Đi từ hướng thị trấn Kim Sơn tới, thứ quý vị gặp trước tiên không phải một mặt tiền nhà thờ mà là một mặt hồ hình chữ nhật rộng chừng bốn hecta, giữa hồ có đảo nhỏ. Qua khỏi hồ mới tới phương đình, một tòa nhà vuông ba tầng xây bằng đá xanh, mái cong bốn góc, treo quả chuông lớn. Nếu không biết trước, quý vị dễ tưởng mình đang đứng trước một ngôi đình làng chứ không phải trước nhà thờ chính tòa của một giáo phận.
Đó chính là điều làm Phát Diệm khác mọi nhà thờ khác ở Việt Nam. Phần lớn nhà thờ Công giáo dựng thời ấy đều theo lối Gothic hoặc Roman, tháp nhọn vươn thẳng, cửa sổ kính màu. Phát Diệm đi đường khác: mái cong, cột gỗ lim, hồ nước phía trước, hang đá phía sau. Cùng một đức tin, nhưng nói bằng ngữ pháp kiến trúc của đình chùa Việt Nam.

壹Một Nhà Thờ Nói Bằng Tiếng Bản Địa
Trước khi nói tới đá và gỗ, cần nói tới ý định. Người chủ trì công trình là linh mục Phêrô Trần Lục, giáo dân quen gọi là cụ Sáu, về làm chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865. Ông tự vẽ mẫu và trực tiếp chỉ huy việc dựng, với mục đích được ghi lại là diễn tả sự hòa hợp giữa Kitô giáo với nền văn hóa kiến trúc của dân tộc.
Theo giáo lý Công giáo, nhà thờ là nơi cộng đoàn tín hữu quy tụ để cử hành thánh lễ, và phần thánh thiêng nhất là cung thánh, nơi đặt bàn thờ và nhà tạm giữ Thánh Thể. Một ngôi nhà thờ được gọi là nhà thờ chính tòa khi đó là nhà thờ đặt tòa của giám mục giáo phận, tức nhà thờ mẹ của cả giáo phận. Nhà thờ lớn ở Phát Diệm dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, và cả quần thể là nhà thờ chính tòa của giáo phận Phát Diệm. Việc dùng hình thức kiến trúc bản địa để diễn tả đức tin, trong ngôn ngữ của Giáo hội, được gọi là hội nhập văn hóa.
Về mặt khảo được, quần thể được xây trong khoảng thời gian từ năm 1875 đến năm 1899, trên vùng đất Kim Sơn vốn là đất bồi mới khai khẩn, cách Hà Nội chừng 120 cây số về phía nam. Toàn khu rộng khoảng 22 hecta, trong đó riêng mặt hồ phía trước đã chiếm chừng 4 hecta. Công trình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1988.
Tên gọi hay gây nhầm. Nhà thờ đá trong cách nói dân gian thường dùng để chỉ cả quần thể, nhưng đúng nghĩa thì đó là tên của một công trình riêng: ngôi nhà thờ nhỏ dựng năm 1883, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét, làm gần như toàn bằng đá. Ngôi này được các nguồn ghi tước hiệu khác nhau, chỗ ghi Trái Tim Đức Mẹ, chỗ ghi Đức Mẹ Vô Nhiễm; cả hai đều là tước hiệu kính Đức Mẹ. Còn ngôi lớn nhất trong quần thể là nhà thờ lớn kính Đức Mẹ Mân Côi, dựng bằng gỗ lim và đá chứ không phải toàn đá.
貳Hai Mươi Bốn Năm Dựng Một Quần Thể
Quần thể không dựng một lần mà dựng dần suốt gần một phần tư thế kỷ, mỗi hạng mục một thời điểm. Điều đáng nể là toàn bộ được làm ở một vùng đất bồi lầy, không có đá tại chỗ, không có gỗ lớn tại chỗ; đá và gỗ đều phải chở về từ xa bằng đường thủy và đường bộ thô sơ.
- 1865Cha Trần Lục về Phát DiệmLinh mục Phêrô Trần Lục nhận nhiệm sở chánh xứ Phát Diệm. Ông là người vẽ mẫu và chỉ huy toàn bộ việc xây dựng về sau.
