壹Trước Khi Đọc
Trong toàn bộ kinh điển Phật Giáo, hiếm có bản văn nào ngắn mà được đọc nhiều như bài này. Hai trăm sáu mươi chữ Hán, đọc chậm hết chừng hai phút, vậy mà gói trọn giáo nghĩa tánh không của cả một hệ kinh đồ sộ vào bên trong. Ở chùa Việt Nam, đây là bài mà người mới tới lễ Phật lần đầu cũng đã nghe, và là bài mà vị sư già tụng suốt bốn mươi năm vẫn còn giảng chưa hết.
Tên đầy đủ của bài là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 般若波羅蜜多心經, người Việt quen gọi gọn là Bát Nhã Tâm Kinh hoặc Tâm Kinh. Bốn chữ Bát Nhã Ba La Mật Đa là phiên âm chữ Phạn prajnaparamita, nghĩa là trí tuệ đưa người qua tới bờ bên kia. Chữ tâm 心 trong tên kinh không chỉ trái tim hay tấm lòng, mà mang nghĩa cốt tủy, phần lõi, tinh yếu của một khối lớn hơn.
Bài kinh không mở đầu theo lối thường thấy, không có cảnh Đức Phật ngồi ở đâu, không có ai thưa hỏi. Nó vào thẳng, bằng hình ảnh một vị Bồ Tát đang quán chiếu, rồi từ cái thấy ấy mà nói ra một chuỗi mệnh đề càng lúc càng dứt khoát, cuối cùng khép lại bằng một câu chú không dịch.
Trang này trình bày trọn văn bản chữ Hán, phiên âm Hán Việt theo lối tụng ở chùa Việt Nam, phần dịch nghĩa bằng lời thường, và phần giải nghĩa từng câu then chốt. Thư viện trình bày để quý vị đọc và tự cân nhắc, không đứng ra phán định thay quý vị điều gì.
Về lai lịch văn bản, cần đặt bài kinh này trong hệ của nó. Bát Nhã không phải một quyển sách mà là cả một hệ kinh, gồm nhiều bản dài ngắn khác nhau. Có bản tới hai mươi lăm nghìn câu tụng, có bản một trăm nghìn câu, và bộ Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh mà chính ngài Huyền Trang dịch sang chữ Hán lên tới sáu trăm quyển. Tâm Kinh là phần cô đọng nhất của khối đó, và nhiều đoạn trong nó trùng khớp với những đoạn có sẵn trong các bản Bát Nhã dài.
Bản Hán dịch thông hành hiện nay ghi tên dịch giả là ngài Huyền Trang 玄奘, vị cao tăng đời Đường đã sang Ấn Độ cầu pháp rồi về nước chủ trì một trong những công trình dịch kinh lớn nhất lịch sử Trung Hoa, thế kỷ thứ bảy. Chính bản này được tụng ở chùa Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên cho tới nay. Trước và sau bản ấy còn có các bản Hán dịch khác, trong đó bản mang tên ngài Cưu Ma La Thập được xem là sớm hơn, và một số bản đời sau có thêm phần mở đầu và phần kết theo thể thức kinh điển đầy đủ.
Trong giới nghiên cứu hiện đại có một cuộc thảo luận chưa khép về nguồn gốc văn bản. Từ đầu thập niên 1990, một số học giả, mà bài viết được nhắc tới nhiều nhất là của nhà nghiên cứu Jan Nattier, đã nêu giả thuyết rằng bản ngắn của Tâm Kinh có thể được kết tập tại Trung Hoa từ những đoạn có sẵn trong bản Hán dịch Bát Nhã của ngài Cưu Ma La Thập, rồi về sau mới được dịch ngược sang chữ Phạn. Giả thuyết ấy dựa trên việc đối chiếu câu chữ giữa các bản Hán và bản Phạn. Nhiều học giả khác đã phản biện và đưa ra cách đọc khác đối với chính những cứ liệu đó, và cuộc thảo luận vẫn đang tiếp tục trong các tạp chí chuyên ngành.
Thư viện nêu điều này để quý vị biết rằng có một cuộc thảo luận học thuật đang diễn ra, và không kết luận thay các học giả. Cũng cần nói thêm rằng đối với truyền thống tụng đọc, câu hỏi về nơi kết tập không làm thay đổi nội dung giáo nghĩa của bài kinh, vốn đã nằm sẵn trong hệ Bát Nhã từ trước.
