Đi từ hướng xã Phát Diệm (huyện Kim Sơn cũ) tới, thứ quý vị gặp trước tiên không phải một mặt tiền nhà thờ mà là một mặt hồ hình chữ nhật rộng chừng bốn hecta, giữa hồ có đảo nhỏ đặt tượng Chúa Kitô Vua. Qua khỏi hồ mới tới phương đình, một tòa nhà vuông ba tầng xây bằng đá xanh, mái cong bốn góc, treo quả chuông lớn. Nếu không biết trước, quý vị dễ tưởng mình đang đứng trước một ngôi đình làng chứ không phải trước nhà thờ chính tòa của một giáo phận.
Đó chính là nét riêng biệt của Phát Diệm trong kiến trúc tôn giáo tại Việt Nam. Phần lớn nhà thờ Công giáo dựng thời ấy đều theo lối Gothic hoặc Roman với tháp nhọn vươn thẳng và cửa sổ kính màu. Phát Diệm đi đường khác với mái cong, cột gỗ lim, hồ nước phía trước và hang đá phía sau. Cùng một đức tin, nhưng được diễn đạt bằng ngữ pháp kiến trúc của đình chùa Việt Nam.

IMột nhà thờ nói bằng tiếng bản địa
Trước khi nói tới đá và gỗ, cần nói tới ý định. Người chủ trì công trình là linh mục Phêrô Trần Lục (1825 đến 1899), giáo dân quen gọi là cụ Sáu, về làm chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865. Ông tự vẽ mẫu và trực tiếp chỉ huy việc dựng suốt hơn hai mươi năm, với mục đích được ghi lại là diễn tả sự hòa hợp giữa Kitô giáo với nền văn hóa kiến trúc của dân tộc.
Theo giáo lý Công giáo, nhà thờ là nơi cộng đoàn tín hữu quy tụ để cử hành thánh lễ, và phần thánh thiêng nhất là cung thánh, nơi đặt bàn thờ và nhà tạm giữ Thánh Thể. Một ngôi nhà thờ được gọi là nhà thờ chính tòa khi đó là nhà thờ đặt ngai tòa của giám mục giáo phận, tức nhà thờ mẹ của cả giáo phận. Nhà thờ lớn ở Phát Diệm dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, và cả quần thể là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Phát Diệm. Việc dùng hình thức kiến trúc bản địa để diễn tả đức tin, trong ngôn ngữ của Giáo hội, được gọi là hội nhập văn hóa.
Về mặt khảo được, quần thể được xây trong khoảng thời gian từ năm 1875 đến năm 1899 trên vùng đất Kim Sơn vốn là đất bồi do doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ chiêu dân khai khẩn năm 1829, cách Hà Nội chừng 120 cây số về phía nam. Toàn khu rộng khoảng 22 hecta, trong đó riêng mặt hồ phía trước đã chiếm chừng 4 hecta. Quần thể được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 18 tháng 1 năm 1988 (Quyết định số 28/VHQĐ).
Tên gọi hay gây nhầm. Nhà thờ đá trong cách nói dân gian thường dùng để chỉ cả quần thể, nhưng đúng nghĩa thì đó là tên của một công trình riêng là ngôi nhà nguyện nhỏ dựng năm 1883, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét, làm gần như toàn bằng đá. Ngôi này được cha Trần Lục dâng kính Trái Tim Rất Thánh Đức Mẹ (một số nguồn ghi tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội). Còn ngôi lớn nhất trong quần thể là nhà thờ lớn dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, dựng bằng gỗ lim và đá cùng gạch ngói chứ không phải toàn đá.
IIHai mươi bốn năm dựng một quần thể
Quần thể không dựng một lần mà dựng dần suốt gần một phần tư thế kỷ, mỗi hạng mục một thời điểm. Điều đáng nể là toàn bộ được làm ở một vùng đất bồi lầy, không có đá tại chỗ và cũng không có gỗ lớn tại chỗ, mọi phiến đá và thân gỗ đều phải chở về từ các tỉnh xa bằng đường thủy và đường bộ thô sơ.