- 1875Khởi công quần thểNăm mở đầu của cả công trình. Cùng năm này, hang đá đầu tiên là Núi Sinh Nhật được đắp, ban đầu mang tên Núi Táng Xác.
- 1883Dựng nhà thờ đáNgôi nhà thờ nhỏ làm gần như toàn bằng đá, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét. Đây là công trình về sau khiến cả quần thể mang tên nhà thờ đá.
- 1889Nhà nguyện Trái Tim Chúa GiêsuNgôi đầu tiên trong nhóm bốn nhà nguyện nhỏ vây quanh nhà thờ lớn.
- 1891Hoàn thành nhà thờ lớnNhà thờ lớn kính Đức Mẹ Mân Côi, dài 74 mét, rộng 21 mét, cao 15 mét, dựng trên sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối.
- 1895Nhà nguyện Thánh RôcôTiếp đó là nhà nguyện Thánh Giuse và nhà nguyện Thánh Phêrô, cả hai hoàn thành năm 1896.
- 1896Đắp Núi Lộ ĐứcHang đá nhân tạo thứ hai. Hang thứ ba là Núi Sọ, đắp năm 1898.
- 1899Hoàn thành phương đìnhTòa nhà vuông ba tầng bằng đá xanh, cao 25 mét, rộng 17 mét, dài 24 mét. Đây là hạng mục khép lại toàn bộ quần thể.
- 1988Di tích quốc giaQuần thể được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
參Phương Đình, Cột Lim Và Đá Chạm
Quần thể xếp theo một trục dọc rõ ràng: hồ nước, rồi phương đình, rồi nhà thờ lớn, hai bên là bốn nhà nguyện nhỏ, phía sau là nhà thờ đá và ba hang đá nhân tạo. Ai từng đi đình chùa Bắc Bộ sẽ nhận ra ngay cái trục ấy, vì nó chính là lối bố cục quen thuộc của đình làng: cổng, sân, đại đình, hậu cung.
Hồ hình chữ nhật rộng khoảng 4 hecta, giữa có đảo nhỏ. Đây là hạng mục đầu tiên người tới gặp, và cũng là thứ khiến quần thể không giống bất cứ nhà thờ nào khác ở Việt Nam.
Tòa nhà vuông ba tầng bằng đá xanh, cao 25 mét, rộng 17 mét, dài 24 mét, hoàn thành năm 1899. Tầng dưới đặt một sập đá lớn dài 4,2 mét, rộng 3,2 mét, dày 0,3 mét. Trên cao treo quả chuông đúc năm 1890, cao 1,4 mét, đường kính 1,1 mét, nặng gần 2.000 ki lô gam.
Dài 74 mét, rộng 21 mét, cao 15 mét, hoàn thành năm 1891, dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Bộ khung dựng trên sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối, tổng cộng 48 cột; các cột giữa cao tới 11 mét, mỗi cột nặng chừng 10 tấn. Bàn thờ là một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,8 mét, nặng khoảng 20 tấn.
Dựng năm 1883, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét, làm gần như toàn bằng đá kể cả cột, xà và chấn song, trên đá chạm các đề tài hoa lá và chim muông theo lối chạm đình chùa.
Bốn nhà nguyện nhỏ vây hai bên nhà thờ lớn, dựng trong các năm 1889, 1895 và 1896. Ba hang đá nhân tạo là Núi Sinh Nhật năm 1875, Núi Lộ Đức năm 1896 và Núi Sọ năm 1898.
| Yếu tố | Ở Phát Diệm | Ở nhà thờ Gothic cùng thời |
|---|---|---|
| Khối đứng trước | Phương đình vuông, ba tầng, mái cong bốn góc | Tháp chuông đôi vươn nhọn lên cao |
| Bộ khung chịu lực | Sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối, 48 cột | Trụ đá và vòm cuốn nhọn |
| Mái | Mái ngói cong, đầu đao hất lên | Mái dốc đứng, chóp nhọn |
| Ánh sáng | Cửa đá chấn song, ánh sáng vào hạn chế và dịu | Cửa sổ kính màu lớn, ánh sáng nhiều màu |
| Cảnh quan trước mặt | Hồ nước rộng chừng 4 hecta có đảo giữa | Quảng trường lát đá |
Điều kiện kỹ thuật cũng là chỗ thường được nhắc. Toàn bộ đá và gỗ lim đều phải chuyển về từ nơi khác, trên nền đất bồi yếu của vùng Kim Sơn mới khai khẩn, trong thời chưa có máy móc. Những cột lim nặng chừng 10 tấn và phiến đá bàn thờ nặng khoảng 20 tấn đều được đưa vào vị trí bằng sức người.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Điều khảo được là cha Trần Lục đã cố ý dựng công trình theo lối kiến trúc bản địa, với mục đích diễn tả sự hòa hợp giữa Kitô giáo và văn hóa dân tộc. Việc đem thước phong thủy ra đo lối kiến trúc ấy là kiến giải của chúng tôi, không phải ý đã được người dựng nói ra.