貳Toàn Văn Hai Trăm Sáu Mươi Chữ
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時, | Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, | Bồ Tát Quán Tự Tại, khi đi sâu vào trí tuệ đưa người qua bờ bên kia, |
| 2 | 照見五蘊皆空,度一切苦厄。 | chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. | soi thấy năm nhóm hợp thành con người đều không có tự tánh riêng, liền vượt qua mọi khổ nạn. |
| 3 | 舍利子,色不異空,空不異色, | Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, | Này Xá Lợi Tử, vật chất chẳng khác cái không, cái không chẳng khác vật chất, |
| 4 | 色即是空,空即是色。 | sắc tức thị không, không tức thị sắc. | vật chất chính là cái không, cái không chính là vật chất. |
| 5 | 受想行識,亦復如是。 | Thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị. | Cảm nhận, tri giác, tạo tác trong lòng và nhận thức, cả bốn thứ ấy cũng y như vậy. |
| 6 | 舍利子,是諸法空相, | Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, | Này Xá Lợi Tử, mọi sự vật đều mang tướng không, |
| 7 | 不生不滅,不垢不淨,不增不減。 | bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. | không sinh ra cũng không mất đi, không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt. |
| 8 | 是故空中無色,無受想行識, | Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, | Cho nên trong cái không ấy, không có vật chất đứng riêng, không có cảm nhận tri giác tạo tác nhận thức đứng riêng, |
| 9 | 無眼耳鼻舌身意, | vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, | không có mắt tai mũi lưỡi thân và ý đứng riêng, |
| 10 | 無色聲香味觸法, | vô sắc thanh hương vị xúc pháp, | không có hình sắc âm thanh mùi vị vật chạm và đối tượng của ý đứng riêng, |
| 11 | 無眼界,乃至無意識界。 | vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. | không có phạm vi của cái thấy, cho tới không có phạm vi của ý thức. |
| 12 | 無無明,亦無無明盡, | Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, | Không có sự mê mờ như một vật có thật, cũng không có việc dứt hết mê mờ như một vật có thật, |
| 13 | 乃至無老死,亦無老死盡。 | nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. | cho tới không có già chết, cũng không có việc dứt hết già chết. |
| 14 | 無苦集滅道, | Vô khổ tập diệt đạo, | Không có khổ, không có nguyên nhân gây khổ, không có sự dứt khổ, không có con đường dứt khổ, hiểu như bốn vật riêng biệt, |
| 15 | 無智亦無得。 | vô trí diệc vô đắc. | không có cái biết, cũng không có cái được. |
| 16 | 以無所得故,菩提薩埵, | Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa, | Bởi không có gì để được, nên bậc Bồ Tát, |
| 17 | 依般若波羅蜜多故,心無罣礙。 | y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại. | nương vào trí tuệ đưa người qua bờ bên kia, lòng không còn vướng mắc. |
| 18 | 無罣礙故,無有恐怖, | Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, | Vì lòng không vướng mắc nên không còn sợ hãi, |
| 19 | 遠離顛倒夢想,究竟涅槃。 | viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. | lìa hẳn những ý nghĩ lộn ngược như trong mộng, đi tới chỗ vắng lặng trọn vẹn. |
| 20 | 三世諸佛,依般若波羅蜜多故, | Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, | Chư Phật trong ba đời quá khứ hiện tại vị lai cũng nương vào trí tuệ ấy, |
| 21 | 得阿耨多羅三藐三菩提。 | đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. | mà đạt tới sự giác ngộ cao nhất, ngay thẳng và trùm khắp. |
| 22 | 故知般若波羅蜜多,是大神咒,是大明咒, | Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, | Vậy nên biết, trí tuệ đưa người qua bờ bên kia là lời chú có sức lớn, là lời chú soi sáng lớn, |
| 23 | 是無上咒,是無等等咒, | thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, | là lời chú không gì cao hơn, là lời chú không gì sánh ngang, |
| 24 | 能除一切苦,真實不虛。 | năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. | trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư dối. |
| 25 | 故說般若波羅蜜多咒,即說咒曰: | Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết: | Cho nên nói lời chú của trí tuệ đưa người qua bờ bên kia, lời chú rằng: |
| 26 | 揭諦揭諦,波羅揭諦,波羅僧揭諦,菩提薩婆訶。 | Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. | Đi qua, đi qua, qua tới bờ bên kia, cùng nhau qua trọn tới bờ bên kia, giác ngộ, thành tựu thay. |
參Giải Nghĩa Từng Đoạn
Phần dưới lấy mười một câu then chốt của bài kinh ra giảng kỹ hơn. Thứ tự giữ đúng như trong nguyên văn, để quý vị đọc theo mạch của bài. Những chỗ dễ hiểu lệch được nói rõ ngay trong phần giảng.
Câu mở đầu đã gói sẵn toàn bộ bài kinh. Bốn chữ 觀自在 là danh hiệu của vị Bồ Tát mà người Việt quen gọi là Quán Thế Âm, ở đây được dịch theo nghĩa quán chiếu một cách tự tại, tức là nhìn mà không bị cái mình nhìn trói buộc.
Chữ hành thâm đáng để dừng lại. Bài kinh không nói vị Bồ Tát ấy nghĩ về trí tuệ, cũng không nói ngài đọc về trí tuệ, mà nói ngài đi sâu vào trí tuệ ấy. Toàn bộ những gì được nói phía sau là kết quả của một cái nhìn trực tiếp, không phải kết luận của một cuộc lý luận.
Chữ chiếu kiến cũng vậy, nghĩa là soi mà thấy, như ánh sáng rọi vào chỗ tối thì cái gì có sẵn trong đó hiện ra. Không phải đặt thêm cái gì vào, chỉ là thấy đúng cái đang có. Năm uẩn vốn đã không có tự tánh riêng từ trước, cái nhìn ấy chỉ làm chuyện nhận ra.
Vế cuối, độ nhất thiết khổ ách, nối cái thấy với cái khổ. Bài kinh đặt ra một mệnh đề rất gọn: khổ phần lớn sinh từ chỗ quý vị tưởng có một cái gì đó bền chắc, riêng biệt, đứng độc lập, rồi bám vào nó. Thấy đúng rằng không có cái đó thì chỗ bám cũng hết.
Chữ sắc ở đây không phải là màu sắc, cũng không phải chuyện nam nữ. Trong hệ thuật ngữ Phật Giáo, sắc chỉ toàn bộ phần vật chất: thân thể, đồ vật, cái bàn, cái ly, ngọn núi.
Câu này nói vật chất chẳng khác cái không, và cái không cũng chẳng khác vật chất. Nghĩa là hai thứ ấy không phải hai cõi tách rời. Có nhiều người hiểu nhầm rằng phải bỏ cái ly đi mới thấy được cái không, như thể cái không nằm ở đâu đó phía sau. Bài kinh bác điều đó ngay từ câu này.
Lấy cái ly trên bàn quý vị làm ví dụ. Cái ly có thật, cầm được, rót nước được, rơi thì vỡ. Nhưng tìm trong đó một cái lõi gọi là tính ly tồn tại độc lập thì không có. Cái ly có được là nhờ đất sét, nhờ lửa, nhờ bàn tay thợ, nhờ cái hình dạng ấy, nhờ việc quý vị dùng nó để uống. Bỏ hết những cái nhờ ấy đi thì không còn cái ly nào cả. Cái không mà bài kinh nói chính là chỗ đó, và nó nằm ngay trong cái ly, không nằm ngoài.
