằng, có sông Hương uốn chảy phía trước, hội đủ thế tựa sơn hướng thủy, là dạng đất mà người xưa tìm mãi mới được.

Đọc Tiếp