Chuyến đi bắt đầu không phải bằng chân mà bằng thuyền. Quý vị ngồi xuống một chiếc đò nhỏ ở bến Đục, rồi con đò trôi chừng một giờ trên suối Yến, hai bên là ruộng nước và những khối núi đá vôi dựng thẳng lên trời. Đến khi lên bờ và leo hết dốc, cái quý vị gặp không phải một mái chùa mà là một cửa hang há rộng trong sườn núi, có năm chữ Hán khắc trên vách đá từ năm 1770.
Đó là điều đầu tiên cần nói rõ, rằng chùa Hương không phải một ngôi chùa. Đây là tên gọi quen thuộc mà dân gian đặt cho cả quần thể Hương Sơn, gồm hai mươi mốt điểm chùa, động và đền nằm rải trên gần bốn nghìn héc ta núi đá vôi ở xã Hương Sơn, Hà Nội. Ai đi một buổi rồi về thì mới chỉ chạm vào một phần nhỏ của nó.

IMột Quần Thể Chứ Không Phải Một Chùa
Người xưa không dựng ở đây một ngôi chùa lớn rồi thôi. Họ đọc cả một vùng núi đá vôi thành một cõi thiêng, rồi đặt điểm thờ tự vào từng chỗ đắc địa, dưới chân núi có đền, trong thung lũng có chùa, trong lòng núi có động. Suối Yến giữ vai trò sợi chỉ nối các điểm ấy lại. Vì vậy đi chùa Hương xưa nay là đi một tuyến, không phải tới một điểm.
Theo tư liệu quản lý di tích, toàn khu hiện có 21 điểm di tích và thắng cảnh, gồm các chùa và động thờ Phật cùng những ngôi đền thờ Thần và điện thờ Mẫu, trải trên diện tích gần 4.000 héc ta. Quần thể được chia thành các tuyến hành hương chính. Tuyến Hương Thiên là tuyến truyền thống và đông người nhất, gồm đền Trình Đục Khê (Ngũ Nhạc Linh Từ), chùa Thiên Trù (chùa Ngoài), chùa Giải Oan, đền Cửa Võng, động Hương Tích (chùa Trong) và chùa Hinh Bồng. Tuyến Long Vân và Thanh Hương gồm chùa Thanh Sơn, động Hương Đài, chùa và động Long Vân, động Cây Khế và hang Sũng Sàm. Tuyến Tuyết Sơn gồm đền Trình Phú Yên, chùa Bảo Đài, động Ngọc Long (chùa Tuyết Sơn), chùa Cá (Ngư Trì) và am Phật Tích.
Theo tín ngưỡng được giữ ở đây, nơi này gắn với Quán Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát của lòng từ bi, người nghe tiếng kêu của chúng sinh mà tới cứu. Truyền tụng kể lại rằng đây là chốn Bồ Tát tu hành và đắc đạo trong thân công chúa Diệu Thiện (dân gian gọi là Bà Chúa Ba), nên động Hương Tích được xem là đạo tràng của Phật Bà. Bên cạnh thờ Phật theo phái Đại thừa, các đền và điện trong quần thể còn thờ Tam tòa Thánh Mẫu cùng Bà Chúa Thượng Ngàn tại đền Cửa Võng. Khách hành hương lên đây phần lớn cầu bình an, cầu con cái và cầu tai qua nạn khỏi.
Có hai chỗ hay nhầm. Một là nhiều người tưởng chùa Thiên Trù chính là toàn bộ chùa Hương, nhưng thực ra Thiên Trù là chùa Ngoài nằm ở thung lũng, còn trung tâm thờ tự của cả vùng là chùa Trong tức động Hương Tích ở trên cao. Hai là chùa Hương ở Hà Nội hay bị lẫn với chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh. Đó là hai nơi khác nhau, và mối liên hệ giữa hai nơi vẫn còn là đề tài trao đổi của giới nghiên cứu.
IICác Mốc Của Vùng Đất
Lớp tư liệu về chùa Hương không dày như ở các di tích kinh thành, một phần vì đây là vùng núi xa, một phần vì các công trình gỗ ở đây đã qua nhiều lần hư hại và dựng lại. Những mốc dưới đây là các mốc còn khảo được rõ.
