Từ quốc lộ rẽ vào xã Kim Thái cũ, nay thuộc xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình, quý vị đi giữa đồng lúa phẳng lì, rồi bất chợt thấy mấy quả núi đất thấp nhô lên. Quanh vùng đất có những quả núi ấy là các mái phủ ngói cũ, cổng gạch, sân lát và hồ bán nguyệt, đi vài trăm mét lại gặp một nơi thờ. Đây không phải một ngôi đền đơn lẻ mà là một vùng đất thờ trải rộng cả một xã.
Điều làm nơi này khác các trung tâm tín ngưỡng khác nằm ở chỗ nó thờ một vị nữ thần làm trung tâm, và cả một hệ thống thần linh xếp quanh vị ấy theo ba phủ, bốn phủ. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được dân gian xếp vào hàng Tứ bất tử, tức bốn vị bất tử của người Việt, và là vị nữ thần trong bốn vị ấy.

IThánh Mẫu Liễu Hạnh
Tên Phủ Dầy là tên Nôm của vùng đất, nên khi viết bằng chữ Hán người ta thường lấy tên phủ chính là Tiên Hương Phủ, viết là 仙香府. Chữ phủ ở đây chỉ nơi thờ Mẫu, khác với chùa của nhà Phật và khác với đền thờ nhân thần hay thành hoàng.
Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, thế giới chia làm ba phủ do ba vị Mẫu cai quản. Thiên phủ là miền trời, sắc đỏ. Địa phủ là miền đất, sắc vàng. Thoải phủ là miền sông nước, sắc trắng. Về sau thêm Nhạc phủ là miền rừng núi, sắc xanh, thành hệ Tứ phủ. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tôn là Mẫu Thượng Thiên, đứng đầu hệ thống ấy. Dưới các Mẫu là hàng Chầu, hàng Quan, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu, mỗi vị mang một phủ, một sắc áo, một điệu chầu văn riêng. Người theo tín ngưỡng này tin rằng Mẫu ban cho con người sức khỏe, tài lộc và sự che chở trong đời sống hiện tại, chứ không hứa hẹn một cõi khác sau khi chết.
Về phần khảo được, hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh định hình trong khoảng thế kỷ 16 tới thế kỷ 17 và được ghi lại sớm trong văn học, trong đó có truyện Vân Cát thần nữ của Đoàn Thị Điểm. Chuyện được chép lại kể bà là tiên nữ giáng trần nhiều lần, trong đó lần thứ hai sinh vào nhà họ Lê ở thôn An Thái, vùng đất về sau tách thành hai làng Tiên Hương và Vân Cát. Các lần giáng sinh ấy thuộc lớp truyền tụng chứ không phải sử biên niên. Điều khảo được chắc chắn hơn là quá trình một vị thần địa phương ở Vụ Bản dần trở thành vị Mẫu được thờ khắp Bắc Bộ rồi lan vào miền Trung và miền Nam, kéo theo cả một hệ thống nghi lễ, âm nhạc và trang phục riêng.
Ba chỗ hay nhầm. Thứ nhất, tên nơi này viết là Phủ Dầy hay Phủ Giầy đều gặp trong tư liệu, không có bản viết nào là sai hoàn toàn. Thứ hai, Phủ Dầy không phải một công trình đơn lẻ mà là tên gọi chung cho cả quần thể hơn hai mươi di tích. Thứ ba, phủ thờ Mẫu không phải chùa. Trong phủ không có tăng ni, nghi thức và hệ thần linh đều khác nhà Phật, tuy trong quần thể vẫn có chùa nằm xen kẽ theo lối thờ tự nhiều lớp quen thuộc của làng Việt.
IIQuần thể hình thành qua các đời
Quần thể này không dựng một lần mà lớn dần theo sức lan của tín ngưỡng. Nơi thờ đầu tiên là ngôi phủ nhỏ trong làng, rồi các phủ, đền, lăng khác được dựng và mở rộng quanh đó qua nhiều thế kỷ.
- 1642 và 1663 tới 1671Phủ chính Tiên HươngNgôi phủ tại làng Tiên Hương nguyên xưa làm bằng mái tranh, năm Dương Hòa thứ 8 (1642) đời Lê Thần Tông được cho xây lại và lợp ngói. Trong niên hiệu Cảnh Trị (1663 tới 1671) đời Lê Huyền Tông, dân làng xây phủ bằng gạch và mở rộng, sau đó trùng tu lớn vào các năm Tự Đức thứ 19 (1866) và Duy Tân thứ 6 (1912).