Câu trước nói hai thứ không khác nhau. Câu này đi thêm một bước, nói thẳng rằng thứ này chính là thứ kia. Đây là câu được trích dẫn nhiều nhất trong toàn bộ kinh điển Phật Giáo bằng chữ Hán, và cũng là câu bị dùng sai nhiều nhất.
Cách hiểu sai thường gặp: mọi thứ đều là hư vô, cho nên chẳng có gì đáng kể. Nếu bài kinh muốn nói vậy thì vế thứ hai đã thừa. Nhưng vế thứ hai có mặt, và nó nói không tức thị sắc, cái không chính là vật chất. Một cái hư vô thì không thể quay lại thành cái ly được. Chỉ có cái không theo nghĩa không có tự tánh riêng mới vừa là cái ly vừa là chỗ khiến cái ly hiện ra được.
Có thể nói lại cho gần: đúng vì cái ly không có một cái lõi cố định nên nó mới thành được cái ly. Nếu đất sét có sẵn một bản chất cứng nhắc không đổi thì nó đã không thể thành cái ly, cũng không thể thành viên gạch. Chính chỗ trống ấy làm cho mọi sự hình thành trở nên khả dĩ. Cái không không phá vật chất, nó là điều kiện của vật chất.
Sau khi nói xong về phần vật chất, bài kinh kéo bốn phần còn lại của con người vào cùng một mệnh đề, chỉ bằng bốn chữ diệc phục như thị, nghĩa là cũng y như vậy.
Điều này quan trọng hơn vẻ ngắn gọn của nó. Nhiều người chấp nhận rằng đồ vật thì tạm bợ, nhưng lại tin rằng cảm xúc của mình, ý nghĩ của mình, cái tôi bên trong của mình thì có thật một cách chắc chắn. Bài kinh nói bốn phần tâm lý ấy cũng cùng một thể trạng với cái ly.
Cơn giận của quý vị lúc kẹt xe cũng là một cái ly. Nó có, nó nóng, nó làm quý vị bóp còi. Nhưng tìm trong đó một hạt nhân giận cố định thì không thấy; nó là do nắng, do trễ giờ, do một chuyện hồi sáng, do thói quen phản ứng nhiều năm. Thấy được chỗ ấy thì cơn giận không mất ngay, nhưng nó thôi là ông chủ.
Chữ pháp ở đây không phải là luật pháp, cũng không phải giáo pháp. Trong ngữ cảnh này, pháp chỉ mọi sự vật hiện tượng, tất cả những gì có thể kể ra được.
Sáu chữ bất đứng thành ba cặp, chối bỏ ba cặp đối lập mà người ta quen dùng để đo thế giới: có và mất, dơ và sạch, thêm và bớt. Bài kinh không nói mọi thứ đứng yên; nó nói những cặp phạm trù ấy là do quý vị đặt lên, chứ bản thân sự vật không mang sẵn.
Lấy một dòng sông. Quý vị nói nước sông sinh ra ở nguồn rồi mất ở biển. Nhưng nước không sinh cũng không mất, nó chuyển từ dạng này sang dạng khác, thành hơi, thành mây, thành mưa. Cái sinh và cái mất là hai cái nhãn quý vị dán vào đoạn giữa mà quý vị nhìn thấy. Cũng vậy, tờ giấy mà người này gọi là sạch thì người kia gọi là dơ, tùy chỗ đứng.
Vì thế câu này không dạy quý vị thờ ơ với sạch dơ trong đời sống. Nó chỉ nhắc rằng những cái nhãn ấy là công cụ, không phải bản chất của sự vật.
Tới đoạn này bài kinh bắt đầu đọc một loạt chữ vô, và đây là chỗ khiến người mới đọc dễ hoảng nhất. Nghe qua thì như bài kinh đang phủ nhận rằng quý vị có mắt, có tai, có mũi.
Không phải vậy. Sáu thứ đầu là sáu căn, tức sáu cửa tiếp xúc. Sáu thứ sau là sáu trần, tức sáu loại đối tượng tương ứng. Đây không phải danh sách tùy tiện, mà là bộ khung phân tích kinh điển của Phật Giáo thời kỳ đầu, một hệ thống phân loại rất chặt được dùng để mổ xẻ kinh nghiệm con người.
Bài kinh đang phủ định tính riêng biệt của từng ô trong bộ khung ấy, không phủ định việc quý vị đang nhìn thấy. Con mắt không tự nó thấy được gì; phải có ánh sáng, có vật, có thần kinh, có sự chú ý. Cái thấy là một sự kiện của cả một mạng lưới, không phải công trạng của riêng con mắt. Vậy nên nói vô nhãn, nghĩa là không có con mắt như một cái đơn vị đứng một mình.
Điều đáng lưu ý về cách viết: bài kinh chọn phủ định chính bộ thuật ngữ của nhà Phật, chứ không phủ định thế gian. Đó là cách nói rằng ngay cả những khái niệm dùng để tu cũng không được biến thành vật sở hữu.
Năm chữ này thường làm người đọc sững lại, vì khổ, tập, diệt, đạo chính là Tứ Diệu Đế, bài giảng đầu tiên của Đức Phật ở vườn Lộc Uyển, thời chuyển pháp luân đầu tiên. Bài kinh vừa nói không có bốn thứ ấy.
Cần đọc cho đúng chỗ. Bài kinh không nói Tứ Diệu Đế sai, cũng không nói khỏi cần tu. Nó đang đứng ở tầng thứ hai để nói rằng bốn sự thật ấy cũng không có tự tánh riêng, cũng do duyên khởi mà thành, cũng không được cầm nắm như bốn viên gạch.