- 1865Cha Trần Lục về Phát DiệmLinh mục Phêrô Trần Lục nhận nhiệm sở chánh xứ Phát Diệm. Ông là người chuẩn bị vật liệu suốt mười năm, tự vẽ mẫu và chỉ huy toàn bộ việc xây dựng về sau.
- 1875Khởi công quần thể và đắp Núi Sinh NhậtNăm mở đầu của cả công trình để thăm dò độ lún của nền đất bồi. Cùng năm này, hang đá đầu tiên là Núi Sinh Nhật được đắp, ban đầu mang tên Núi Táng Xác (đổi tên năm 1954).
- 1883Dựng nhà thờ đáNgôi nhà thờ nhỏ dâng kính Trái Tim Đức Mẹ làm gần như toàn bằng đá, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét. Đây là công trình về sau khiến cả quần thể mang tên quen gọi là nhà thờ đá.
- 1889Nhà thờ cạnh Trái Tim Chúa GiêsuNgôi đầu tiên trong nhóm bốn nhà thờ nhỏ (nhà nguyện cạnh) nằm dọc hai bên nhà thờ lớn (tư liệu Người Đô Thị và Wikipedia ghi dựng năm 1889, còn VOV World ghi năm 1899).
- 1891Hoàn thành nhà thờ lớnNhà thờ lớn dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, khởi công đầu năm và hoàn thành trong khoảng ba tháng, dài 74 mét, rộng 21 mét, cao 15 mét, dựng bốn mái và có năm lối vào dưới các vòm đá chạm.
- 1895 đến 1896Dựng tiếp ba nhà thờ cạnhNhà thờ Thánh Rôcô hoàn thành năm 1895, tiếp đó là nhà thờ Thánh Giuse và nhà thờ Thánh Phêrô cùng hoàn thành năm 1896.
- 1896 đến 1898Đắp Núi Lộ Đức và Núi SọHang đá nhân tạo thứ hai là Núi Lộ Đức đắp năm 1896 (nguyên là Vườn Giệt-si-ma-ni, đổi tên năm 1925). Hang thứ ba là Núi Sọ đắp năm 1898 (nguyên là hang Bêlem, đổi tên năm 1957).
- 1899Hoàn thành phương đìnhTòa nhà vuông ba tầng bằng đá xanh, cao 25 mét, rộng 17 mét, dài 24 mét. Đây là hạng mục khép lại toàn bộ quần thể cùng năm linh mục Phêrô Trần Lục qua đời (mộ ông đặt tại sân giữa phương đình và nhà thờ lớn).
- 1988Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc giaQuần thể được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 28/VHQĐ ngày 18 tháng 1 năm 1988.
IIIPhương đình, cột lim và đá chạm
Quần thể xếp theo một trục dọc rõ ràng từ nam lên bắc gồm hồ nước, tiếp đến là phương đình, rồi nhà thờ lớn, hai bên là bốn nhà thờ nhỏ, phía sau là nhà thờ đá và ba hang đá nhân tạo. Ai từng đi đình chùa Bắc Bộ sẽ nhận ra ngay cái trục ấy, vì nó chính là lối bố cục quen thuộc của đình làng gồm cổng, sân, đại đình và hậu cung.
Hồ hình chữ nhật rộng khoảng 4 hecta được kè đá, giữa hồ có đảo nhỏ đặt tượng Chúa Kitô Vua từ năm 1925. Đây là hạng mục đầu tiên người tới gặp ở đầu trục nam của quần thể.
Tòa nhà vuông ba tầng bằng đá xanh ghép không vữa, cao 25 mét, rộng 17 mét, dài 24 mét, hoàn thành năm 1899, bốn đỉnh tháp đặt tượng bốn vị Thánh Sử. Tầng dưới đặt sập đá nguyên khối dài 4,2 mét, rộng 3,2 mét, dày 0,3 mét. Tầng hai treo trống lớn, tầng ba treo quả chuông Nam Phương đúc năm 1890, cao 1,4 mét, đường kính 1,1 mét, nặng gần 2.000 ki lô gam (đánh bằng chày kình gỗ từ bên ngoài thay vì quả lắc bên trong).