- 1663 tới 1671 và về sauPhủ Vân CátTheo bài văn bia Thánh Mẫu cổ trạch linh từ bi ký năm Tân Sửu (1901) của Cao Xuân Dục mà Báo Pháp Luật Việt Nam dẫn lại, Phủ Vân Cát khởi đầu là ngôi đền nhỏ dựng khoảng niên hiệu Cảnh Trị (1663 tới 1671), trùng tu và mở rộng vào thời Cảnh Thịnh (1793 tới 1800), năm Tự Đức thứ 32 (1879) và năm Thành Thái thứ 12 (1900). Một số bài viết khác ghi gọn rằng phủ Vân Cát được dựng sau phủ chính Tiên Hương.
- 1938Xây lăng MẫuVua Bảo Đại cho Hội Kinh Xuân Phổ Hóa (Huế) hưng công xây dựng khu lăng Thánh Mẫu toàn bằng đá xanh chạm khắc, rộng 625 mét vuông, có 60 búp sen hồng bằng đá trên các trụ và năm lớp tường bao quanh ngôi mộ khối bát giác ở giữa.
- 1975Di tích quốc giaBa công trình Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 09-VH/QĐ ngày 21 tháng 2 năm 1975.
- 2013Di sản phi vật thể quốc giaLễ hội Phủ Dầy được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3084/QĐ-BVHTTDL ngày 9 tháng 9 năm 2013.
- 2016UNESCO ghi danhNgày 1 tháng 12 năm 2016, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Số lượng di tích trong quần thể được các nguồn ghi từ gần hai mươi tới hơn hai mươi công trình, tùy cách đếm những nơi thờ nằm rải trong xã. Ba nơi luôn được kể trước tiên và liên quan trực tiếp tới Thánh Mẫu là phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Mẫu. Bên cạnh đó còn có phủ Bóng (đền Cây Đa Bóng), đền Đức Vua, đền Mẫu Thoải, chùa Tiên Hương, chùa Linh Sơn cùng nhiều đền phủ khác. Về địa giới hành chính, vùng đất Phủ Dầy vốn thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ. Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, xã Kim Thái nhập với thị trấn Gôi và xã Tam Thanh thành xã Vụ Bản thuộc tỉnh Ninh Bình.
IIIBa nơi trọng yếu
Đi Phủ Dầy mà chỉ vào một nơi thì mới thấy một phần. Ba nơi dưới đây làm thành cái sườn của cả quần thể, gồm phủ chính Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Thánh Mẫu, mỗi nơi mang một kiểu kiến trúc khác nhau.
| Nơi thờ | Đặc điểm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Phủ chính Tiên Hương | Gồm 19 tòa với 81 gian lớn nhỏ, bốn lớp cung thờ (Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam và Cung Cấm), phía trước có sân rộng, ba tòa phương du, hồ bán nguyệt và hồ lớn bên ngoài | Mặt phủ quay về hướng tây nam nhìn về dãy núi Tiên Hương cách đó chừng một cây số, gắn với truyền tụng nơi Mẫu giáng sinh lần thứ hai |
| Phủ Vân Cát | Rộng gần một héc-ta với 7 tòa, 30 gian, ở giữa thờ Thánh Mẫu, bên trái là chùa Long Vân thờ Phật, bên phải là đền thờ vua Lý Nam Đế, phía trước có tam quan, phương du và hồ bán nguyệt | Mặt phủ quay về hướng tây nhìn dãy núi Ngăm, lập theo lối tiền Phật hậu Thánh và cũng gắn với truyền tụng về quê nội nơi Mẫu giáng sinh |
| Lăng Thánh Mẫu | Xây năm 1938 toàn bằng đá xanh trên diện tích 625 mét vuông, mộ khối bát giác ở giữa mỗi cạnh chừng một mét, năm lớp tường đá bao quanh mỗi lớp bốn cổng, gắn 60 búp sen đá hồng nhạt | Cách phủ chính Tiên Hương chừng một cây số, cửa chính ở phía nam trông thẳng về dãy núi Tiên Hương |
| Phủ Bóng, phủ Công Đồng, phủ Tổ và các đền chùa | Các nơi thờ khác nằm rải trên đồng và quanh sườn các núi Tiên Hương, núi Gôi, núi Ngăm | Làm thành quần thể hơn hai mươi di tích của vùng đất Phủ Dầy |
Điểm chung của các phủ là hệ thống cung thờ nhiều lớp. Ngoài cùng thường là cung Công Đồng thờ chung các vị trong hệ Tứ phủ, trong cùng là cung cấm đặt tượng các Mẫu. Màu sắc trong phủ rất đậm và rất có quy tắc, các màu đỏ, vàng, trắng, xanh không bày tùy hứng mà ứng với bốn phủ. Ai để ý màu sắc sẽ đọc được thứ tự thần linh mà không cần hỏi ai.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Vụ Bản là đất đồng bằng châu thổ, phẳng gần như tuyệt đối, nhưng trên cái nền phẳng ấy lại có mấy quả núi đất thấp nhô lên như núi Tiên Hương, núi Ngăm, núi Lê, núi Gôi. Trong phép xem đất, chỗ nhô lên giữa vùng bằng phẳng gọi là đột, và đột là chỗ khí kết. Cả một vùng lúa mênh mông chỉ có mấy điểm đột như vậy, thì theo lối nhìn cổ truyền, đó là những chỗ hiếm và quý. Việc các phủ, các đền, các lăng đều quy tụ quanh những quả núi ấy không phải chuyện ngẫu nhiên.
