VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Văn Miếu Quốc Tử Giám

文廟國子監

Miếu thờ Khổng Tử và trường Quốc học của nước Đại Việt dựng chung một khuôn viên, nơi duy nhất ở Việt Nam mà Nho giáo còn để lại đủ cả việc thờ lẫn việc học.

Khởi dựng
1070
đời Lý Thánh Tông
Bia tiến sĩ
82 tấm
dựng từ năm 1484 đến năm 1780
Diện tích
54.331 m²
năm khu nối nhau theo một trục dọc

Đi hết đường Quốc Tử Giám, quý vị gặp một bức tường gạch vồ màu nâu sẫm chạy dài, phía trong là hàng cây cổ thụ che kín trời. Qua cổng, tiếng còi xe tắt dần sau từng lớp sân. Tới lớp sân thứ ba thì hiện ra hai dãy nhà bia: tám mươi hai tấm bia đá đặt trên lưng rùa, xếp thành hai hàng nhìn nhau qua một cái giếng vuông lặng nước.

Cả nước có nhiều văn miếu, nhiều văn chỉ, nhiều đền thờ danh nho. Nhưng chỉ ở đây mới còn nguyên một quần thể giữ đủ hai vế của Nho giáo: miếu để thờ và giám để học, dựng liền nhau trên một trục. Và chỉ ở đây mới có một rừng bia đá mà nội dung khắc trên đó không phải chiến công, không phải công đức, mà là tên của những người thi đỗ.

Văn Miếu Quốc Tử Giám
Văn Miếu Quốc Tử Giám. Ảnh: The original uploader was Chuoibk at English Wikipedia., giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thờ Ai Và Học Gì

Tên nơi này gồm hai phần ghép lại. Văn Miếu là miếu thờ đức Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền của đạo Nho. Quốc Tử Giám là trường học của nhà nước, ban đầu dạy con vua và con các bậc đại thần, chữ quốc tử nghĩa là con em của nước. Hai phần ấy đứng liền nhau không phải vì tiện đất, mà vì trong quan niệm Nho gia, học và thờ vốn là một việc.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Nho gia, Khổng Tử được tôn là Tiên Thánh Tiên Sư, bậc thầy đầu tiên của muôn đời. Tế Khổng Tử không phải cầu xin ban phúc mà là lễ tỏ lòng biết ơn người truyền đạo học. Cùng thờ với ngài có bốn vị được xếp phối hưởng là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử, rồi tới bảy mươi hai vị hiền triết trong hàng môn đệ. Cái học mà nơi này gánh vác là học để tu thân trước, rồi mới tới tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; người có tài mà không có đức thì theo Nho gia là chưa thành người học.

Theo sử liệu

Về phần khảo được, Văn Miếu dựng năm 1070 đời Lý Thánh Tông. Sáu năm sau, năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập nhà Quốc Tử Giám ngay phía sau miếu. Buổi đầu trường chỉ nhận con em hoàng tộc và quan lại; tới năm 1253 đời Trần, trường đổi tên là Quốc Tử viện và bắt đầu nhận cả con nhà thường dân học giỏi. Chu Văn An từng giữ chức Tư nghiệp tại trường, sau khi ông mất năm 1370 thì được thờ trong khu nội tự cùng với Khổng Tử.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất, nhiều người thấy hương án và khói hương thì tưởng đây là chùa; không phải, đây là miếu thờ theo lễ Nho gia, không có tượng Phật, không có tăng ni. Thứ hai, nhiều người tưởng trường Quốc Tử Giám xưa vẫn còn tại chỗ; thực ra khu trường cũ đã mất, phần nhà Thái Học mà quý vị thấy hôm nay là công trình được phục dựng trong khoảng năm 1998 đến năm 2000 trên nền đất cũ.

Chín Trăm Năm Đèn Sách

Lịch sử nơi này không đứt đoạn nhưng cũng không phẳng lặng. Mỗi triều đại đi qua đều để lại một lớp: nhà Lý dựng, nhà Trần mở rộng đối tượng học, nhà Lê đặt lệ dựng bia, nhà Nguyễn dựng gác Khuê Văn.