- Đời Lê Thánh TôngKhởi lập thảo am Thiên TrùTheo truyền tích địa phương, năm Quang Thuận thứ 8 (1467) vua Lê Thánh Tông tuần thú qua đây đóng quân thổi cơm, thấy vùng đất ứng vào sao Thiên Trù nên đặt tên. Đời Lê Thánh Tông (1460 tới 1497), ba vị hòa thượng tìm thấy động Hương Tích và dựng thảo am Thiên Trù.
- 1686Tôn tạo quy mô lớnNiên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1686) đời Lê Hy Tông, Thiền sư Trần Đạo Viên Quang về trụ trì, mở rộng chùa Thiên Trù và tôn tạo động Hương Tích thành trung tâm thờ tự lớn.
- 1770Nam thiên đệ nhất độngTháng Ba năm Canh Dần (1770), Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm tuần du viếng động Hương Tích và cho khắc lên vách đá cửa động năm chữ Hán Nam thiên đệ nhất động (南天第一峝), nghĩa là động đẹp nhất trời Nam.
- 1793Tạc tượng Quan Âm đá xanhNăm Quý Sửu, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 2 (1793) triều Tây Sơn, võ quan Nguyễn Huy Nhật (Nhật Quan Hầu) và vợ là bà Nguyễn Thị Huệ cung tiến pho tượng Phật Bà Quan Âm tọa sơn bằng đá xanh nguyên khối, hiện vẫn thờ trong động Hương Tích.
- 1989 tới 1994Phục dựng chùa Thiên TrùSau khi các nếp chùa cổ bị tàn phá năm 1947 và chỉ còn lại Bảo tháp Viên Công bằng đất nung thế kỷ 17, từ năm 1989 Thượng tọa Thích Viên Thành chủ trì tái thiết chùa Thiên Trù và hoàn thành cổng Nam Thiên Môn vào năm 1994.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtQuần thể di tích và danh lam thắng cảnh Hương Sơn được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017.
IIIĐộng Hương Tích Và Các Điểm Chính
Trung tâm của cả quần thể là một cái hang. Điều ấy đáng để dừng lại một chút, vì nó khác hẳn lối thờ tự thông thường của người Việt, vốn quen dựng nhà rồi mới đặt tượng vào trong nhà. Ở đây, người xưa nhận lấy cái hang mà thiên nhiên đã làm sẵn, rồi đặt tượng vào đó.
Điểm dừng đầu tiên trên đường thủy, nơi khách hành hương trình diện sơn thần trước khi vào đất Phật. Tuyến chính có đền Trình Đục Khê (Ngũ Nhạc Linh Từ), tuyến Tuyết Sơn có đền Trình Phú Yên.
Dòng suối dài khoảng bốn cây số chảy giữa hai dãy núi đá vôi, nối bến Đục với bến Trò, là đường vào chính của quần thể.
Ngôi chùa lớn nằm ở thung lũng gần bến Trò, giữ vai trò chùa chính về mặt sinh hoạt tăng chúng và tiếp khách. Tên chùa nghĩa là bếp trời. Trong vườn chùa còn Bảo tháp Viên Công bằng gạch đất nung từ thế kỷ 17.
Hai điểm dừng trên đường lên động. Chùa Giải Oan có giếng Long Tuyền (giếng Giải Oan) nước trong vắt, còn đền Cửa Võng là Chân Long Linh Từ thờ Bà Chúa Thượng Ngàn.
Trung tâm thờ tự của cả quần thể. Qua cổng Hương Tích động môn phải đi xuống 120 bậc đá mới tới lòng hang, trên vách cửa động khắc năm chữ Nam thiên đệ nhất động năm 1770, bên trong thờ tượng Quan Âm tọa sơn bằng đá xanh năm 1793.
Các điểm thuộc hai tuyến phụ, vắng người hơn tuyến chính, giữ được không khí tĩnh của núi rừng.
