Đứng ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, quay lưng lại hồ Trúc Bạch, quý vị sẽ thấy một tam quan bốn trụ và một mái đền thấp nép dưới bóng đa cổ thụ. Bên trong mái đền ấy là một pho tượng đồng cao gần bốn mét, chân đạp rùa, tay tì lên chuôi kiếm có rắn quấn quanh. Đó là Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần mà kinh thành Thăng Long giao cho việc giữ phương Bắc suốt một nghìn năm.
Trong bốn ngôi đền của Thăng Long tứ trấn, Quán Thánh là ngôi duy nhất mang chữ quán chứ không mang chữ đền trong tên gốc. Chữ ấy nói đúng gốc gác của nơi này: đây là một đạo quán, tức cơ sở thờ tự của Đạo Giáo, chứ không phải một ngôi đền thờ thần bản địa. Cả Hà Nội hôm nay không còn mấy nơi giữ được cái gốc ấy rõ như ở đây.

壹Vị Thần Được Thờ
Huyền Thiên Trấn Vũ là danh hiệu Việt Nam dùng cho vị thần mà Đạo Giáo Trung Hoa gọi là Chân Vũ Đại Đế hoặc Huyền Vũ. Tên gọi gói đủ ba lớp nghĩa: huyền là màu đen, màu của phương Bắc trong ngũ hành; thiên là trời; trấn vũ là dùng sức võ mà trấn giữ.
Theo giáo nghĩa Đạo Giáo, Huyền Vũ là một trong bốn linh thú canh giữ bốn phương trời, ứng với phương Bắc, hành Thủy, sắc đen, hình dạng là rùa và rắn quấn nhau. Về sau vị này được nhân cách hóa thành một vị đại đế mặc áo đen, xõa tóc, chân trần, đạp lên rùa và rắn, tay tì kiếm thất tinh. Rùa tượng cho sự bền vững, rắn tượng cho sự linh hoạt; hai con vật đối nghịch mà nằm dưới một chân, ấy là hình ảnh của sức mạnh đã thu phục được cả hai mặt.
Trên phương diện khảo được, tín ngưỡng Huyền Vũ vào Việt Nam theo dòng Đạo Giáo, rồi hòa với lớp thần tích bản địa. Thần tích đền chép Huyền Thiên Trấn Vũ từng giúp An Dương Vương trừ tinh khi xây thành Cổ Loa, và giúp dân trừ hồ tinh chín đuôi ở vùng hồ Tây. Hai chuyện ấy thuộc lớp truyền thuyết, không phải sử biên niên; giá trị của chúng nằm ở chỗ cho thấy người Việt đã gắn vị thần ngoại lai này vào chính đất đai và ký ức của mình sớm đến mức nào.
Nhiều người đọc chữ Trấn Vũ rồi hiểu đây là một vị tướng có thật được phong thần. Không phải. Trấn Vũ là một vị thần trong hệ thần linh Đạo Giáo, không có gốc là người thật. Nhầm lẫn này hay xảy ra vì ba ngôi còn lại trong tứ trấn đều thờ nhân thần hoặc thần bản địa, riêng Quán Thánh thờ một vị thần của Đạo Giáo.
貳Một Nghìn Năm Trấn Bắc
Đền gắn liền với việc dời đô. Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, và theo thần tích đền, ngôi quán được dựng ngay trong những năm đầu ấy, cùng lúc với việc định vị bốn phương của kinh thành.
- 1010Dựng quánTheo thần tích đền, quán được dựng ở phía bắc kinh thành trong những năm đầu đời Lý Thái Tổ, giữ phương Bắc trong bốn trấn.
- 1677Đúc pho tượng đồngĐời Lê Hy Tông, pho tượng gỗ cũ được thay bằng tượng đồng cao 3,96 mét, nặng khoảng 4 tấn. Quả chuông đồng trên gác tam quan cũng đúc năm này.
- 1823Đổi tên Trấn Vũ QuánĐời Minh Mạng, quán mang tên Trấn Vũ Quán.
- 1838Đại tuBố cục còn thấy hôm nay, gồm tam quan, sân bái, tiền đế, trung đế và hậu cung, phần lớn định hình từ lần tu sửa này.
- 1842Mang tên Quán ThánhĐời Thiệu Trị, tên gọi Đền Quán Thánh được dùng và giữ tới nay.
- 1962Di tích quốc giaĐược xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2022Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 12 cho Thăng Long tứ trấn, trong đó có đền Quán Thánh.