  • 1070Dựng Văn Miếu
    Đời Lý Thánh Tông, miếu được dựng để thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền của đạo Nho.
  • 1076Lập Quốc Tử Giám
    Lý Nhân Tông cho xây nhà Quốc Tử Giám kề ngay sau Văn Miếu, ban đầu dành cho con vua và con các bậc đại thần.
  • 1253Đổi thành Quốc Tử viện
    Đời Trần, trường mang tên Quốc Tử viện và mở cửa nhận cả con em thường dân có sức học nổi trội.
  • 1370Thờ Chu Văn An
    Chu Văn An mất, được đưa vào thờ trong khu nội tự cùng Khổng Tử, việc hiếm có với một người thầy của nước Việt.
  • 1483Thành nhà Thái Học
    Đời Lê, khu trường được mở rộng và mang tên Thái Học đường.
  • 1484Dựng tấm bia đầu tiên
    Nhà Lê đặt lệ khắc bia đề danh tiến sĩ; tấm bia sớm nhất dựng năm này, ghi khoa thi năm 1442.
  • 1780Tấm bia cuối cùng
    Tấm bia muộn nhất được dựng, ghi khoa thi năm 1779. Trọn bộ còn lại tới nay là 82 tấm.
  • 1805Dựng Khuê Văn Các
    Gác Khuê Văn được dựng dưới triều Nguyễn, về sau trở thành hình tượng tiêu biểu của Hà Nội.
  • 1962Di tích quốc gia
    Được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2010 và 2011Bia tiến sĩ vào Ký ức thế giới
    Năm 2010 được UNESCO ghi danh vào Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương, năm 2011 vào danh mục Ký ức thế giới phạm vi toàn cầu.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Toàn bộ di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ngày 10 tháng 5 năm 2012.
  • 2015Bảo vật quốc gia
    82 bia tiến sĩ được công nhận là bảo vật quốc gia; lễ công bố tổ chức ngày 23 tháng 11 năm 2015.

Năm Lớp Sân Và Rừng Bia

Toàn khu rộng 54.331 mét vuông, riêng phần Văn Miếu dài chừng 300 mét, rộng chừng 70 mét, có tường gạch vồ bao quanh. Bên trong chia làm năm khu nối nhau theo một trục dọc; đi từ ngoài vào là đi qua năm lớp sân, mỗi lớp một nhịp, càng vào càng tĩnh.

Hồ Văn và nghi môn ngoại

Hồ Văn rộng 12.297 mét vuông nằm ngoài cổng, có gò đất nổi giữa lòng hồ. Đây là lớp đệm giữa đường phố và khu thờ tự.

Văn Miếu môn

Cổng chính ba cửa, hai tầng, đưa người vào lớp sân thứ nhất trồng cây cổ thụ.

Đại Trung môn

Cổng dẫn sang lớp sân thứ hai. Tên cổng lấy chữ trong đạo trung dung của Nho gia.

Khuê Văn Các

Gác nhỏ dựng năm 1805, bốn cột gạch vuông đỡ tầng gác gỗ, bốn mặt trổ cửa tròn tỏa nan như tia sáng. Đứng ở lớp sân thứ ba, ngay trước giếng Thiên Quang.

Giếng Thiên Quang và nhà bia

Giếng vuông giữa sân, hai bên là hai dãy nhà bia đặt 82 tấm bia tiến sĩ trên lưng rùa đá.

Đại Thành môn và điện Đại Thành

Khu nội tự với nhà Đại bái phía trước và điện Đại Thành phía sau, nơi thờ Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền.