Trong lòng động Hương Tích, các khối nhũ đá được người xưa đặt tên theo những thứ mà một đời người mong như núi Cô, núi Cậu, cây vàng, cây bạc, đụn gạo, đụn rơm, nong tằm, né kén. Việc đặt tên ấy cho thấy rất rõ khách hành hương xưa mang gì trong lòng khi lặn lội tới đây. Họ không lên núi để bàn giáo lý, mà lên để xin những điều rất cụ thể của một đời sống nông nghiệp.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Hương Sơn là một vùng núi đá vôi mọc lên ở hữu ngạn sông Đáy, giữa đồng chiêm trũng phía tây nam Hà Nội. Theo phép xem đất, những khối đá dựng đứng, đỉnh nhọn và sắc, thuộc dạng sơn hình mà sách gọi là núi Mộc và núi Hỏa, tức núi có khí bốc lên. Nhưng cái làm nên chỗ đắc địa của vùng này không phải bản thân dãy núi, mà là thủy đạo luồn giữa nó, nơi suối Yến chảy quanh co trong lòng núi rồi mới đổ ra ngoài. Trong phép cổ, nước chảy thẳng thì khí tuột đi, nước chảy uốn khúc thì khí giữ lại. Một dòng suối quanh co giữa hai dãy đá là điều kiện gần như hoàn hảo để tụ khí cho cả một vùng.
Vì thế lối vào bằng đò không đơn thuần là chuyện giao thông. Người xưa cho khách đi từ bến Đục vào bến Trò theo hướng đông bắc sang tây nam, tiến sâu dần vào thung lũng nơi khí tụ. Suốt một giờ trên mặt nước, không có gì để làm ngoài nhìn núi, và cái nhịp chậm ấy làm đúng việc mà một cổng tam quan làm ở các chùa đồng bằng, tách người ra khỏi nhịp cũ trước khi đưa vào chỗ thờ tự.
Điểm đặc sắc nằm ở động Hương Tích. Ở hầu hết các nơi thiêng, người ta đi lên cao dần rồi mới tới chính điện, còn ở đây, tới cửa động rồi quý vị lại phải đi xuống 120 bậc đá mới tới nơi thờ. Theo con mắt phong thủy, hang trong lòng núi là chỗ khí tụ đậm đặc của một thế đất vì bốn bề đá kín, chỉ một cửa thông, gió không xuyên qua được, nhiệt độ và độ ẩm gần như không đổi quanh năm. Đó là một cái huyệt theo đúng nghĩa của chữ ấy trong sách địa lý cổ, và người xưa gọi hình thế cửa hang này là hàm rồng ngậm ngọc. Cái động không cần dựng thêm gì cũng đã là một điện thờ hoàn chỉnh.
Đọc theo ngũ hành thì cách bố trí toàn tuyến cũng có lớp lang. Đền Trình ở chân nước thuộc Thủy, là chỗ khai mở. Chùa Thiên Trù nằm giữa thung lũng có núi ôm ba mặt, mặt trước mở ra khoảng bằng làm minh đường, đây là chỗ tụ khí ngoài trời, hợp cho việc tiếp đông người và cho sinh hoạt của tăng chúng. Động Hương Tích trong lòng đá thuộc Thổ và mang tính âm, là chỗ tĩnh, hợp cho việc cầu tự và cầu bình an, những điều thuộc về gốc rễ và sinh nở. Ba lớp ấy nối nhau thành một trình tự đi từ động sang tĩnh, từ ngoài sáng vào trong tối. Ai đi hết tuyến sẽ nhận ra mình đã bước qua ba loại không gian khác hẳn nhau, chứ không phải đi ba đoạn đường giống nhau.
VMùa Hội Dài Nhất Nước
Hội chùa Hương là lễ hội kéo dài bậc nhất trong các lễ hội truyền thống của người Việt. Nó mở vào đầu xuân và chỉ đóng khi mùa xuân đã hết hẳn, tức gần ba tháng liền.