Ví như chiếc thuyền đưa người qua sông. Chiếc thuyền có công, không ai chối. Nhưng sang tới bờ rồi mà vác thuyền lên vai đi tiếp thì thuyền thành gánh nặng. Câu vô khổ tập diệt đạo là câu nhắc đặt thuyền xuống, nói với người đã qua sông, không nói với người còn đứng ở bờ bên này.
Đây là chỗ bài kinh khép lại vòng phủ định, và nó phủ định luôn cả cái trí tuệ mà chính nó đang nói tới, cùng với cái thành quả của việc tu.
Lý do rất thực tế. Hễ còn giữ ý nghĩ tôi sẽ đạt được cái giác ngộ đó thì trong ý nghĩ ấy vẫn còn nguyên một người đi đạt và một món để đạt, tức là vẫn còn nguyên cái thế bám víu mà bài kinh đang tháo gỡ. Đổi món hàng từ tiền bạc sang giác ngộ thì lòng tham vẫn y nguyên, chỉ khoác áo khác.
Có thể so với chuyện ngủ. Người mất ngủ càng cố đạt cho được giấc ngủ thì càng thức. Giấc ngủ tới khi thôi truy đuổi nó. Chữ vô đắc mang tinh thần ấy, và bốn chữ dĩ vô sở đắc cố ngay sau đó nói rõ: chính vì không có gì để được mà mọi chuyện phía sau mới thành.
Sau một loạt phủ định, bài kinh lần đầu nói tới một kết quả cụ thể mà người thường cảm được. Hai chữ quái ngại 罣礙 vốn tả cái lưới bị mắc, cái áo vướng gai, tức là chỗ mắc kẹt.
Mạch của câu rất chặt và đáng đọc chậm: lòng hết vướng mắc, vì hết vướng mắc nên hết sợ hãi. Bài kinh đặt sợ hãi làm hệ quả của vướng mắc, chứ không xem nó là một cảm xúc rời rạc. Quý vị sợ mất thứ gì thì thường là vì đã ngầm coi thứ ấy là một khối chắc chắn thuộc về mình.
Điều này kiểm chứng được trong đời sống. Người sợ mất chức thường là người đã đồng hóa mình với cái chức ấy. Chừng nào còn thấy cái chức là một phần cứng của bản thân thì nỗi sợ còn nguyên; thấy được nó là một tập hợp các điều kiện tạm thời thì nỗi sợ nhẹ đi, mà việc làm không vì thế mà kém đi.
Cụm điên đảo mộng tưởng chỉ những ý nghĩ lộn ngược, thấy cái tạm là bền, thấy cái phiền là vui. Bài kinh không hứa hết chuyện xảy đến; nó nói tới chỗ thôi bị những ý nghĩ ấy dẫn đi.
Câu này đóng vai trò chứng thực trong bố cục bài kinh. Sau khi nói cái thấy ấy đưa Bồ Tát tới chỗ không sợ hãi, bài kinh nói thêm rằng chư Phật ba đời cũng đi bằng đúng con đường đó.
Cụm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề là phiên âm chữ Phạn anuttara samyak sambodhi, thường dịch là giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức sự tỉnh thức cao nhất, ngay thẳng và trùm khắp. Ngài Huyền Trang giữ nguyên âm chứ không dịch nghĩa, theo nguyên tắc dịch thuật của chính ngài là để nguyên những từ mà một chữ Hán không tải hết nghĩa.
Đáng chú ý là câu này vẫn dùng chữ đắc, được, ngay sau khi bài kinh vừa nói vô đắc. Đó không phải mâu thuẫn. Cái được ở đây là cái được của người đã thôi tìm cách được.
Bài kinh kết bằng một câu chú, và cách kết ấy đổi hẳn giọng. Suốt hai trăm mấy chục chữ trước, bài kinh dùng lý lẽ để tháo gỡ từng khái niệm. Tới đây nó buông lý lẽ, chuyển sang một câu chỉ có âm.
Chữ Phạn của câu này là gate gate paragate parasamgate bodhi svaha. Nếu tạm dịch thì có nghĩa là đi qua, đi qua, qua tới bờ bên kia, cùng nhau qua trọn tới bờ bên kia, giác ngộ, thành tựu thay.
Vị trí của câu chú trong bố cục cũng là một lời dạy. Sau khi đã phủ định cả cái trí lẫn cái được, không còn chỗ nào cho một mệnh đề mới. Cái còn lại là một tiếng gọi lên đường, và tiếng gọi ấy nói với số nhiều: chữ samgate mang nghĩa cùng nhau, không phải một mình.
肆Chữ Không Trong Tâm Kinh
Nếu chỉ đọc được một mục trong trang này, xin quý vị đọc mục này. Chữ không 空 là chữ chống đỡ toàn bộ bài kinh, và cũng là chữ bị hiểu lệch nhiều nhất trong tiếng Việt, vì trong đời sống thường ngày chữ không có nghĩa là chẳng có gì.
Không không có nghĩa là hư vô
Chữ Hán 空 ở đây dịch từ chữ Phạn sunyata. Cần nói ngay điều quan trọng nhất: sunyata không có nghĩa là hư vô, không có nghĩa là không tồn tại, không có nghĩa là mọi thứ chỉ là ảo giác.
Bài kinh không nói cái ly không có. Nó không bảo quý vị rằng bữa cơm tối nay là ảo, rằng người thân của quý vị không thật, rằng làm việc hay không làm việc cũng như nhau. Một bài kinh nói như vậy thì không thể mở đầu bằng câu độ nhất thiết khổ ách, bởi trong hư vô thì cũng chẳng có ai để độ và chẳng có khổ nào để vượt.
Chính bài kinh đã tự phòng chỗ hiểu lệch này. Sau khi nói sắc tức thị không, nó lập tức nói ngược lại không tức thị sắc. Vế thứ hai đó chỉ có nghĩa khi cái không là một cái gì đó có thể quay trở lại thành cái ly. Hư vô thì không làm được chuyện ấy.
