VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bái Đính

拜頂寺

Một cái tên gọi chung cho hai ngôi chùa cách nhau gần chín trăm năm: một ngôi nằm khuất trong hang đá, một ngôi trải trên tám mươi héc ta sườn núi.

Chùa cổ
1136
thiền sư Nguyễn Minh Không lập, 27 ha
Chùa mới
2003
khởi công, hơn 80 ha
Hành lang La Hán
500 tượng
dài 1.052 mét, tượng bằng đá

Từ cổng tam quan, quý vị leo hơn ba trăm bậc đá lên lưng chừng núi Đính, rồi rẽ vào một cửa hang thấp. Bên trong là một khoảng đá dài chừng hai mươi lăm mét, trần cao hơn hai mét, tượng Phật đặt sát vách, ánh sáng chỉ có từ cửa hang hắt vào. Đó là chùa Bái Đính cổ, ngôi chùa đã đứng ở đó từ năm 1136.

Xuống núi, đi thêm ít phút, quý vị bước vào một thế giới khác hẳn: sân rộng, cột đá lớn, hành lang dài hơn một cây số với năm trăm pho tượng đá, tháp mười ba tầng cao trăm mét. Đó là chùa Bái Đính mới, khởi công năm 2003. Hai nơi ấy chung một tên và cách nhau vài trăm mét, nhưng cách nhau gần chín trăm năm; phân biệt được hai lớp ấy là điều quan trọng nhất khi tới đây.

Chùa Bái Đính
Chùa Bái Đính. Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Hai Ngôi Chùa Cùng Một Tên

Chữ Bái Đính có nghĩa là lễ bái trên đỉnh núi, chỉ việc người xưa lên đỉnh núi Đính mà hành lễ. Cái tên ấy thuộc về ngôi chùa cổ. Khi quần thể mới được xây dựng ở sườn núi kề bên vào đầu thế kỷ 21, nó lấy lại tên cũ, và từ đó hai công trình rất khác nhau cùng mang một tên.

Theo sử liệu

Chùa Bái Đính cổ được lập năm 1136 bởi thiền sư Nguyễn Minh Không, người được dân gian tôn là Đức Thánh Nguyễn, và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1997. Khu chùa cổ chiếm khoảng 27 héc ta. Chùa Bái Đính mới khởi công năm 2003, chiếm hơn 80 héc ta trên sườn núi kế bên. Cả hai nằm trong phạm vi quần thể danh thắng Tràng An, nơi được UNESCO ghi danh là di sản thế giới hỗn hợp năm 2014. Toàn khu vực quy hoạch rộng trên một nghìn héc ta.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất trong các di tích Phật giáo ở nước ta. Rất nhiều người tới đây, chỉ đi phần chùa mới vì phần ấy to và dễ đi, rồi về kể lại rằng mình vừa thăm một ngôi chùa cổ gần nghìn năm tuổi. Thực ra những công trình đồ sộ mà họ thấy đều dựng sau năm 2003. Phần cổ thật thì nhỏ, tối, nằm trên lưng núi, phải leo hơn ba trăm bậc đá mới tới, và rất nhiều đoàn khách bỏ qua. Chúng tôi ghi rõ điều này không phải để chê phần mới, mà để quý vị biết mình đang đứng trước lớp niên đại nào.

Theo giáo nghĩa

Về phần thờ tự, nơi đây giữ một đặc điểm rất Việt Nam: Phật, Thần và Mẫu cùng một khu. Ở chùa cổ, ngoài điện thờ Phật trong hang Sáng, còn có đền thờ thần Cao Sơn là vị thần núi bản địa, đền thờ Đức Thánh Nguyễn tức thiền sư Nguyễn Minh Không, và ban thờ Mẫu Thượng Ngàn đặt trong hang Tối. Theo cách hiểu được giữ ở đây, ba lớp tín ngưỡng ấy không loại trừ nhau: Phật lo phần giải thoát, Thần lo phần đất đai bờ cõi, Mẫu lo phần rừng núi và sinh dưỡng.