| Ngày âm lịch | Việc | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 6 tháng Giêng | Khai hội | Ngày mở hội chính thức của cả quần thể, vốn bắt nguồn từ lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của người dân địa phương ở các làng Yến Vĩ, Đục Khê, Phú Yên. |
| Từ mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng Ba | Mùa hội | Suốt gần ba tháng, khách hành hương về liên tục. Đây là lễ hội có quy mô lớn ở miền Bắc. |
| Rằm tháng Hai đến ngày 20 tháng Hai | Chính hội | Quãng đông người và nhiều nghi lễ trọng thể nhất trong cả mùa, gắn với ngày vía Quán Thế Âm 19 tháng Hai. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật đản | Lễ theo lịch chung của Phật Giáo, tổ chức tại chùa Thiên Trù. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Lễ báo hiếu, cũng theo lịch chung của Phật Giáo. |
Phần lễ ở đây giản dị với hương, hoa quả, đèn và oản chay. Phần hội thì nằm ở chính chặng đường, ở tiếng chèo khua trên suối Yến và ở những chiếu hát chèo, hát văn. Có một điều đáng để ý là dù đông người tới đâu thì việc lễ ở đây vẫn giữ được cái nhịp chậm, bởi vì con đò trên suối không thể đi nhanh hơn được, và dốc núi thì không rút ngắn được.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức cũ, Hà Nội
- Đường tới
- Quần thể thuộc xã Hương Sơn (huyện Mỹ Đức cũ), phía tây nam Hà Nội. Từ nội thành đi ô tô hoặc xe buýt theo hướng quốc lộ 21B tới bến Đục rồi chuyển sang đò đi trên suối Yến.
- Toạ độ
- 20.6178, 105.7461
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, và cũng là một chặng đường núi. Về phần lễ, khách cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chùa và vào động, đi nhẹ nói khẽ trong lòng động vì tiếng vang rất lớn, không bẻ nhũ đá và không xoa tay lên các khối đá đã được đặt tên. Sắm lễ chay là đủ, không cần mâm cao.
Về phần đường, đoạn từ chùa Thiên Trù lên động Hương Tích là dốc đá, mùa hội thường ẩm và trơn, nên giày bám tốt là thứ đáng chuẩn bị hơn cả. Nếu quý vị muốn đi đủ cả ba tuyến thì phải tính hai ngày trở lên, còn đi một buổi thì chỉ nên chọn tuyến chính và đi cho trọn.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Hương
Contribute photos, information or video for Huong PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Hương có phải một ngôi chùa không
Không. Chùa Hương là tên dân gian gọi cả quần thể Hương Sơn, gồm 21 điểm di tích là các chùa, động thờ Phật cùng đền thờ Thần và điện thờ Mẫu, trải trên diện tích gần 4.000 héc ta ở xã Hương Sơn, Hà Nội. Trong đó chùa Thiên Trù được gọi là chùa Ngoài, còn động Hương Tích là chùa Trong và là trung tâm thờ tự của cả quần thể.
Chùa Hương thờ ai
Nơi này gắn với tín ngưỡng thờ Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Chùa Hương), với pho tượng Quan Âm tọa sơn bằng đá xanh tạc năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1793) đặt trong động Hương Tích. Ngoài ra quần thể còn có các đền thờ Thần (như đền Trình Ngũ Nhạc) và điện thờ Mẫu (như đền Cửa Võng thờ Bà Chúa Thượng Ngàn).
Năm chữ trên cửa động Hương Tích là gì và có từ bao giờ
Là năm chữ Hán Nam thiên đệ nhất động (南天第一峝), nghĩa là động đẹp nhất trời Nam, do Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đề bút và cho khắc vào tháng Ba năm Canh Dần (1770) khi ông tuần du tới viếng động. Năm chữ ấy hiện vẫn còn trên vách đá cửa động.
Lễ hội chùa Hương diễn ra khi nào
Khai hội mùng 6 tháng Giêng âm lịch (vốn là lễ mở cửa rừng) và kéo dài tới hết tháng Ba âm lịch, tức gần ba tháng. Quãng chính hội rơi vào khoảng rằm tháng Hai tới ngày 20 tháng Hai âm lịch, gắn với ngày vía Quán Thế Âm 19 tháng Hai.
Quần thể có mấy tuyến hành hương
Chia làm ba tuyến chính (hoặc bốn khu nếu tách khu Thanh Hương và Long Vân). Tuyến Hương Thiên là tuyến truyền thống, gồm đền Trình Đục Khê, chùa Thiên Trù, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng và động Hương Tích. Tuyến Long Vân và Hương Đài gồm chùa Thanh Sơn, động Hương Đài, động Long Vân và hang Sũng Sàm. Tuyến Tuyết Sơn gồm đền Trình Phú Yên, chùa Bảo Đài, động Tuyết Sơn, chùa Cá và am Phật Tích.