Từ cổng tam quan ở lưng chừng núi, quý vị leo hơn ba trăm bậc đá lên núi Đính, rồi rẽ vào một cửa hang thấp. Bên trong là một khoảng đá dài chừng hai mươi lăm mét, trần cao hơn hai mét, tượng Phật đặt trang nghiêm trong lòng động, ánh sáng tự nhiên từ hai cửa hang hắt vào. Đó là chùa Bái Đính cổ, ngôi chùa gắn với mốc khởi lập năm 1136.
Xuống núi, đi sang sườn đồi bên kia, quý vị bước vào một thế giới khác hẳn với sân rộng, cột lớn, hành lang dài hơn một cây số bày năm trăm pho tượng đá, và bảo tháp mười ba tầng cao trăm mét. Đó là chùa Bái Đính mới, khởi công năm 2003. Hai nơi ấy chung một tên và cách nhau chừng tám trăm mét, nhưng cách nhau gần chín trăm năm. Phân biệt được hai lớp ấy là điều quan trọng bậc nhất khi tới đây.

IHai Ngôi Chùa Cùng Một Tên
Chữ Bái Đính có nghĩa là hướng về đỉnh núi Đính mà lễ bái, chỉ việc người xưa lên núi Đính lập đàn tế trời và lễ Phật. Cái tên ấy thuộc về ngôi chùa cổ. Khi quần thể mới được xây dựng ở sườn núi kề bên vào đầu thế kỷ 21, nó lấy lại tên cũ, và từ đó hai công trình rất khác nhau cùng mang một tên.
Chùa Bái Đính cổ được lập năm 1136 bởi Quốc sư Nguyễn Minh Không (Lý Quốc Sư), người được dân gian tôn là Đức Thánh Nguyễn, và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1997. Khu chùa cổ rộng khoảng 27 héc ta. Chùa Bái Đính mới khởi công năm 2003 do Giáo sư, Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính chủ trì thiết kế kiến trúc, chiếm khoảng 80 héc ta trên sườn núi phía bên kia (tổng diện tích toàn khu quy hoạch gồm cả công viên văn hóa và học viện Phật Giáo là 539 héc ta, trong vùng quy hoạch chung hơn một nghìn héc ta). Cả hai nằm trong phạm vi Quần thể danh thắng Tràng An, nơi được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới hỗn hợp vào ngày 23 tháng 6 năm 2014.
Đây là chỗ hay hiểu lầm trong các điểm hành hương ở nước ta. Rất nhiều người tới đây chỉ đi phần chùa mới vì phần ấy to và dễ đi, rồi về kể lại rằng mình vừa thăm một ngôi chùa cổ gần nghìn năm tuổi. Thực ra những công trình đồ sộ mà họ thấy đều dựng từ năm 2003 trở đi. Phần cổ thật thì nhỏ, nằm trong hang đá trên lưng núi, phải leo hơn ba trăm bậc đá mới tới, và nhiều đoàn khách bỏ qua. Thư viện ghi rõ điều này không phải để chê phần mới, mà để quý vị biết mình đang đứng trước lớp niên đại nào.
Về phần thờ tự, nơi đây giữ một đặc điểm rất Việt Nam là Phật, Thần và Mẫu cùng một khu. Ở chùa cổ, ngoài điện thờ Phật trong hang Sáng, còn có đền thờ thần Cao Sơn là vị thần núi trấn giữ cửa ngõ phía tây kinh đô Hoa Lư (một trong Hoa Lư tứ trấn), đền thờ Đức Thánh Nguyễn tức Quốc sư Nguyễn Minh Không ở ngã ba đầu dốc, và động Mẫu (hang Tối) thờ Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải) cùng Ngũ vị Tôn ông và ban Công Đồng. Theo cách hiểu được giữ ở đây, ba lớp tín ngưỡng ấy không loại trừ nhau, Phật lo phần giải thoát, Thần lo phần đất đai bờ cõi, Mẫu lo phần rừng núi và sinh dưỡng.
IICác Mốc Từ Nhà Lý Đến Nay
Núi Đính nằm sát vùng đất từng là kinh đô Hoa Lư (tương truyền Đinh Tiên Hoàng từng lập đàn tế trời và sau này vua Quang Trung từng làm lễ tế cờ trên núi Đính), nên lớp tích ở đây có cả dấu vết triều đình lẫn dấu vết dân gian. Các mốc dưới đây là những mốc còn khảo được.
- 1136Lập chùa trong hangQuốc sư Nguyễn Minh Không lập chùa trên núi Đính. Tương truyền ông lên núi tìm cây thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, thấy hang đá đẹp thì dựng nơi thờ Phật và lập vườn thuốc quý tại đó.