參Pho Tượng Đồng Năm 1677
Pho tượng trong hậu cung là thứ khiến người ta nhớ đền này chứ không nhớ đền khác. Tượng cao 3,96 mét, nặng khoảng 4 tấn, chu vi chừng 8 mét, đúc năm 1677 đời Lê Hy Tông để thay pho tượng gỗ trước đó.
Tượng tạc thần trong dáng ngồi, mặc áo đạo bào, tóc xõa không đội mũ, chân để trần. Tay trái bắt ấn quyết, tay phải chống lên chuôi kiếm; lưỡi kiếm cắm xuống lưng rùa, thân rắn quấn quanh lưỡi kiếm. Cả bộ ba người, rùa và rắn ấy chính là hình Huyền Vũ đã được nhân cách hóa, dựng thành khối đồng đứng vững ba trăm năm mươi năm.
| Hiện vật | Niên đại | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ | 1677 | Đồng, cao 3,96 m, nặng khoảng 4 tấn, đặt trong hậu cung |
| Chuông đồng gác tam quan | 1677 | Đúc đời Lê Hy Tông, cùng năm với pho tượng |
| Khánh đồng | Thời chúa Trịnh | Treo trong khu đền, hiện vật cùng lớp niên đại với tượng |
| Hoành phi, câu đối, bia đá | Thế kỷ 17 đến 19 | Nhiều tấm còn nguyên chữ, cho biết các lần trùng tu |
Người ta quen gọi đây là tượng đồng đen và hiểu đồng đen là một thứ kim loại quý hiếm khác đồng. Thực ra sắc đen ở đây là màu của lớp đồng đã ngả theo thời gian và khói hương, cộng với hợp kim đồng pha. Cái tên đồng đen giữ được là vì nó trùng khít với ý nghĩa của vị thần: phương Bắc thuộc hành Thủy, mà sắc của Thủy là đen. Pho tượng đen ấy hợp cả về mắt lẫn về nghĩa, nên tên gọi sống lâu hơn cả sự chính xác của nó.
肆Kiến Trúc Và Bố Cục
Đền dàn theo một trục dọc, đi từ ngoài vào trong là tam quan, sân bái, rồi ba lớp nhà tiền đế, trung đế và hậu cung. Đây là bố cục quen của đền miếu Bắc Bộ, nhưng ở Quán Thánh nó mang một nhịp riêng: sân rộng và thoáng, các lớp nhà thấp, để pho tượng trong cùng khi hiện ra là hiện ra đột ngột.
Bốn trụ, phía trên có gác treo quả chuông đồng đúc năm 1677. Tiếng chuông trên gác này từng là một trong những âm thanh định giờ của khu vực bắc kinh thành.
Khoảng sân lát gạch dưới bóng đa và bồ đề cổ thụ. Sân giữ vai trò làm chậm bước chân, đưa người từ nhịp phố về nhịp thờ tự.
Hai lớp nhà đặt hương án, hoành phi câu đối và các tượng đồng nhỏ. Đây là nơi diễn ra phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày.
Lớp trong cùng, đặt pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ. Không gian hẹp và tối hơn hai lớp ngoài, làm khối đồng lớn thêm phần áp.
Một điểm hay bị bỏ qua: kiến trúc đền mang dấu ấn đạo quán chứ không mang dấu ấn chùa. Không có tháp, không có gác chuông kiểu chùa, không có tượng Phật ở chính điện. Cách bài trí, cách đặt hương án và hệ thống hoành phi câu đối đều theo lối thờ tự của Đạo Giáo. Ai đã quen đi chùa mà lần đầu vào đây thường thấy khác, và cái khác ấy là có lý do.
伍Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay thần tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Đền nằm ở chỗ hai mặt nước gặp nhau: hồ Tây ở phía tây bắc và hồ Trúc Bạch ở phía đông nam, cách nhau bởi con đường Thanh Niên. Trong phép xem đất, nước là thứ tụ khí; một nơi có nước bao hai mặt thì khí không tán, và đó là lý do đầu tiên khiến mảnh đất này được chọn chứ không phải mảnh khác.
Xét theo ngũ hành và phương vị, phương Bắc thuộc hành Thủy, sắc đen, ứng với Huyền Vũ. Đặt một vị thần trấn phương Bắc ngay bên mặt nước lớn nhất của kinh thành là đặt thần đúng vào hành của mình. Pho tượng sắc đen, vị thần mang chữ huyền là đen, chỗ đứng kề nước: ba thứ ấy trùng nhau, và trong phong thủy sự trùng nhau ấy gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ.