Các Mốc Từ Nhà Lý Đến Nay

Núi Đính nằm sát vùng đất từng là kinh đô Hoa Lư, nên lớp tích ở đây có cả dấu vết nhà nước lẫn dấu vết dân gian. Các mốc dưới đây là những mốc còn khảo được.

  • 1136Lập chùa trong hang
    Thiền sư Nguyễn Minh Không lập chùa trên núi Đính. Tương truyền ông lên núi tìm cây thuốc chữa bệnh cho vua, thấy hang đá đẹp thì dựng nơi thờ Phật tại đó.
  • Đời Lê Thánh TôngBốn chữ trên vách đá
    Vua Lê Thánh Tông cho khắc bốn chữ Hán Minh Đỉnh Danh Lam trên vách đá cửa động, ghi nhận đây là danh lam của vùng.
  • Khoảng hai trăm năm trướcPhát lộ hang Tối
    Theo tư liệu di tích, hang Tối được phát hiện cách nay hơn hai trăm năm, sau đó thành nơi thờ Mẫu.
  • 1997Di tích quốc gia
    Chùa Bái Đính cổ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2003Khởi công chùa mới
    Quần thể chùa Bái Đính mới bắt đầu được xây dựng trên sườn núi kề bên, quy mô hơn 80 héc ta.
  • 2014Nằm trong di sản thế giới
    Quần thể danh thắng Tràng An, trong đó có khu vực chùa Bái Đính, được UNESCO ghi danh là di sản thế giới hỗn hợp.

Hang Đá Và Những Con Số

Phần chùa cổ

Chùa cổ không có nhà. Nó dùng chính hai cái hang trong lòng núi làm điện thờ. Hang Sáng dài khoảng 25 mét, rộng 5 mét, cao hơn 2 mét, là nơi thờ Phật; hang có tên ấy vì ánh sáng ngoài trời lọt được vào tới trong. Hang Tối thờ Mẫu, sâu và kín hơn, trong hang có mạch nước không bao giờ cạn mà người xưa gọi là mắt rồng ẩn trong núi. Phía sau hang Sáng là ban thờ thần Cao Sơn với pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng.

Phần chùa mới

Các con số của phần chùa mới, theo tư liệu công bố của khu di tích. Toàn bộ các công trình trong bảng đều thuộc phần xây dựng từ năm 2003 trở đi.
Công trìnhCon sốGhi nhận
Hành lang La Hán1.052 m, 500 tượng đáĐược ghi nhận là hành lang La Hán dài nhất châu Á
Tượng Phật Thích Ca ở điện Pháp Chủkhoảng 100 tấn, bằng đồng dát vàngĐược ghi nhận là tượng Phật bằng đồng lớn nhất châu Á
Tượng Phật Di Lặckhoảng 80 tấn, cao 10 mĐặt trên đồi cao trong khuôn viên chùa mới
Tượng Quan Thế Âmkhoảng 80 tấn, cao 9,57 mBằng đồng, đặt trong điện Quan Âm
Chuông đồng Đại Hồng36 tấnTreo tại tháp chuông, được ghi nhận là chuông đồng lớn nhất Việt Nam
Bảo tháp Báo Thiên13 tầng, cao 100 mTháp đặt xá lợi Phật, được ghi nhận là bảo tháp cao nhất khu vực
Giếng Ngọcđường kính 30 m, sâu 10 mĐược ghi nhận là giếng chùa lớn nhất Việt Nam

Điều đáng nói về phần mới không phải là các con số kỷ lục, mà là ngôn ngữ kiến trúc mà nó chọn. Mái cong, cột đá lớn, ngói men, bố cục theo trục dọc dẫn dần lên cao: đó là lối cổ. Nhưng quy mô thì hoàn toàn của thời nay, chỉ làm được bằng vật liệu và phương tiện hiện đại. Quý vị nên nhìn phần mới đúng như nó là: một công trình đương đại làm theo phong cách truyền thống, chứ không phải một di tích.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Núi Đính nằm trong dải núi đá vôi của vùng Tràng An, cách nền cố đô Hoa Lư không xa. Đây là vùng đất mà người xưa đã chọn đặt kinh đô, và lý do của lựa chọn ấy đọc theo phong thủy rất rõ: núi đá dựng thành vòng cung che ba mặt, đồng bằng và sông nước mở ở mặt còn lại, tức thế sơn hoàn thủy bọc, núi vây và nước ôm. Một vùng như vậy vừa kín để giữ khí, vừa có đường thoát để khí không bị tù. Đặt chùa vào rìa của thế đất ấy là mượn lại cái thế mà cả một triều đình từng mượn.