Không nghĩa là không có tự tánh riêng
Nghĩa đúng của sunyata là không có tự tánh, tức là không có một cái lõi riêng biệt, cố định, tự nó có, tồn tại độc lập không cần dựa vào cái gì khác.
Nói cho gọn: mọi thứ đều có, nhưng không có thứ nào tự nó mà có. Cái gì cũng có được là nhờ những cái khác. Đó chính là lý duyên khởi, giáo nghĩa nền tảng của Phật Giáo, và chữ không trong Tâm Kinh là một cách nói khác của chính lý ấy. Tánh không và duyên khởi không phải hai điều, chúng là hai mặt của một điều.
Xin lấy một ví dụ sờ được. Quý vị cầm một cây bút trong tay. Cây bút có thật. Nhưng thử tìm xem cái gì trong đó là cây bút. Vỏ nhựa không phải cây bút, ruột mực không phải cây bút, cái nắp không phải cây bút. Tháo hết ra bày trên bàn thì không còn cây bút nào. Ráp lại thì cây bút hiện ra. Vậy cây bút có, mà cái lõi gọi là tính bút thì không có. Đó là tánh không.
Ví dụ thứ hai gần hơn với con người. Một người là người cha vì có con. Một người là giám đốc vì có công ty và có nhân viên. Bỏ hết những quan hệ ấy đi thì không còn người cha nào, không còn giám đốc nào, dù con người đó vẫn còn nguyên. Những danh xưng ấy có thật trong đời sống, chúng chi phối cách ta ăn ở với nhau, nhưng chúng không phải là những khối đặc nằm sẵn trong người ấy.
Vì sao chỗ hiểu lệch này lại quan trọng
Chỗ hiểu lệch này không phải chuyện chữ nghĩa. Nó dẫn tới hai hậu quả thật.
Thứ nhất, nhiều người bên ngoài nhìn vào rồi kết luận Phật Giáo là một thứ chủ nghĩa hư vô, dạy người ta buông xuôi, coi thường đời sống. Đây là cách đọc đã lặp lại nhiều lần trong lịch sử, cả ở phương Tây thế kỷ mười chín lẫn trong các cuộc tranh luận ở Á Đông. Nếu chữ không có nghĩa là hư vô thì kết luận ấy hợp lý. Nhưng nó không có nghĩa đó.
Thứ hai, nguy hơn, là người trong đạo hiểu lệch rồi lấy chữ không làm cớ để tránh trách nhiệm. Nói rằng mọi thứ đều không nên chẳng cần giữ giới, chẳng cần đối xử tử tế, chẳng cần làm gì cả. Truyền thống Phật Giáo gọi đây là rơi vào đoạn kiến, và xem nó là cái nguy còn lớn hơn việc bám chấp thông thường. Chính vì thế mà các bản chú giải cổ đều nhấn rất mạnh vế không tức thị sắc.
Hiểu đúng thì kết quả ngược lại hẳn. Thấy rằng mọi thứ nương nhau mà có thì thấy việc mình làm có ảnh hưởng tới người khác một cách thật sự, không phải chuyện đạo lý suông. Thấy tánh không thì thấy trách nhiệm rõ hơn, không phải nhẹ đi.
Chỗ cần nhớ, gọn trong một câu: chữ không trong Tâm Kinh không có nghĩa là không tồn tại. Nó có nghĩa là không tồn tại một cách riêng biệt và độc lập. Mọi thứ đều có, nhưng có nhờ những thứ khác, không thứ nào tự đứng một mình. Ai đọc chữ không thành hư vô là đã đọc ngược bài kinh, vì chính bài kinh đã bác cách đọc ấy bằng bốn chữ không tức thị sắc.
伍Ngũ Uẩn Và Mười Tám Giới
Bài kinh nhắc tới mấy bộ danh mục mà người quen đọc kinh thì thấy ngay, còn người mới đọc thì thấy như một chuỗi chữ khó. Mục này bày ra để quý vị đối chiếu khi đọc lại toàn văn.
Bộ thứ nhất là ngũ uẩn, năm nhóm hợp lại thành cái mà ta quen gọi là một con người. Chữ uẩn 蘊 nghĩa gốc là chất chồng, gom lại thành đống. Cách phân loại này nói rằng cái tôi không phải một khối liền, mà là năm dòng đang chạy cùng lúc.
Phần vật chất: thân thể, các giác quan, và mọi thứ vật chất mà thân này tiếp xúc. Đây là uẩn duy nhất cầm nắm được.
Cảm nhận thô nhất khi tiếp xúc, chia ba loại: dễ chịu, khó chịu, không dễ cũng không khó chịu. Chưa có suy nghĩ, mới chỉ là cái nếm đầu tiên.
Tri giác và nhận dạng. Là chỗ tâm gán tên cho cái vừa tiếp xúc: đây là cái ghế, đây là tiếng chuông, người kia là bạn.
Những tạo tác trong lòng: ý muốn, dự tính, thói quen phản ứng, các thúc đẩy đưa tới hành động. Đây là uẩn tạo nghiệp.
Nhận thức phân biệt, cái biết đi kèm từng cửa giác quan. Không phải một linh hồn ở phía sau, mà là dòng biết sinh khởi theo từng tiếp xúc.