Về hướng, cổng chính của đền mở xuống đường Quán Thánh ở phía nam, lưng đền tựa về phía hồ Tây ở phía bắc. Hướng nam là hướng mà đền miếu Bắc Bộ chuộng nhất, vì nó đón được ánh sáng và gió lành của mùa hè, tránh được gió lạnh mùa đông thổi từ phương bắc xuống. Cái thế lưng tựa nước ở đây không giống lối chuẩn mực tựa sơn hướng thủy của sách vở, mà là một biến thể của đồng bằng châu thổ, nơi không có núi để tựa thì mặt nước lớn giữ vai trò làm chỗ dựa.
Cuối cùng là vai trò trong tổng thể. Bốn ngôi đền của tứ trấn không đứng lẻ mà làm thành một vòng khép quanh kinh thành: Bạch Mã giữ phương Đông, Voi Phục giữ phương Tây, Kim Liên giữ phương Nam, Quán Thánh giữ phương Bắc. Đọc bốn ngôi ấy cùng lúc thì thấy người xưa không chỉ chọn đất cho từng đền, mà chọn cả một cấu trúc bốn góc để giữ khí cho cả một kinh đô.
陸Lễ Và Ngày Lễ
Đền có hai ngày lễ lớn trong năm, cả hai đều tính theo âm lịch và cả hai đều gắn với thân thế của vị thần được thờ.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 3 tháng 3 | Ngày sinh Đức Thánh | Lễ hội chính trong năm, có lễ cúng Thánh, rước mâm vật phẩm của các địa bàn dân cư, tuyên đọc thần tích, đại tế của đội tế nam quan và dâng hương của đội nghi lễ nữ. |
| Mùng 9 tháng 9 | Ngày hóa của Đức Thánh | Lễ tưởng niệm, quy mô gọn hơn lễ mùng ba tháng ba nhưng giữ đủ phần tế và dâng hương. |
Ngoài hai ngày ấy, đền đông người vào dịp đầu xuân và ngày rằm mùng một. Nhiều người Hà Nội giữ lệ đi đủ bốn ngôi tứ trấn trong những ngày đầu năm, đi theo vòng bốn phương chứ không đi lẻ một ngôi.
柒Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội
- Đường tới
- Nằm ngay ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, sát bờ nam hồ Tây. Đi bộ được từ khu vực hồ Trúc Bạch và từ đường Phan Đình Phùng.
- Toạ độ
- 21.0453, 105.836
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ và nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào pho tượng và các hiện vật đồng. Việc chụp ảnh trong hậu cung tùy lệ từng thời điểm, xin quý vị hỏi người trông coi đền trước khi giơ máy.
Nếu quý vị muốn đi đủ vòng tứ trấn, thứ tự thường được chọn là theo chiều kim đồng hồ từ đông sang bắc, và Quán Thánh nằm ở chặng cuối của vòng ấy.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Quán Thánh thờ ai
Thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần trấn giữ phương Bắc trong hệ thần linh Đạo Giáo, còn gọi là Chân Vũ Đại Đế hoặc Huyền Vũ. Đây không phải một nhân vật lịch sử được phong thần mà là một vị thần của Đạo Giáo.
Vì sao gọi là quán chứ không gọi là đền hay chùa
Chữ quán trong đạo quán chỉ cơ sở thờ tự của Đạo Giáo, khác với chùa của Phật Giáo và đền thờ thần bản địa. Tên gốc của nơi này là Trấn Vũ Quán; tên Quán Thánh được dùng từ đời Thiệu Trị năm 1842.
Tượng đồng đen ở đây có phải kim loại quý hiếm không
Không. Sắc đen là màu của lớp đồng ngả theo thời gian và khói hương cùng hợp kim đồng pha, không phải một thứ kim loại riêng biệt. Tên gọi sống lâu vì nó trùng với nghĩa của vị thần: phương Bắc thuộc hành Thủy, sắc Thủy là đen.
Thăng Long tứ trấn gồm những đền nào
Bốn ngôi: đền Bạch Mã trấn phương Đông thờ thần Long Đỗ, đền Voi Phục trấn phương Tây thờ Linh Lang Đại Vương, đền Kim Liên trấn phương Nam thờ Cao Sơn Đại Vương, và đền Quán Thánh trấn phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Cả bốn cùng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2022.
Đi lễ đền vào ngày nào là ngày lễ lớn
Mùng ba tháng ba âm lịch là ngày sinh của Đức Thánh, cũng là lễ hội chính trong năm. Mùng chín tháng chín âm lịch là ngày hóa, có lễ tưởng niệm. Ngoài ra đền đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một.