- Đời Lê Thánh TôngBốn chữ Minh Đỉnh Danh LamVua Lê Thánh Tông khi vãn cảnh chùa đã làm thơ chữ Hán và ban bốn chữ đại tự Minh Đỉnh Danh Lam khắc trên vách đá cửa hang Sáng, nghĩa là lưu danh thơm cảnh đẹp.
- Khoảng hai trăm năm trướcPhát lộ động TốiTheo tư liệu di tích, khi người dân đào tổ mối lớn ở sườn núi đã phát hiện ra động Tối, sau đó lập ban thờ Tam tòa Thánh Mẫu và các vị Tiên.
- 1997Di tích quốc giaKhu chùa Bái Đính cổ được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2003Khởi công chùa mớiQuần thể chùa Bái Đính mới bắt đầu được xây dựng trên sườn núi phía bên kia với quy mô hơn 80 héc ta.
- 2014Nằm trong di sản thế giớiNgày 23 tháng 6 năm 2014, Quần thể danh thắng Tràng An (trong đó có khu vực chùa Bái Đính) được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới hỗn hợp.
IIIHang Đá Và Những Con Số
Phần chùa cổ
Chùa cổ dùng chính hai cái hang trong lòng núi đá vôi làm điện thờ. Lên hết hơn ba trăm bậc đá là tới ngã ba đầu dốc (nơi có đền thờ Thánh Nguyễn), rẽ phải là hang Sáng, rẽ trái là động Tối. Hang Sáng dài khoảng 25 mét, cao hơn 2 mét, chiều rộng các nguồn ghi khoảng 5 mét tới 15 mét, là nơi thờ Phật Tam Bảo. Cửa hang khắc bốn chữ Minh Đỉnh Danh Lam, đi xuyên qua cuối hang Sáng dẫn ra sườn thung lũng có đền thờ thần Cao Sơn với pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng. Động Tối (động Mẫu) sâu và rộng hơn, chia làm bảy buồng đá thông nhau thờ Tam tòa Thánh Mẫu, trong hang có giếng nước tự nhiên (ao tiên) không bao giờ cạn mà dân gian gọi là nhãn long ẩn sơn, tức mắt rồng ẩn trong núi. Dưới chân núi Bái Đính cổ còn có Giếng Ngọc tương truyền là nơi Quốc sư Nguyễn Minh Không lấy nước sắc thuốc, nay được tôn tạo lại thành hồ hình mặt nguyệt đường kính 30 mét.
Phần chùa mới
| Công trình | Con số | Ghi nhận |
|---|---|---|
| Hành lang La Hán | 234 gian, dài 1.052 m, 500 tượng đá xanh | Được ghi nhận là hành lang La Hán dài nhất châu Á |
| Tượng Phật Thích Ca ở điện Pháp Chủ | cao 10 m, nặng 100 tấn, bằng đồng dát vàng | Được ghi nhận là tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á |
| Bộ tượng Tam Thế ở điện Tam Thế | 3 pho, mỗi pho cao 7,2 m, nặng 50 tấn | Đặt tại ngôi điện cao 34 m trên đồi cao nhất của trục chùa mới |
| Tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn | cao 9,57 m, nặng 80 tấn | Bằng đồng, đặt trong điện Quan Âm làm bằng gỗ tứ thiết |
| Tượng Phật Di Lặc ngoài trời | cao 10 m, nặng khoảng 80 tới 100 tấn | Bằng đồng, đặt trên đỉnh đồi cao trong khuôn viên chùa mới |
| Đại hồng chung và Bảo tháp Báo Thiên | chuông 36 tấn, tháp 13 tầng cao 100 m | Dưới chuông đặt trống đồng 70 tấn, tầng đỉnh bảo tháp tôn trí xá lợi Phật |
| Giếng Ngọc | đường kính 30 m, khu sân rộng 6.000 m2 | Mực nước sâu 6 tới 10 m, bốn góc có bốn lầu bát giác, kỷ lục giếng chùa lớn nhất Việt Nam |
Điều đáng nói về phần mới không chỉ là các con số kỷ lục, mà là ngôn ngữ kiến trúc mà nó chọn. Mái cong hình đuôi chim phượng lợp ngói men nâu sẫm Bát Tràng, tượng đá xanh Ninh Vân, đồ đồng Ý Yên, chạm gỗ Phúc Lộc, bố cục theo trục thần đạo dẫn dần lên đồi cao, tất cả nối tiếp thức kiến trúc cổ truyền Bắc Bộ. Nhưng quy mô thì hoàn toàn của thời nay, làm bằng kỹ thuật và vật liệu hiện đại. Quý vị nên nhìn phần mới đúng như nó là, một công trình đương đại mang phong cách truyền thống, đặt cạnh một di tích hang động thời Lý.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Núi Đính nằm ở rìa phía tây vùng núi đá vôi Tràng An, cách nền cố đô Hoa Lư không xa. Đây là vùng đất mà người xưa đã chọn đặt kinh đô, và lý do của lựa chọn ấy đọc theo phong thủy rất rõ, núi đá dựng thành vòng cung che chắn, đồng bằng và sông Hoàng Long mở ra ở phía ngoài, tức thế sơn hoàn thủy bọc, núi vây và nước ôm. Một vùng như vậy vừa kín để giữ khí, vừa có đường thoát để khí không bị tù. Đặt chùa vào rìa của thế đất ấy là mượn lại cái thế mà cả một kinh đô từng mượn.