Bộ thứ hai là mười tám giới, gồm sáu căn, sáu trần và sáu thức. Sáu căn là sáu cửa tiếp xúc, sáu trần là sáu loại đối tượng, sáu thức là sáu dòng nhận biết tương ứng. Ba nhóm ấy khớp với nhau từng cặp, và bài kinh gọi tắt cả bộ bằng cách nêu hai đầu, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, nghĩa là từ giới đầu tiên cho tới giới cuối cùng.
| Sáu căn, cửa tiếp xúc | Sáu trần, đối tượng | Sáu thức, cái biết |
|---|---|---|
| Nhãn 眼, mắt | Sắc 色, hình sắc | Nhãn thức, cái thấy |
| Nhĩ 耳, tai | Thanh 聲, âm thanh | Nhĩ thức, cái nghe |
| Tỵ 鼻, mũi | Hương 香, mùi | Tỵ thức, cái ngửi |
| Thiệt 舌, lưỡi | Vị 味, vị nếm | Thiệt thức, cái nếm |
| Thân 身, thân | Xúc 觸, vật chạm | Thân thức, cái chạm |
| Ý 意, ý | Pháp 法, đối tượng của ý | Ý thức, cái nghĩ |
Vì sao bài kinh đọc một loạt chữ vô
Tới đây thì hiểu được đoạn khó nhất của bài. Sau khi liệt kê ngũ uẩn, bài kinh nói vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, rồi vô sắc thanh hương vị xúc pháp, rồi quét tiếp qua mười hai nhân duyên với vô vô minh cho tới vô lão tử, rồi tới Tứ Diệu Đế với vô khổ tập diệt đạo, cuối cùng là vô trí diệc vô đắc.
Xin quý vị để ý danh sách những thứ bị phủ định. Không có thứ nào là đồ vật ngoài đời. Bài kinh không nói không có cái bàn, không có ngọn núi, không có bữa cơm. Tất cả những thứ bị đặt chữ vô ở trước đều là các phạm trù của chính hệ thống giáo lý Phật Giáo cổ điển. Ngũ uẩn, mười tám giới, mười hai nhân duyên, Tứ Diệu Đế. Đây là bốn bộ khung phân tích quan trọng nhất được dùng trong thời kỳ đầu.
Vậy bài kinh đang làm gì? Nó đang lần lượt phủ định từng tầng của bộ khung khái niệm ấy, để nói rằng chính các khái niệm dùng để phân tích cũng không có tự tánh riêng, cũng không được biến thành vật sở hữu. Nó không phủ định sự tồn tại của thế giới; nó tháo cái giàn giáo sau khi ngôi nhà đã dựng.
Ví như người học đàn. Lúc đầu phải nhớ tên từng nốt, đếm từng nhịp, nhìn từng ngón. Bộ khung ấy cần thiết, thiếu nó thì không học được. Nhưng người đàn hay là người đã thôi phải nghĩ tới tên nốt trong lúc đàn. Bộ khung không sai và cũng không bị vứt đi, nó chỉ thôi đứng chắn giữa người và tiếng đàn.
Đó cũng là lý do bài kinh này được xếp vào hệ Bát Nhã. Chữ Bát Nhã chỉ thứ trí tuệ trực tiếp, khác với cái biết nhờ thu góp khái niệm. Bài kinh phủ định khái niệm không phải để bỏ trống, mà để chừa chỗ cho cái thấy trực tiếp ấy.
陸Câu Chú Cuối Kinh
Bài kinh khép lại bằng một câu chú. Nguyên văn chữ Hán là 揭諦揭諦,波羅揭諦,波羅僧揭諦,菩提薩婆訶, phiên âm Hán Việt theo lối tụng ở chùa Việt Nam là Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. Nguyên gốc chữ Phạn là gate gate paragate parasamgate bodhi svaha.
Cần nói rõ rằng phần chữ Hán ở đây không phải là dịch. Ngài Huyền Trang đã phiên âm, tức là dùng chữ Hán để ghi lại âm chữ Phạn, không dùng chữ Hán để chuyển nghĩa. Vì thế đọc từng chữ Hán trong câu chú theo nghĩa Hán thì không ra được điều gì.
Nghĩa từng chữ
Đi qua, đã qua rồi. Chữ này lặp hai lần ở đầu câu. Nhiều bản chú giải đọc hai lần lặp ấy là hai chặng, hoặc đọc như một tiếng gọi được nhắc lại cho khẩn thiết.
Chữ para nghĩa là bờ bên kia. Cả cụm là qua tới bờ bên kia. Đây chính là chữ được dịch nghĩa ra Hán ở tên kinh, tức bốn chữ Ba La Mật Đa.
Thêm chữ sam, mang nghĩa cùng nhau, trọn vẹn, đầy đủ. Cả cụm là cùng nhau qua trọn tới bờ bên kia. Đây là chỗ câu chú chuyển từ một người sang số nhiều.
Giác ngộ, sự tỉnh thức. Cũng chính là chữ trong tên cây bồ đề, nơi Đức Phật thành đạo.
Tiếng kết thúc quen dùng ở cuối các câu chú Ấn Độ, có từ trước Phật Giáo, mang nghĩa nguyện được thành tựu, xin cho được như vậy. Gần với chữ amen về vai trò trong câu.
Vì sao phần lớn truyền thống không dịch câu chú
Câu chú này dịch ra được, và phần trên vừa dịch. Nhưng ở chùa thì hầu như không nơi nào tụng bản dịch, mà giữ nguyên âm. Có mấy lý do đã được các nhà chú giải nêu ra từ lâu.
Thứ nhất là nguyên tắc dịch thuật của chính ngài Huyền Trang. Ngài đặt ra năm trường hợp giữ nguyên âm không dịch nghĩa, và chú ngữ là trường hợp đầu tiên trong năm. Lý do là một câu chú có công dụng gắn với chính chuỗi âm của nó, dịch nghĩa xong thì âm mất, mà cái mất ấy không lấy lại được bằng nghĩa.
Thứ hai là vai trò của câu chú trong bố cục bài kinh. Suốt hai trăm mấy chục chữ trước đó, bài kinh dùng lý lẽ tháo gỡ từng khái niệm, tới chỗ phủ định cả cái trí lẫn cái được. Nếu tới đoạn kết lại đưa thêm một mệnh đề có nghĩa để người đọc bám vào thì hỏng cả mạch. Câu chú giữ nguyên âm làm đúng việc cần làm ở chỗ ấy: nó không cho tâm một món mới để nắm.