Dài 74 mét, rộng 21 mét, cao 15 mét, hoàn thành năm 1891, dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Bộ khung dựng trên sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối gồm 48 cột theo tư liệu Người Đô Thị và Wikipedia tiếng Việt (hoặc 52 cột chia làm 9 gian theo VOV World và Wikipedia tiếng Anh), trong đó 16 cột hàng giữa cao tới 11 mét, chu vi 2,35 mét, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn. Bàn thờ lớn ở cung thánh là một phiến đá nguyên khối dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,8 mét, nặng khoảng 20 tấn.
Dựng năm 1883 dâng kính Trái Tim Đức Mẹ, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét, ghép từ khoảng 1.800 phiến đá lớn nhỏ gồm cả nền, tường, cột, xà và chấn song cửa. Trên vách đá chạm nổi hình tứ quý tùng, mai, cúc, trúc cùng sư tử và phượng hoàng theo nét chạm dân gian.
Bốn nhà thờ nhỏ nằm đối xứng hai bên nhà thờ lớn (mỗi bên hai ngôi, dâng kính Trái Tim Chúa Giêsu, Thánh Rôcô, Thánh Giuse và Thánh Phêrô), dựng từ năm 1889 đến 1896. Phía bắc là ba hang đá nhân tạo gồm Núi Sinh Nhật (1875), Núi Lộ Đức (1896) và Núi Sọ (1898).
| Yếu tố | Ở Phát Diệm | Ở nhà thờ Gothic cùng thời |
|---|---|---|
| Khối đứng trước | Phương đình vuông, ba tầng đá xanh, mái cong bốn góc | Tháp chuông đôi vươn nhọn lên cao |
| Bộ khung chịu lực | Sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối (48 hoặc 52 cột) | Trụ đá và vòm cuốn nhọn |
| Mái | Mái ngói mũi hài cổ truyền, đầu đao cong vút | Mái dốc đứng, chóp nhọn |
| Ánh sáng | Cửa đá chấn song chạm trúc, ánh sáng vào dịu nhẹ | Cửa sổ kính màu lớn, ánh sáng nhiều màu |
| Cảnh quan trước mặt | Hồ nước hình chữ nhật rộng chừng 4 hecta có đảo giữa | Quảng trường lát đá |
Điều kiện kỹ thuật và nguồn vật liệu cũng là điểm thường được nhắc. Toàn bộ gỗ lim được khai thác từ rừng Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn Tây, còn đá xanh và đá cẩm thạch được vận chuyển từ núi Nhồi (Thanh Hóa) và núi Thiện Dưỡng (Ninh Bình) cách xa hàng chục tới hàng trăm cây số. Trước khi dựng công trình trên nền đất bồi yếu của vùng Kim Sơn, cha Trần Lục đã cho chở hàng vạn phiến đá và đóng hàng triệu cọc tre xuống lòng đất để chống lún. Để đưa quả chuông nặng gần hai tấn lên tầng ba phương đình trong thời chưa có cần cẩu, dân phu đã đắp một con dốc đất thoai thoải cao ngang tầng tháp để lăn chuông lên, sau đó dùng chính lượng đất ấy san phẳng tôn nền cả khu nhà thờ cao thêm khoảng một mét.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Điều khảo được là cha Trần Lục đã chủ ý dựng công trình theo lối kiến trúc bản địa, với mục đích diễn tả sự hòa hợp giữa Kitô giáo và văn hóa dân tộc. Việc đem thước phong thủy ra đọc lối kiến trúc ấy là kiến giải của thư viện, không phải ý đã được người dựng nói ra.
Yếu tố dễ thấy đầu tiên là hồ nước phía trước. Trong phép xem đất, khoảng trống ngay trước công trình gọi là minh đường, và minh đường thuận lợi là minh đường có nước, vì nước vừa làm gương sáng vừa giữ khí lại không cho tán. Hồ ở đây hình chữ nhật, rộng chừng 4 hecta, có đảo nhỏ ở giữa. Xét theo hình thể thì đó là kiểu thủy tụ, nước đứng chứ không chảy xiết, và đảo giữa hồ đóng vai án, tức vật chắn nhẹ giữ cho tầm nhìn không hút thẳng ra xa. Đình làng Bắc Bộ hay có ao trước cửa cũng theo đúng lẽ ấy.