Thế của các công trình chính ở đây là thế minh đường tụ thủy, tiền án triều sơn. Phủ chính Tiên Hương quay mặt về hướng tây nam, trước cửa là sân rộng, hồ bán nguyệt và hồ nước lớn đóng vai minh đường có thủy tụ, còn ở phía xa chừng một cây số là dãy núi Tiên Hương đứng làm tiền án chắn trước mặt. Phủ Vân Cát cũng mở hồ bán nguyệt phía trước và quay mặt về hướng tây nhìn dãy núi Ngăm làm án. Ở lăng Mẫu, cửa chính phía nam cũng trông thẳng về dãy núi Tiên Hương. Có thủy tụ ngay trước cửa thì khí đến rồi đọng lại, có sơn làm án ở đằng xa thì tầm nhìn và mạch khí được thu giữ chứ không tản mát ra đồng trống.
Đáng chú ý là bố cục rải của cả quần thể. Hơn hai mươi nơi thờ không dồn vào một khuôn viên mà nằm tản trong một xã, có nơi ở giữa làng, có nơi bám sườn núi, mỗi nơi giữ một điểm đất riêng. Đọc theo phong thủy, đây không phải một huyệt đơn mà là một vùng khí, trong đó phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Mẫu giữ vai trò tâm điểm, các phủ đền chùa còn lại đứng quanh như chân trụ. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi một vòng qua nhiều nơi chứ không vào mỗi một chỗ, và cái vòng ấy chính là cách đi hết một vùng khí thay vì chỉ chạm vào một điểm.
Sau cùng là ngũ hành và phương vị đọc từ chính hệ thống Tứ phủ. Thiên phủ sắc đỏ ứng hành Hỏa, Địa phủ sắc vàng ứng hành Thổ, Thoải phủ sắc trắng ứng hành Kim và miền nước, Nhạc phủ sắc xanh ứng hành Mộc và miền rừng núi. Bốn phủ ấy phủ kín trời, đất, nước, rừng, tức phủ kín bốn cõi mà người nông dân đồng bằng phải sống cùng. Một vùng đất có núi nhỏ, có nước, có đồng, có trời rộng thì bày ra đủ bốn cõi ấy trong tầm mắt, và một tín ngưỡng lấy bốn cõi làm khung thì tìm được chỗ đứng vững ở đúng một nơi như vậy.
VHội tháng ba và nghi lễ
Hội Phủ Dầy mở vào đầu tháng Ba âm lịch hằng năm, thường từ mùng ba tới mùng mười. Mùng ba tháng Ba là ngày giỗ Mẫu, cũng là ngày chính hội. Đây là một trong những kỳ hội lớn của đồng bằng Bắc Bộ.