Chùa cổ trong hang là một ví dụ sách vở của lối chọn huyệt cổ truyền. Người xưa không dựng nhà mà lấy hang đá làm điện thờ. Trong phép xem đất, hang trong lòng núi là chỗ khí tụ đậm nhất: đá vây bốn bề, chỉ một cửa thông, gió không xuyên, khí không tán. Mạch nước trong hang Tối càng đáng chú ý, vì nước ngầm chảy trong đá là dấu hiệu mà sách địa lý cổ coi là long mạch còn sống; người xưa gọi mạch nước ấy là mắt rồng, và cách gọi đó không phải chỉ để cho đẹp lời. Lưng chùa cổ tựa hẳn vào khối núi, mặt ngoảnh ra thung lũng phía trước, đúng thế tựa sơn mà không cần thêm gì.

Phần chùa mới chọn một lối khác hẳn, và cũng có lý của nó. Thay vì ẩn vào núi, quần thể mới trải ra trên sườn núi theo một trục dọc, các lớp điện thờ nối nhau đi lên cao dần, phía trước mở ra khoảng bằng và mặt hồ. Đó là bố cục tọa sơn hướng thủy ở dạng kinh điển: hậu chẩm là khối núi phía sau làm chỗ dựa, minh đường là khoảng thoáng và mặt nước phía trước để đón khí, hai bên có các mỏm núi thấp làm tay long tay hổ. Cái giếng Ngọc rộng ba mươi mét nằm trong khuôn viên cũng giữ vai trò một điểm tụ thủy nhân tạo, thứ mà các chùa lớn ở đồng bằng vẫn hay đặt dưới dạng ao sen hoặc hồ bán nguyệt.

Đọc theo ngũ hành, hai phần chùa chia nhau hai tính chất. Chùa cổ nằm trong đá, kín, tối, tĩnh, thuộc phần âm và hành Thổ, hợp với việc thờ Mẫu và thờ thần núi, hợp với người tới để lặng. Chùa mới nằm ngoài trời, rộng, sáng, nhiều đồng và vàng, thuộc phần dương và nặng hành Kim, hợp với việc tiếp hàng vạn người trong một ngày lễ. Người xưa dạy rằng một chỗ thờ tự lâu bền cần đủ cả hai mặt động và tĩnh; ở Bái Đính, hai mặt ấy không nằm chung một công trình mà nằm ở hai công trình cách nhau vài trăm mét. Đi hết cả hai thì quý vị mới thấy hết thế đất, còn chỉ đi phần mới thì mới thấy được một nửa.

Lễ Hội Và Lệ

Lễ hội chùa Bái Đính mang một nét riêng so với hội chùa thông thường: phần lễ không chỉ có Phật mà còn có Thần và Mẫu, và kiệu được rước từ chùa mới lên chùa cổ, tức từ nơi mới về nơi gốc.

Các mốc chính trong năm tại chùa Bái Đính.
Ngày âm lịchViệcNội dung
Mùng 1 tháng GiêngMở đầuKhách bắt đầu về lễ đầu năm, trước ngày khai hội chính thức.
Mùng 6 tháng GiêngKhai hộiLễ khai hội chính, gồm dâng hương cầu quốc thái dân an, dâng lục cúng, tưởng nhớ công đức Quốc sư Nguyễn Minh Không, lễ tế thần Cao Sơn và chầu Thánh Mẫu Thượng Ngàn.
Mùng 6 tháng GiêngRước kiệuRước kiệu bài vị thờ Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà chúa Thượng Ngàn, rước lễ từ khu chùa mới lên chùa cổ trên núi.
Từ mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng BaMùa hộiHội kéo dài gần ba tháng, khách hành hương về liên tục trong suốt mùa xuân.
Rằm tháng TưLễ Phật đảnLễ theo lịch chung của Phật giáo, tổ chức trong khuôn viên chùa.