Yếu tố thứ hai là phương đình. Tên gọi đã nói rõ phương là vuông, đình là nhà. Đây là một tòa nhà vuông đặt chắn trước nhà thờ lớn, đúng vị trí mà đình làng dành cho nghi môn hoặc gác chuông. Đọc theo phong thủy, khối này làm hai việc cùng lúc. Thứ nhất là hoãn xung, chặn luồng khí đi thẳng một mạch từ ngoài vào cửa chính, buộc người và khí phải vòng qua hai bên. Thứ hai là lập thế, tạo một tầng lớp trung gian giữa ngoài và trong, khiến không gian có nhịp chứ không phơi bày hết ngay từ đầu. Mái cong bốn góc của phương đình, xét theo hình thể ngũ hành, thuộc hành Thủy vì đường lượn mềm, đứng ngay sau mặt hồ cũng thuộc Thủy, hai thứ ấy nối nhau thành một dải liên tục dẫn vào trong.
Yếu tố thứ ba là tọa hướng và hậu chẩm. Quần thể tọa bắc hướng nam, mở mặt về phía nam là hướng mà đình chùa đồng bằng Bắc Bộ chuộng vì đón gió nồm mùa hạ và tránh gió bấc mùa đông. Phía sau nhà thờ lớn là nhà thờ đá và ba hang đá nhân tạo. Ba ngọn núi giả ấy, dù được đắp vì lý do đạo đức là để mô phỏng những nơi thánh, lại nằm đúng chỗ mà phép xem đất gọi là hậu chẩm, tức gối tựa sau lưng. Ở một vùng đất bồi phẳng lì không có ngọn núi nào, việc đắp núi phía sau chính là phép tài bồi mà sách xưa nói tới, chỗ nào thiếu thì bồi thêm cho đủ thế, trước có nước, sau có núi.
Điều cuối cùng cũng là điều thư viện muốn quý vị giữ lại. Không có tư liệu nào cho biết cha Trần Lục có xem phong thủy hay không, và thư viện không khẳng định điều ấy. Nhưng ông đã dùng đúng bộ ngôn ngữ kiến trúc của đình chùa Việt Nam, mà bộ ngôn ngữ ấy vốn được hình thành trong hàng trăm năm dưới ảnh hưởng của phép xem đất. Dùng lại ngữ pháp thì hưởng lại cả cú pháp gồm ao trước, đình vuông chắn giữa, nhà lớn quay nam và núi tựa sau lưng. Đó là lý do một nhà thờ Công giáo lại đọc được bằng thước phong thủy mà không cần người dựng nó phải có ý ấy.
VLễ và lệ trong năm
Là nhà thờ chính tòa của giáo phận, Phát Diệm giữ đủ lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo, tính theo dương lịch. Ngoài ra nơi này còn có các dịp riêng gắn với tước hiệu của từng ngôi nhà thờ trong quần thể.
| Thời điểm | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 25 tháng 12 | Lễ Giáng Sinh | Dịp lớn trong năm về số người quy tụ, toàn khu quần thể được trang hoàng, có hang đá và các sinh hoạt của giáo xứ. |
| Tuần Thánh và Phục Sinh | Tam Nhật Vượt Qua | Chuỗi cử hành trọng thể của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Ngày 7 tháng 10 | Lễ Đức Mẹ Mân Côi | Lễ bổn mạng theo tước hiệu của nhà thờ lớn, tháng Mười cũng là tháng Mân Côi trong lịch phụng vụ. |
| Tháng 5 hoặc tháng 6 | Lễ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ (và ngày 8/12 Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm) | Gắn với tước hiệu kính Đức Mẹ của ngôi nhà thờ đá phía sau. |
| Ngày 2 tháng 11 | Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời | Giáo dân trong vùng giữ lệ viếng phần mộ (trong đó có mộ cha Trần Lục trước sân nhà thờ) và tham dự thánh lễ cầu nguyện cho người đã khuất. |
Ngoài lịch phụng vụ, nơi này còn có các dịp chầu Thánh Thể theo phiên luân phiên của các giáo xứ trong giáo phận. Vùng Kim Sơn có mật độ giáo dân cao, nên vào những dịp lễ lớn, số người tới không chỉ từ giáo xứ sở tại mà từ khắp các xứ họ chung quanh.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn cũ), tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Quần thể nằm tại xã Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn cũ), tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 120 cây số về phía nam và cách trung tâm thành phố Hoa Lư (Ninh Bình) khoảng 28 cây số về phía đông nam.