| Ngày âm lịch | Nghi lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 3 tháng 3 | Ngày giỗ Mẫu, khai hội | Ngày trọng trong năm, mở đầu kỳ hội kéo dài tới mùng mười. |
| Tối mùng 5 tháng 3 | Rước đuốc | Đám rước hàng nghìn người cầm đuốc đi trong đêm tại phủ Tiên Hương, theo quan niệm dân gian là để xua điều rủi. |
| Mùng 5 và mùng 6 tháng 3 | Rước Mẫu thỉnh kinh | Lễ rước từ phủ lên chùa để thỉnh kinh. Báo Nam Định ghi đám rước đi từ phủ Vân Cát lên chùa Linh Sơn, còn Báo Pháp Luật Việt Nam ghi ngày mùng sáu tháng Ba rước từ phủ Tiên Hương lên chùa Tiên Hương. |
| Trong kỳ hội | Hoa trượng hội, kéo chữ | Hàng trăm người mặc áo theo sắc màu nghi lễ, cầm gậy hoa xếp thành các bộ chữ Hán bốn chữ trên sân phủ như Mẫu nghi thiên hạ hay Quốc thái dân an, gắn với ước mong mưa thuận gió hòa. |
| Mùng 3 tới mùng 10 tháng 3 | Trọn kỳ hội | Suốt kỳ có các giá hầu đồng, hát chầu văn, thi cờ người và nhiều trò diễn dân gian tại các phủ. |
Hai thực hành gắn liền với nơi này là hát chầu văn và hầu đồng. Chầu văn là lối hát nghi lễ, dàn nhạc gồm đàn nguyệt, trống, phách và cảnh, lời hát kể sự tích và ca ngợi từng vị thần trong hệ Tứ phủ. Hầu đồng là nghi lễ trong đó người hầu, gọi là thanh đồng, lần lượt trình diễn các giá ứng với từng vị. Mỗi giá có khăn áo riêng theo sắc của phủ, có điệu múa riêng, có điệu chầu văn riêng, và kết thúc bằng việc phát lộc cho người dự.
Nhìn ở góc nhân học, một buổi hầu đồng là một chỉnh thể gồm âm nhạc, trang phục, vũ đạo, ngôn ngữ nghi lễ và quan hệ cộng đồng, thực hiện theo trình tự đã được quy ước chặt chẽ qua nhiều đời. Chính tính chỉnh thể ấy là lý do UNESCO ghi danh Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 1 tháng 12 năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng các giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Kim Thái cũ, nay thuộc xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình (trước năm 2025 thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định)
- Đường tới
- Nằm ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình, cách trung tâm thành phố Nam Định cũ chừng mười lăm cây số về phía tây nam, các phủ nằm rải trong xã nên cần đi bộ hoặc đi xe giữa các điểm.
- Toạ độ
- 20.3609, 106.0778
Các phủ ở đây đang thờ tự và rất đông người vào mùa hội, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung thờ, đi nhẹ nói khẽ ở cung cấm, không chen lấn ở cửa cung, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức đặt sẵn.
Nếu quý vị gặp một buổi hầu đồng đang diễn ra, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu, không đi cắt ngang giữa thanh đồng và ban thờ, không bật đèn máy ảnh vào mặt người đang hầu. Việc quay phim chụp ảnh trong các buổi hầu tùy vào người chủ buổi lễ và người trông coi phủ, hỏi trước là cách chắc chắn. Đi Phủ Dầy nên tính đi nhiều nơi trong một buổi, vì các phủ nằm cách nhau vài trăm mét tới một cây số.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Phủ Dầy
Contribute photos, information or video for Phu DayThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Phủ Dầy thờ ai
Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị được tôn là Mẫu Thượng Thiên đứng đầu hệ thống Tứ phủ và được dân gian xếp vào hàng Tứ bất tử của người Việt. Cùng thờ trong các phủ còn có các vị Thánh Mẫu, hàng Chầu, hàng Quan, hàng Ông Hoàng, hàng Cô và hàng Cậu.
Phủ Dầy gồm những nơi nào
Là quần thể hơn hai mươi đền, phủ, chùa, lăng nằm rải trên địa bàn xã Kim Thái cũ, nay thuộc xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình. Ba nơi trọng yếu là phủ chính Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Thánh Mẫu, ngoài ra còn phủ Bóng, phủ Công Đồng, phủ Tổ và nhiều đền chùa khác.
Lễ hội Phủ Dầy diễn ra khi nào
Thường diễn ra từ mùng ba tới mùng mười tháng Ba âm lịch hằng năm. Mùng ba là ngày giỗ Mẫu và là ngày chính hội. Trong kỳ hội có rước đuốc tối mùng năm, lễ rước Mẫu thỉnh kinh, hoa trượng hội kéo chữ, cùng các giá hầu đồng và hát chầu văn.
UNESCO ghi danh điều gì vào năm 2016
Ngày 1 tháng 12 năm 2016, UNESCO ghi danh Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, gồm chầu văn, hầu đồng, trang phục và lễ hội, chứ không phải một phán xét về niềm tin.
Hầu đồng và chầu văn là gì
Chầu văn là lối hát nghi lễ với dàn nhạc đàn nguyệt, trống, phách và cảnh, lời hát kể sự tích từng vị thần trong hệ Tứ phủ. Hầu đồng là nghi lễ trong đó thanh đồng lần lượt trình diễn các giá ứng với từng vị, mỗi giá có khăn áo, điệu múa và bản văn riêng, kết thúc bằng việc phát lộc.