Khu thứ năm là nhà Thái Học, xưa là trường, sau là đền Khải Thánh thờ song thân đức Khổng Tử. Công trình hiện nay được phục dựng trong khoảng năm 1998 đến năm 2000, bên trong đặt nơi tưởng niệm ba vị vua có công với việc học của nước Việt là Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

Theo sử liệu

Rừng bia là phần quý nhất. 82 tấm bia dựng rải trong gần ba trăm năm, từ năm 1484 tới năm 1780, ghi lại các khoa thi từ năm 1442 tới năm 1779 và ghi danh hơn một nghìn ba trăm người đỗ đại khoa, gồm trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, hoàng giáp và tiến sĩ. Mỗi tấm bia đặt trên lưng một con rùa đá; lối tạc rùa và trang trí diềm bia thay đổi theo từng thời, nên bản thân dãy bia cũng là một pho lịch sử mỹ thuật đọc được bằng mắt.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Việc đầu tiên người xưa làm khi chọn đất là tìm chỗ tụ khí, tức chỗ khí đọng lại chứ không thổi tuột đi. Ở đây khí được giữ bằng ba lớp: ngoài cùng là mặt nước hồ Văn, kế đó là bức tường gạch vồ bao kín bốn bề, trong cùng là năm lớp sân nối nhau bằng những khuôn cổng hẹp. Nước chặn ở ngoài, tường giữ ở giữa, cổng thắt ở trong; ba lớp ấy làm cho người đi vào phải chậm dần, mà khí cũng chậm dần theo.

Hồ Văn nằm ngay trước cổng chính, đó là thế minh đường tụ thủy. Minh đường là khoảng đất trống trước mặt công trình; có nước đọng ở minh đường thì theo phép xưa là chủ về tài lộc. Nhưng nơi này không cầu tài, nên cái tụ ấy được đọc sang một nghĩa khác: nước lặng chủ về sự trong, sự tĩnh, hợp với việc đọc sách. Giữa lòng hồ lại có một gò đất nổi lên, tức thế thủy trung đảo, đất nhô giữa nước; trong phép xem đất, một điểm đột giữa vùng bằng phẳng là chỗ khí kết, và người xưa vẫn quen dựng nhà văn chương ở những điểm như vậy.

Trục chính của di tích chạy theo lối tọa bắc hướng nam, là hướng mà miếu vũ và cung điện Bắc Bộ chuộng nhất, vì đón được ánh sáng và gió nồm mùa hạ, quay lưng lại gió bấc mùa đông. Trên trục ấy có một cặp hình rất đáng chú ý: giếng Thiên Quang hình vuông và các cửa sổ Khuê Văn Các hình tròn, đặt sát nhau. Vuông là hình của đất, tròn là hình của trời; đứng ở sân bia mà nhìn, quý vị thấy trời tròn soi xuống đất vuông trong một khung ảnh duy nhất. Tên giếng nghĩa là ánh sáng của trời, tên gác lấy theo sao Khuê, ngôi sao mà thiên văn cổ giao cho việc coi sóc văn chương.

Xét theo ngũ hành và phương vị, sự phối hợp ở đây khá chặt. Nước là hành Thủy, chủ sự tĩnh và sự thông tuệ, được đặt ở lớp ngoài và ở giữa sân bia. Bia đá và rùa đá là hành Thổ, chủ sự bền, đặt ở lớp giữa để giữ tên người đỗ lâu dài. Cây cổ thụ trong các sân là hành Mộc, chủ sự sinh trưởng, ứng với việc dạy người. Ba hành ấy xếp từ ngoài vào trong theo đúng thứ tự Thủy sinh Mộc, Mộc dưỡng người, người khắc tên vào Thổ để lại đời sau. Đó là một cách đọc; văn bia không nói vậy, nhưng đất và công trình thì bày ra như vậy.

Lễ Và Lệ Trong Năm

Lệ tế của Văn Miếu theo lối Nho gia là Xuân Thu nhị kỳ, tức mỗi năm hai kỳ tế lớn vào mùa xuân và mùa thu, chọn ngày Đinh đầu tháng. Bên cạnh lệ cổ ấy, nơi này còn giữ mấy nếp sinh hoạt của người Hà Nội gắn với chữ nghĩa, rõ nhất là xin chữ đầu xuândâng hương cầu học trước mùa thi.