- Toạ độ
- 20.0928, 106.0794
Đây là nhà thờ chính tòa đang hoạt động chứ không phải một khu tham quan thuần túy, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong nhà thờ, đi nhẹ nói khẽ và đặc biệt là không đi lại hay chụp ảnh ở khu cung thánh, phần không gian đặt bàn thờ và nhà tạm. Nếu tới đúng lúc đang có thánh lễ, xin quý vị đợi bên ngoài hoặc ngồi phía cuối nhà thờ và giữ yên lặng.
Nếu quý vị đi để xem kiến trúc, nên dành thì giờ cho ba chỗ là phù điêu chạm trên đá ở mặt trong phương đình, hàng cột lim cùng vách gỗ sơn son thếp vàng trong nhà thờ lớn và phần đá chạm tứ quý của ngôi nhà thờ đá phía sau. Ba chỗ ấy chứa phần lớn cái tinh của công trình.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ Phát Diệm
Contribute photos, information or video for Phat Diem CathedralThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ đá Phát Diệm xây năm nào và ai xây?
Quần thể được xây trong khoảng từ năm 1875 đến năm 1899 do linh mục Phêrô Trần Lục (1825 đến 1899), giáo dân quen gọi là cụ Sáu, tự vẽ mẫu và chỉ huy. Ông về làm chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865.
Vì sao gọi là nhà thờ đá?
Tên ấy vốn là tên của một công trình riêng trong quần thể là ngôi nhà nguyện nhỏ dựng năm 1883 dâng kính Trái Tim Đức Mẹ, dài 15,3 mét, rộng 8,5 mét, cao 6 mét, làm gần như toàn bằng đá kể cả cột, xà và chấn song. Về sau người ta quen dùng tên này để gọi cả khu. Ngôi lớn nhất trong quần thể là nhà thờ lớn kính Đức Mẹ Mân Côi, dựng bằng gỗ lim và đá.
Phương đình là gì?
Phương đình nghĩa là nhà vuông, là tòa nhà ba tầng bằng đá xanh đứng trước nhà thờ lớn, cao 25 mét, rộng 17 mét, dài 24 mét, hoàn thành năm 1899. Tầng hai treo trống lớn, tầng ba treo quả chuông đúc năm 1890 nặng gần 2.000 ki lô gam. Vị trí và hình dáng của nó tương ứng với gác chuông hoặc nghi môn của đình làng Việt Nam.
Quần thể gồm những công trình nào?
Gồm hồ nước rộng chừng 4 hecta phía trước, phương đình, nhà thờ lớn, bốn nhà thờ cạnh hai bên, nhà thờ đá phía sau và ba hang đá nhân tạo là Núi Sinh Nhật, Núi Lộ Đức và Núi Sọ. Toàn khu rộng khoảng 22 hecta.
Nhà thờ lớn có bao nhiêu cột?
Nhà thờ lớn dài 74 mét, rộng 21 mét, cao 15 mét, dựng trên sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối với tổng cộng 48 cột theo tư liệu Người Đô Thị và Wikipedia tiếng Việt (hoặc 52 cột chia làm 9 gian theo VOV World). Hai hàng cột cái ở giữa gồm 16 cột cao tới 11 mét, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn. Bàn thờ lớn ở cung thánh là một phiến đá nguyên khối nặng khoảng 20 tấn.