Yếu tố dễ thấy nhất là hồ nước phía trước. Trong phép xem đất, khoảng trống ngay trước công trình gọi là minh đường, và minh đường tốt nhất là minh đường có nước, vì nước vừa làm gương sáng vừa giữ khí lại không cho tán. Hồ ở đây hình chữ nhật, rộng chừng 4 hecta, có đảo nhỏ ở giữa; xét theo hình thể thì đó là kiểu thủy tụ, nước đứng chứ không chảy xiết, và đảo giữa hồ đóng vai án, tức vật chắn nhẹ giữ cho tầm nhìn không hút thẳng ra xa. Đình làng Bắc Bộ hay có ao trước cửa cũng theo đúng lẽ ấy.
Yếu tố thứ hai là phương đình. Tên gọi đã nói rõ: phương là vuông, đình là nhà. Đây là một tòa nhà vuông đặt chắn trước nhà thờ lớn, đúng vị trí mà đình làng dành cho nghi môn hoặc gác chuông. Đọc theo phong thủy, khối này làm hai việc cùng lúc. Thứ nhất là hoãn xung, chặn luồng khí đi thẳng một mạch từ ngoài vào cửa chính, buộc người và khí phải vòng qua hai bên. Thứ hai là lập thế, tạo một tầng lớp trung gian giữa ngoài và trong, khiến không gian có nhịp chứ không phơi bày hết ngay từ đầu. Mái cong bốn góc của phương đình, xét theo hình thể ngũ hành, thuộc hành Thủy vì đường lượn mềm; đứng ngay sau mặt hồ cũng thuộc Thủy, hai thứ ấy nối nhau thành một dải liên tục dẫn vào trong.
Yếu tố thứ ba là tọa hướng và hậu chẩm. Quần thể mở về phía nam, hướng mà đình chùa đồng bằng Bắc Bộ chuộng nhất vì đón gió nồm mùa hạ và tránh gió bấc mùa đông. Phía sau nhà thờ lớn là nhà thờ đá và ba hang đá nhân tạo. Ba ngọn núi giả ấy, dù được đắp vì lý do đạo đức là để mô phỏng những nơi thánh, lại nằm đúng chỗ mà phép xem đất gọi là hậu chẩm, tức gối tựa sau lưng. Ở một vùng đất bồi phẳng lì không có ngọn núi nào, việc đắp núi phía sau chính là phép tài bồi mà sách xưa nói tới: chỗ nào thiếu thì bồi thêm cho đủ thế, trước có nước, sau có núi.
Điều cuối cùng, và cũng là điều chúng tôi muốn quý vị giữ lại. Không có tư liệu nào cho biết cha Trần Lục có xem phong thủy hay không, và chúng tôi không khẳng định điều ấy. Nhưng ông đã dùng đúng bộ ngôn ngữ kiến trúc của đình chùa Việt Nam, mà bộ ngôn ngữ ấy vốn được hình thành trong hàng trăm năm dưới ảnh hưởng của phép xem đất. Dùng lại ngữ pháp thì hưởng lại cả cú pháp: ao trước, đình vuông chắn giữa, nhà lớn quay nam, núi tựa sau lưng. Đó là lý do một nhà thờ Công giáo lại đọc được bằng thước phong thủy, mà không cần người dựng nó phải có ý ấy.