Việc rước kiệu lên chùa cổ có ý nghĩa riêng. Nó nhắc rằng dù phần mới có lớn tới đâu thì gốc của nơi này vẫn nằm trong hang đá trên núi. Mỗi năm một lần, cả đoàn người đi ngược lên chỗ ấy, và trật tự trước sau được đặt lại cho đúng.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Chùa nằm trên núi Đính thuộc tỉnh Ninh Bình, gần khu vực cố đô Hoa Lư và quần thể danh thắng Tràng An, cách trung tâm thành phố Ninh Bình chừng mười lăm cây số theo đường bộ.
Toạ độ
20.2683, 105.87
Khi tới nơi

Nếu quý vị chỉ có ít thời gian, xin đừng bỏ phần chùa cổ. Nhiều đoàn khách đi hết phần mới rồi về, và như vậy là chưa gặp cái gốc của nơi này. Đường lên chùa cổ hơn ba trăm bậc đá, trong hang trần thấp và nền có chỗ ẩm trơn, nên đi chậm và cúi đầu ở những đoạn hẹp.

Về lệ thờ tự: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào điện và vào hang, không chạm tay vào tượng và vào các khối nhũ đá, nói khẽ trong hang vì tiếng vang rất lớn. Khu chùa mới rất rộng và nhiều bậc, nên quý vị liệu sức và liệu thời gian; đi hết cả hai phần thường mất trọn một buổi dài.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Bái Đính có phải chùa cổ nghìn năm không

Chỉ một phần. Chùa Bái Đính cổ nằm trong hang trên núi Đính, được thiền sư Nguyễn Minh Không lập năm 1136, tức gần chín trăm năm. Còn quần thể chùa Bái Đính mới với các công trình đồ sộ mà phần lớn khách nhìn thấy thì khởi công năm 2003, là công trình đương đại làm theo phong cách truyền thống.

Chùa Bái Đính thờ ai

Chùa thờ Phật, đồng thời thờ thần Cao Sơn là thần núi bản địa, thờ Đức Thánh Nguyễn tức thiền sư Nguyễn Minh Không người lập chùa, và thờ Mẫu Thượng Ngàn trong hang Tối. Đây là kiểu bố trí Phật, Thần và Mẫu cùng một khu, rất thường thấy ở các chùa Bắc Bộ.

Hang Sáng và hang Tối khác nhau thế nào

Hang Sáng dài khoảng 25 mét, rộng 5 mét, cao hơn 2 mét, thờ Phật, có tên như vậy vì ánh sáng ngoài trời lọt được vào trong. Hang Tối sâu và kín hơn, thờ Mẫu, trong hang có mạch nước không bao giờ cạn mà dân gian gọi là mắt rồng ẩn trong núi.

Chùa Bái Đính giữ những kỷ lục nào

Theo tư liệu công bố của khu di tích: hành lang La Hán dài 1.052 mét với 500 tượng đá, tượng Phật bằng đồng khoảng 100 tấn ở điện Pháp Chủ, chuông đồng Đại Hồng nặng 36 tấn, bảo tháp Báo Thiên 13 tầng cao 100 mét, và giếng Ngọc đường kính 30 mét sâu 10 mét. Tất cả đều thuộc phần chùa mới.

Lễ hội chùa Bái Đính diễn ra khi nào

Khách về lễ từ mùng 1 Tết, hội khai chính thức vào mùng 6 tháng Giêng âm lịch và kéo dài tới hết tháng Ba âm lịch. Trong ngày khai hội có lễ rước kiệu bài vị Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà chúa Thượng Ngàn từ khu chùa mới lên chùa cổ trên núi.

Đọc Tiếp