Chùa cổ trong hang là một ví dụ điển hình của lối chọn huyệt cổ truyền. Người xưa không dựng nhà lớn mà lấy hang đá làm điện thờ. Trong phép xem đất, hang trong lòng núi là chỗ khí tụ đậm đặc, đá vây quanh, gió không xuyên, khí không tán. Mạch nước trong động Tối càng đáng chú ý, vì nước ngầm chảy trong đá là dấu hiệu mà sách địa lý cổ coi là long mạch còn sống. Người xưa gọi mạch nước ấy là nhãn long ẩn sơn (mắt rồng ẩn trong núi), và cách gọi đó không phải chỉ để cho đẹp lời. Lưng chùa cổ tựa hẳn vào khối núi Đính, mặt ngoảnh ra thung lũng phía trước, đúng thế tựa sơn tự nhiên.
Phần chùa mới chọn một lối khác hẳn, và cũng có lý của nó. Thay vì ẩn vào lòng núi, quần thể mới trải ra trên sườn đồi theo một trục dọc từ thấp lên cao (Tam quan, tháp Chuông, điện Quan Âm, điện Pháp Chủ rồi lên cao nhất ở điện Tam Thế), phía trước nhìn ra hồ Đàm Thị và dòng sông Hoàng Long. Đó là bố cục tọa sơn hướng thủy ở dạng mở rộng, hậu chẩm là đỉnh đồi phía sau làm chỗ dựa, minh đường là khoảng thoáng và mặt hồ Đàm Thị phía trước để đón khí, hai bên có các mỏm núi đá vôi làm tả Thanh Long hữu Bạch Hổ. Giếng Ngọc rộng ba mươi mét ở chân núi cổ cũng giữ vai trò một điểm thủy tụ, thứ mà các chùa lớn vẫn hay đặt dưới dạng hồ bán nguyệt.
Đọc theo ngũ hành, hai phần chùa chia nhau hai tính chất. Chùa cổ nằm trong đá, kín, tối, tĩnh, thuộc phần âm và hành Thổ, hợp với việc thờ Phật, thờ Mẫu và thờ thần núi trong sự tĩnh lặng. Chùa mới nằm ngoài trời, rộng, sáng, nhiều đồng và vàng, thuộc phần dương và nặng hành Kim, hợp với việc tiếp hàng vạn người trong một ngày hội lớn. Người xưa dạy rằng một chỗ thờ tự lâu bền cần đủ cả hai mặt động và tĩnh. Ở Bái Đính, hai mặt ấy nằm ở hai công trình cách nhau một sườn núi. Đi hết cả hai thì quý vị mới thấy hết thế đất, còn chỉ đi phần mới thì mới thấy được một nửa.
VLễ Hội Và Lệ
Lễ hội chùa Bái Đính mang một nét riêng so với hội chùa thông thường khi phần lễ không chỉ có Phật mà còn có Thần và Mẫu, và kiệu rước nối liền giữa khu chùa cổ trong hang đá với khu chùa mới trên sườn đồi.