伍Lễ Và Lệ Trong Năm
Là nhà thờ chính tòa của giáo phận, Phát Diệm giữ đủ lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo, tính theo dương lịch. Ngoài ra nơi này còn có các dịp riêng gắn với tước hiệu của từng ngôi nhà thờ trong quần thể.
| Thời điểm | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 25 tháng 12 | Lễ Giáng Sinh | Dịp lớn nhất trong năm về số người quy tụ; toàn khu quần thể được trang hoàng, có hang đá và các sinh hoạt của giáo xứ. |
| Tuần Thánh và Phục Sinh | Tam Nhật Vượt Qua | Chuỗi cử hành trọng thể nhất của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Ngày 7 tháng 10 | Lễ Đức Mẹ Mân Côi | Lễ theo tước hiệu của nhà thờ lớn; tháng Mười cũng là tháng Mân Côi trong lịch phụng vụ. |
| Ngày 8 tháng 12 | Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội | Gắn với tước hiệu kính Đức Mẹ của ngôi nhà thờ đá. |
| Ngày 2 tháng 11 | Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời | Giáo dân trong vùng giữ lệ ra phần mộ và tham dự thánh lễ cầu nguyện cho người đã khuất. |
Ngoài lịch phụng vụ, nơi này còn có các dịp chầu Thánh Thể theo phiên luân phiên của các giáo xứ trong giáo phận. Vùng Kim Sơn có mật độ giáo dân cao, nên vào những dịp lớn, số người tới không chỉ từ giáo xứ sở tại mà từ khắp các xứ họ chung quanh.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Quần thể nằm ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 120 cây số về phía nam; từ thành phố Ninh Bình đi xuống theo hướng Kim Sơn là đường thuận nhất.
- Toạ độ
- 20.0836, 106.0817
Đây là nhà thờ chính tòa đang hoạt động chứ không phải một khu tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong nhà thờ, đi nhẹ nói khẽ, và đặc biệt là không đi lại hay chụp ảnh ở khu cung thánh, phần không gian đặt bàn thờ và nhà tạm. Nếu tới đúng lúc đang có thánh lễ, xin quý vị đợi bên ngoài hoặc ngồi phía cuối nhà thờ và giữ yên lặng.
Nếu quý vị đi để xem kiến trúc, nên dành thì giờ cho ba chỗ: phù điêu chạm trên đá ở mặt trong phương đình, hàng cột lim trong nhà thờ lớn, và phần đá chạm của ngôi nhà thờ đá phía sau. Ba chỗ ấy chứa phần lớn cái tinh của công trình.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ đá Phát Diệm xây năm nào và ai xây
Quần thể được xây trong khoảng từ năm 1875 đến năm 1899, do linh mục Phêrô Trần Lục, giáo dân quen gọi là cụ Sáu, tự vẽ mẫu và chỉ huy. Ông về làm chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865.
Vì sao gọi là nhà thờ đá
Tên ấy vốn là tên của một công trình riêng trong quần thể: ngôi nhà thờ nhỏ dựng năm 1883, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét, làm gần như toàn bằng đá kể cả cột và chấn song. Về sau người ta quen dùng tên này để gọi cả khu. Ngôi lớn nhất trong quần thể là nhà thờ lớn kính Đức Mẹ Mân Côi, dựng bằng gỗ lim và đá.
Phương đình là gì
Phương đình nghĩa là nhà vuông, là tòa nhà ba tầng bằng đá xanh đứng trước nhà thờ lớn, cao 25 mét, rộng 17 mét, dài 24 mét, hoàn thành năm 1899. Trên đó treo quả chuông đúc năm 1890, nặng gần 2.000 ki lô gam. Vị trí và hình dáng của nó tương ứng với gác chuông hoặc nghi môn của đình làng Việt Nam.
Quần thể gồm những công trình nào
Gồm hồ nước rộng chừng 4 hecta phía trước, phương đình, nhà thờ lớn, bốn nhà nguyện nhỏ hai bên, nhà thờ đá phía sau, và ba hang đá nhân tạo là Núi Sinh Nhật, Núi Lộ Đức và Núi Sọ. Toàn khu rộng khoảng 22 hecta.
Nhà thờ lớn có bao nhiêu cột
Nhà thờ lớn dài 74 mét, rộng 21 mét, cao 15 mét, dựng trên sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối với tổng cộng 48 cột. Các cột giữa cao tới 11 mét, mỗi cột nặng chừng 10 tấn. Bàn thờ là một phiến đá nặng khoảng 20 tấn.