Thứ ba là chuyện thực tế của việc tụng chung. Một chuỗi âm cố định thì hàng trăm người tụng chung được, đời này qua đời khác vẫn một âm ấy, còn bản dịch thì mỗi vùng mỗi khác. Câu chú này được giữ gần như nguyên vẹn qua các truyền thống Hán, Nhật, Triều Tiên, Tây Tạng và Việt Nam, dù giọng đọc mỗi nơi mỗi khác.
Cũng cần nói cho rõ: giữ nguyên âm không có nghĩa là câu chú vô nghĩa, cũng không có nghĩa là nghĩa của nó bị giấu. Nghĩa của nó được ghi trong mọi bản chú giải, và các vị giảng sư vẫn giảng bình thường.
柒Tụng Ở Đâu Và Khi Nào
Trên thực tế, đây là bài kinh được tụng nhiều nhất trong các chùa Bắc Tông. Lý do một phần nằm ở độ dài: hai trăm sáu mươi chữ vừa đủ để đặt vào cuối một thời khóa mà không kéo dài thêm bao nhiêu, nên nó có mặt được ở gần như mọi nghi thức.
Trong công phu khuya và công phu chiều ở chùa, Tâm Kinh thường được tụng ở phần cuối, sau bài kinh chính, trước phần hồi hướng. Nhiều Phật tử tại gia cũng giữ lệ tụng bài này mỗi sáng hoặc mỗi tối.
Trong các thời cầu an đầu năm hoặc khi trong nhà có người đau bệnh, Tâm Kinh thường có mặt trong phần tụng chung.
Đây là nơi bài kinh xuất hiện thường xuyên nhất ngoài thời khóa. Trong lễ nhập quan, lễ cầu siêu, các kỳ cúng thất và lễ giỗ, Tâm Kinh gần như luôn được tụng.
Ở các thiền viện, bài kinh thường được tụng vào đầu hoặc cuối buổi ngồi. Truyền thống Thiền Nhật Bản và Triều Tiên cũng giữ lệ này, và ở đó bài kinh vẫn được tụng bằng âm Hán theo cách đọc của mỗi nước.
Vì bài ngắn, đây là bản văn được chọn nhiều nhất cho việc chép tay. Ở Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản đều có lệ chép Tâm Kinh, và nhiều bản chép của người xưa nay còn được giữ như hiện vật thư pháp.
Các bản tiếng Việt
Có một điều người mới đi chùa hay thắc mắc: cùng một bài kinh mà nghe ở hai chùa lại thấy khác nhau. Điều đó bình thường, và có mấy lớp lý do.
Lớp thứ nhất là chọn giữa phiên âm và dịch nghĩa. Phần lớn chùa Việt Nam tụng theo phiên âm Hán Việt, tức đúng bản chữ trong mục toàn văn ở trên, đọc bằng âm Hán Việt. Đây là lối lâu đời nhất. Một số nơi tụng bản dịch nghĩa tiếng Việt, và một số nơi tụng cả hai, phiên âm trước rồi nghĩa sau.
Lớp thứ hai là bản dịch nào. Ở Việt Nam có nhiều bản dịch tiếng Việt đã lưu hành, trong đó những bản được nhắc tới nhiều gắn với tên Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh và một số vị khác. Các bản này khác nhau ở cách chọn chữ, có bản giữ nhiều từ Hán Việt cho gần nguyên văn, có bản dùng lời thuần Việt cho dễ hiểu, có bản đặt thành thể thơ để dễ tụng.
Lớp thứ ba là khác biệt nhỏ trong phiên âm. Ngay trong các bản phiên âm Hán Việt cũng có chỗ chép khác nhau, phần nhiều do phương ngữ: tỵ hay tỷ ở chữ 鼻, bất sinh hay bất sanh, độ nhất thiết hay độ nhứt thiết. Những chỗ này không đổi nghĩa.
Có một chi tiết nữa đáng biết. Bản Huyền Trang là bản ngắn, vào thẳng phần chính. Trong Đại Tạng còn có các bản dài hơn, mở đầu bằng cảnh Đức Phật ở núi Linh Thứu và kết bằng đoạn đại chúng vui mừng thọ trì, theo đúng thể thức đầy đủ của một bộ kinh. Truyền thống Tây Tạng tụng bản dài ấy. Chùa Việt Nam tụng bản ngắn.
Thư viện mô tả những việc này để quý vị hiểu điều mình nghe, không đứng ra chỉ dẫn nghi thức. Chuyện tụng bản nào, tụng lúc nào, tụng ra sao là việc của mỗi chùa mỗi dòng, và quý vị nên hỏi ngay tại nơi mình tới.
捌Những Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì bài kinh ngắn và được tụng rộng, nó cũng là bài bị trích rời câu nhiều nhất. Sáu điểm dưới đây là những chỗ thư viện gặp thường xuyên hơn cả, ghi lại để quý vị đọc mà đối chiếu.
Đây là chỗ hiểu lệch phổ biến nhất, và mục Chữ Không ở trên đã nói kỹ. Chữ không trong bài kinh nghĩa là không có tự tánh riêng biệt, không có cái lõi độc lập, chứ không phải không tồn tại. Chính bài kinh đã bác cách hiểu ấy bằng bốn chữ không tức thị sắc, cái không chính là vật chất. Hư vô thì không quay lại thành cái ly được.
Theo đúng nội dung bài kinh thì đây là chỗ ngược hẳn. Bài kinh nói vô trí diệc vô đắc, không có cái biết cũng không có cái được, và toàn bộ mạch của nó là tháo bỏ ý nghĩ có một món để giành lấy. Lấy bài kinh ấy làm phương tiện đổi lấy tài lộc là đem nguyên cái tâm mà bài kinh đang tháo gỡ đặt vào việc tụng nó.