Các dịp chính trong năm tại di tích.
Thời điểm âm lịchViệcNội dung
Ngày Đinh đầu tháng HaiTế Xuân ĐinhKỳ tế Tiên Thánh Tiên Sư mùa xuân theo cổ lệ Nho gia.
Ngày Đinh đầu tháng TámTế Thu ĐinhKỳ tế thứ hai trong năm, cùng nghi thức với kỳ mùa xuân.
Tháng GiêngXin chữ đầu xuânLệ của người Hà Nội, xin chữ tại khu vực do di tích bố trí ngoài khuôn viên nội tự.
Rằm tháng GiêngNgày thơ Việt NamNhiều năm được tổ chức tại sân Thái Học và khu nội tự.
Trước mùa thiDâng hương cầu họcHọc sinh và gia đình tới dâng hương, tập trung vào những tháng trước kỳ thi trong năm.
Chỗ hay hiểu lầm

Có một lệ mới sinh gần đây mà nhiều người tưởng là tục cổ: xoa đầu rùa đá để lấy may thi cử. Đây không phải nghi thức cổ truyền của Nho gia, và việc xoa tay lên đá làm mòn hiện vật, nên khu nhà bia đã được quây lại. Lệ cầu học theo lối cũ là dâng hương ở nhà Thái Học và ở điện Đại Thành, không phải chạm vào bia.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 58 Quốc Tử Giám, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Hà Nội
Đường tới
Nằm giữa hai quận Đống Đa và Ba Đình, mặt chính quay ra đường Quốc Tử Giám, ba mặt còn lại giáp phố Văn Miếu, phố Nguyễn Thái Học và phố Tôn Đức Thắng.
Toạ độ
21.0294, 105.8355
Khi tới nơi

Đây là di tích đang thờ tự chứ không chỉ là điểm tham quan, nên lệ nhà là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo khi vào khu nội tự, bỏ mũ khi vào Đại bái và điện Đại Thành, đi nhẹ nói khẽ ở sân bia, không trèo lên bệ rùa, không chạm tay vào mặt bia và không tựa vào cột gỗ nhà Thái Học.

Khu nhà bia có hàng rào giới hạn, xin quý vị đứng ngoài mà đọc. Việc chụp ảnh trong khu nội tự tùy lệ từng thời điểm, hỏi người trông coi di tích trước khi giơ máy là cách chắc nhất. Nếu quý vị muốn đọc bia, nên đi vào buổi sáng sớm khi nắng còn xiên, chữ khắc nổi rõ hơn nhiều so với giữa trưa.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Văn Miếu Quốc Tử Giám thờ ai

Thờ đức Khổng Tử làm Tiên Thánh Tiên Sư, cùng bốn vị phối hưởng là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử và bảy mươi hai vị hiền triết. Ngoài ra còn thờ Chu Văn An, người từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, được đưa vào thờ sau khi ông mất năm 1370.

Văn Miếu và Quốc Tử Giám có phải là một không

Là hai phần trong cùng một quần thể. Văn Miếu là miếu thờ, dựng năm 1070 đời Lý Thánh Tông. Quốc Tử Giám là trường học của nhà nước, lập năm 1076 đời Lý Nhân Tông, đặt ngay phía sau miếu.

Có bao nhiêu bia tiến sĩ và bia ghi những gì

Còn 82 tấm, dựng rải từ năm 1484 tới năm 1780. Bia ghi các khoa thi từ năm 1442 tới năm 1779, khắc tên hơn một nghìn ba trăm người đỗ đại khoa cùng bài văn bia nói về ý nghĩa của khoa thi ấy.

Bia tiến sĩ được UNESCO ghi danh khi nào

Năm 2010 được ghi danh vào Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương, năm 2011 vào danh mục Ký ức thế giới phạm vi toàn cầu. Tới năm 2015 thì 82 tấm bia được công nhận là bảo vật quốc gia.

Nhà Thái Học hiện nay có phải công trình cổ không

Không. Khu trường Quốc Tử Giám xưa đã mất, công trình nhà Thái Học quý vị thấy hôm nay được phục dựng trong khoảng năm 1998 đến năm 2000 trên nền đất cũ, bên trong đặt nơi tưởng niệm ba vị vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

Đọc Tiếp