| Ngày âm lịch | Việc | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tháng Giêng | Mở đầu | Khách thập phương bắt đầu về lễ đầu năm từ chiều mùng 1 Tết, trước ngày khai hội chính thức. |
| Mùng 6 tháng Giêng | Khai hội | Lễ khai hội chính thức, gồm gióng trống thỉnh chuông, dâng lục cúng, dâng hương cầu quốc thái dân an, tưởng nhớ công đức Quốc sư Nguyễn Minh Không, lễ tế thần Cao Sơn và chầu Thánh Mẫu Thượng Ngàn. |
| Mùng 6 tháng Giêng | Rước kiệu | Rước kiệu bài vị thờ Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà Chúa Thượng Ngàn kết nối giữa khu chùa cổ trên núi Đính và khu chùa mới. |
| Từ mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng Ba | Mùa hội | Hội kéo dài suốt ba tháng xuân, có thêm phần hội với hát chèo, hát xẩm đất cố đô và tái hiện lễ đăng đàn xã tắc của Đinh Tiên Hoàng cùng lễ tế cờ của vua Quang Trung. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật đản | Lễ theo lịch chung của Phật Giáo, tổ chức trang nghiêm trong khuôn viên chùa. |
Việc rước kiệu giữa chùa cổ và chùa mới có ý nghĩa riêng. Nó nhắc rằng dù phần mới có đồ sộ tới đâu thì gốc tâm linh của nơi này vẫn gắn với các hang đá và đền thờ từ thời Đinh, thời Lý trên núi Đính. Mỗi năm một lần vào đầu xuân, đoàn rước nối lại mạch truyền thống ấy để người hành hương nhớ về cội nguồn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Tây Hoa Lư (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn cũ), tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Chùa nằm trên núi Đính thuộc phường Tây Hoa Lư (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn cũ), tỉnh Ninh Bình, gần khu vực cố đô Hoa Lư và Quần thể danh thắng Tràng An, cách trung tâm Hoa Lư chừng mười lăm tới mười tám cây số theo đường bộ.
- Toạ độ
- 20.2769, 105.8628
Nếu quý vị chỉ có ít thời gian, xin đừng bỏ phần chùa cổ. Nhiều đoàn khách đi hết phần mới rồi về, và như vậy là chưa gặp cái gốc của nơi này. Đường lên chùa cổ hơn ba trăm bậc đá, trong hang trần thấp và nền có chỗ ẩm trơn, nên cần đi chậm và cúi đầu ở những đoạn hẹp.
Về lệ thờ tự, khách cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào điện và vào hang, không chạm tay vào tượng hay các khối nhũ đá, và nói khẽ trong hang vì tiếng vang rất lớn. Khu chùa mới rất rộng và nhiều bậc, nên quý vị liệu sức và liệu thời gian, đi hết cả hai phần thường mất trọn một buổi dài.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bái Đính
Contribute photos, information or video for Bai Dinh PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bái Đính có phải chùa cổ nghìn năm không
Chỉ một phần. Chùa Bái Đính cổ nằm trong hang đá trên núi Đính, được Quốc sư Nguyễn Minh Không lập năm 1136, tức gần chín trăm năm. Còn quần thể chùa Bái Đính mới với các điện thờ đồ sộ mà phần lớn khách nhìn thấy thì khởi công năm 2003, là công trình đương đại làm theo phong cách truyền thống.
Chùa Bái Đính thờ ai
Chùa thờ Phật, đồng thời ở khu chùa cổ còn thờ thần Cao Sơn (vị thần núi trấn giữ phía tây cố đô Hoa Lư), thờ Đức Thánh Nguyễn (Quốc sư Nguyễn Minh Không, người lập chùa) và thờ Tam tòa Thánh Mẫu trong động Tối. Đây là kiểu bố trí tiền Phật hậu Thần, kết hợp thờ Mẫu rất đặc trưng của vùng cố đô.
Hang Sáng và động Tối khác nhau thế nào
Hang Sáng dài khoảng 25 mét, cao hơn 2 mét, thờ Phật Tam Bảo, có ánh sáng tự nhiên lọt vào từ hai đầu và dẫn thông sang đền thờ thần Cao Sơn. Động Tối (động Mẫu) sâu và rộng hơn với bảy buồng đá, thờ Tam tòa Thánh Mẫu và các vị Tiên, trong hang có giếng nước tự nhiên (ao tiên) không bao giờ cạn được gọi là mắt rồng ẩn trong núi.
Chùa Bái Đính giữ những kỷ lục nào
Theo tư liệu công bố của khu di tích, chùa có hành lang La Hán dài 1.052 mét với 500 tượng đá xanh, tượng Phật Thích Ca bằng đồng dát vàng cao 10 mét nặng 100 tấn ở điện Pháp Chủ, bộ ba tượng Tam Thế mỗi pho nặng 50 tấn, đại hồng chung nặng 36 tấn, bảo tháp Báo Thiên 13 tầng cao 100 mét, và Giếng Ngọc đường kính 30 mét.
Lễ hội chùa Bái Đính diễn ra khi nào
Khách về lễ từ chiều mùng 1 Tết, hội khai chính thức vào mùng 6 tháng Giêng âm lịch và kéo dài tới hết tháng Ba âm lịch. Trong ngày khai hội có nghi thức rước kiệu bài vị Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà Chúa Thượng Ngàn kết nối giữa khu chùa cổ trên núi và khu chùa mới.