Câu vô khổ tập diệt đạo hay bị trích rời rồi hiểu thành bài kinh bác bỏ giáo lý căn bản. Bài kinh không nói Tứ Diệu Đế sai, mà nói bốn sự thật ấy cũng không có tự tánh riêng, cũng do duyên khởi. Đó là lời nói với người đã qua sông, nhắc đặt thuyền xuống, không phải lời bảo người ở bờ bên này khỏi cần thuyền.
Bài kinh gọi câu ấy là đại thần chú, và bốn chữ đó dễ bị đọc thành lời hứa về phép lạ. Theo các bản chú giải, cái được gọi là sức lớn ở đây là sức của chính trí tuệ thấy được tánh không, thứ trừ được khổ vì nó tháo được chỗ bám. Nghĩa của câu chú cũng không phải một lời cầu xin, mà là một tiếng gọi lên đường: đi qua, cùng nhau qua tới bờ bên kia.
Chữ tâm 心 trong nhan đề không chỉ trái tim, cũng không chỉ tấm lòng. Ở đây nó mang nghĩa cốt tủy, phần lõi, tinh yếu, tương ứng với chữ Phạn hrdaya vốn có cả hai nghĩa. Tên kinh có nghĩa là phần tinh yếu của giáo nghĩa Bát Nhã, đúng như vị trí của bài trong cả hệ kinh đồ sộ ấy.
Bài ngắn nên thường được đưa cho người mới học thuộc, và từ đó sinh ra ý nghĩ rằng nội dung của nó cũng sơ đẳng. Thực tế thì đây là bản cô đọng của một hệ kinh dài hàng vạn câu, và các bản chú giải viết về nó dày gấp nhiều lần chính nó. Ngắn ở đây là kết quả của việc nén, không phải của việc giản lược.
問Hỏi Đáp Nhanh
Bát Nhã Tâm Kinh là kinh gì
Là bản kinh cô đọng nhất của hệ Bát Nhã trong Phật Giáo Bắc Tông, tên đầy đủ là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Bài trình bày giáo nghĩa tánh không, tức lẽ mọi sự vật đều không có tự tánh riêng biệt mà nương nhau tồn tại. Đây là bài kinh được tụng nhiều nhất ở chùa Việt Nam, có mặt trong thời khóa hằng ngày, lễ cầu an, lễ cầu siêu và các khóa thiền.
Bát Nhã Tâm Kinh có bao nhiêu chữ
Bản Hán dịch của ngài Huyền Trang, tức bản thông hành được tụng ở chùa Việt Nam và Trung Hoa, gồm đúng 260 chữ Hán, tính phần chính văn từ chữ quán 觀 mở đầu tới chữ ha 訶 cuối câu chú, không kể nhan đề. Đó là lý do bài này thường được gọi gọn là bản 260 chữ. Ngoài bản ngắn ấy còn có các bản dài hơn, có thêm phần mở đầu và phần kết theo thể thức kinh điển đầy đủ, và truyền thống Tây Tạng tụng bản dài.
Sắc tức thị không nghĩa là gì
Chữ sắc chỉ phần vật chất, không phải màu sắc. Câu này nói vật chất chính là cái không, nhưng cái không ở đây nghĩa là không có tự tánh riêng, chứ không phải không tồn tại. Bài kinh nói tiếp ngay vế ngược lại, không tức thị sắc, cái không chính là vật chất, để chặn cách hiểu thành hư vô. Nói cho gọn: cái ly có thật, nhưng tìm trong đó một cái lõi gọi là tính ly tồn tại độc lập thì không có, vì nó có được là nhờ đất sét, nhờ lửa, nhờ bàn tay thợ.
Tụng Bát Nhã Tâm Kinh có tác dụng gì
Theo đúng giáo nghĩa của chính bài kinh, tác dụng nằm ở chỗ hiểu và thấy, không ở chỗ đọc thành tiếng. Bài kinh nói rằng thấy được năm uẩn không có tự tánh riêng thì vượt qua khổ ách, và nói rõ mạch nhân quả của việc ấy: lòng hết vướng mắc, vì hết vướng mắc nên hết sợ hãi. Bài kinh không hứa đổi việc tụng lấy tài lộc, sức khỏe hay tai qua nạn khỏi, và chính nó nói vô trí diệc vô đắc, không có cái biết cũng không có cái được. Thư viện thuật lại giáo nghĩa như vậy, không xác nhận thay cho quý vị bất cứ hiệu nghiệm nào.
Ai dịch Bát Nhã Tâm Kinh sang chữ Hán
Bản thông hành ghi tên dịch giả là ngài Huyền Trang 玄奘, cao tăng đời Đường thế kỷ thứ bảy, người đã sang Ấn Độ cầu pháp rồi về nước chủ trì công trình dịch kinh lớn của Trung Hoa. Trước đó còn có bản Hán dịch mang tên ngài Cưu Ma La Thập, và sau đó có thêm mấy bản khác, nhưng bản Huyền Trang là bản được tụng cho tới nay. Cần nói thêm rằng trong giới nghiên cứu hiện đại có cuộc thảo luận chưa khép về nguồn gốc văn bản của bản ngắn này, và các học giả vẫn đang trao đổi.
Yết đế yết đế nghĩa là gì
Đây là phiên âm chữ Phạn gate gate paragate parasamgate bodhi svaha, câu chú kết thúc bài kinh. Tạm dịch từng chữ thì gate là đi qua, para là bờ bên kia, sam là cùng nhau và trọn vẹn, bodhi là giác ngộ, svaha là tiếng kết nguyện cho được thành tựu. Cả câu có nghĩa đi qua, đi qua, qua tới bờ bên kia, cùng nhau qua trọn tới bờ bên kia, giác ngộ, thành tựu thay. Phần lớn truyền thống giữ nguyên âm mà không tụng bản dịch, theo nguyên tắc của ngài Huyền Trang là chú ngữ thì không dịch nghĩa.