VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Yên Tử

Trúc Lâm Yên Tử

Ngọn núi mà một ông vua thắng giặc Nguyên Mông đã chọn để trút áo bào, và là nơi người Việt lần đầu có một dòng thiền của riêng mình.

Đỉnh núi
1.068 m
đỉnh Phù Vân, nơi đặt chùa Đồng
Lập phái Trúc Lâm
1299
Thượng hoàng Trần Nhân Tông lên núi tu
Di sản thế giới
2025
UNESCO ghi danh ngày 12 tháng 7

Đứng dưới chân núi ngẩng lên, quý vị thường chỉ thấy một dải núi xanh sẫm, đỉnh khuất trong mây gần như quanh năm. Đường lên đi qua rừng tùng già, qua vườn tháp đá xám rêu, qua những mái chùa nép vào vách đá, rồi đột ngột mở ra một khoảng trời trống hoác ở độ cao 1.068 mét trên đỉnh Phù Vân, nơi có một ngôi chùa nhỏ đúc toàn bằng đồng đứng trơ giữa gió.

Điều làm Yên Tử khác các ngọn núi thiêng khác của người Việt không nằm ở độ cao, cũng không nằm ở cảnh. Nó nằm ở việc một ông vua vừa hai lần cầm quân đánh lui quân Nguyên Mông, đang ở đỉnh cao quyền lực, đã lên đây tu và lập ra một dòng thiền của riêng người Việt. Thiền phái Trúc Lâm ra đời từ chỗ ấy, và Yên Tử từ đó mang tên đất tổ của Phật Giáo Việt Nam.

Quần thể Yên Tử
Quần thể Yên Tử. Ảnh: Imgcloud, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IPhật Hoàng Và Dòng Thiền Thuần Việt

Trước Trần Nhân Tông, Phật Giáo ở nước ta chủ yếu nối các dòng thiền truyền từ phương Bắc và Ấn Độ sang như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Sau ông, người Việt có một dòng thiền do người Việt lập, đặt tổ đình trên đất Việt, có tác phẩm viết bằng chữ Nôm, và lấy chính đời sống thế gian làm chỗ tu. Đó là lý do Trúc Lâm được gọi là dòng thiền thuần Việt.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Trúc Lâm, đạo không nằm ngoài đời. Bài phú Cư trần lạc đạo của Trần Nhân Tông đặt ra chủ trương ở giữa cõi trần mà vui với đạo, đói thì ăn, mệt thì ngủ, của báu sẵn trong nhà thì thôi tìm kiếm bên ngoài. Phật ở tại tâm, không phải ở một cõi xa. Trúc Lâm cũng chủ trương tam giáo đồng nguyên, tức nhận Phật, Nho và Đạo cùng chung một gốc, và hòa với tín ngưỡng bản địa thay vì loại trừ. Hồ sơ di sản do UNESCO ghi nhận cũng nhấn đúng sự dung hợp giữa Phật Giáo Đại thừa với đạo lý Nho gia, với Đạo Giáo và với tín ngưỡng dân gian của người Việt.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, Trần Nhân Tông sống từ năm 1258 đến năm 1308. Ông đứng đầu triều đình trong hai lần đánh lui quân Nguyên Mông vào các năm 1285 và 1288. Sau khi nhường ngôi năm 1293 và xuất gia đầu tiên tại hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) năm 1294, tháng Mười âm lịch năm 1299 ông lên Yên Tử tu hành, lấy đạo hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà (hay Trúc Lâm Đại Đầu Đà) và lập Thiền phái Trúc Lâm. Hai vị nối pháp sau ông là Pháp Loa Đồng Kiên Cương, sống từ 1284 đến 1330, và Huyền Quang Lý Đạo Tái, sống từ 1254 đến 1334. Ba vị hợp thành Trúc Lâm tam tổ.

Việc một người vừa thắng giặc lại đi tu có một ý nghĩa riêng trong lịch sử nước ta. Nó không phải là chuyện chán đời hay thất thế. Ông rời ngôi khi đất nước đã yên và người kế vị đã đủ sức gánh, rồi dùng phần đời còn lại đi khắp nơi giảng đạo, khuyên dân bỏ các tục thờ cúng tốn kém và giữ mười điều thiện. Nhìn theo cách ấy thì việc lên núi không phải là rút lui khỏi việc nước, mà là chuyển sang một việc khác cũng thuộc phần gốc của một quốc gia.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người tưởng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân) ở chân núi là ngôi chùa cổ còn nguyên từ thời Trần. Thực ra chùa Lân từng là Viện Kỳ Lân thời Trần, nhưng công trình bề thế hiện nay được khởi công dựng lại và khánh thành năm 2002 trên nền cũ, còn lớp di tích cổ nằm rải trên sườn núi và trên đỉnh. Quý vị nên phân biệt hai lớp ấy để khỏi tưởng cả quần thể đều cùng một niên đại.

IIBảy Trăm Năm Trên Sườn Núi

Yên Tử có người tu trước khi có nhà Trần. Tương truyền đạo sĩ An Kỳ Sinh từng tới đây tu luyện nên núi mang tên An Tử (Yên Tử), và đời Lý đã có thiền sư dựng am trong núi. Nhưng lớp di tích dày nhất, cùng cái tên gắn với núi này cho tới hôm nay, đều thuộc về thời Trần.

  • 1236Trần Thái Tông lên núi
    Tháng Tư năm Bính Thân (1236), vua Trần Thái Tông đêm khuya rời kinh thành lên Yên Tử gặp Quốc sư Phù Vân, mở đầu mối liên hệ giữa hoàng tộc nhà Trần và ngọn núi này.
  • 1285Lần thứ nhất đánh lui quân Nguyên
    Trần Nhân Tông đứng đầu triều đình trong cuộc kháng chiến thắng lợi.
  • 1288Lần thứ hai đánh lui quân Nguyên
    Chiến thắng thứ hai, sau đó đất nước bước vào thời kỳ yên định.
  • 1299Lập Thiền phái Trúc Lâm
    Sau khi xuất gia tại hành cung Vũ Lâm năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành vào tháng Mười âm lịch năm 1299 và lập Thiền phái Trúc Lâm.
  • 1308Phật hoàng viên tịch
    Ngày mùng 1 tháng Mười một âm lịch năm Mậu Thân (1308), Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọa Vân trên núi Bảo Đài (Đông Triều). Một phần xá lợi được rước về tôn trí trong tháp Tổ Huệ Quang trên sườn Yên Tử.
  • Thế kỷ 14Nhị tổ và tam tổ nối pháp
    Pháp Loa rồi Huyền Quang tiếp nối, mở rộng hệ thống chùa và tổ chức tăng đoàn của phái Trúc Lâm.
  • Thế kỷ 17Dựng chùa Đồng lần đầu
    Theo tư liệu di tích, ngôi chùa bằng đồng đầu tiên trên đỉnh núi do một bà phi của chúa Trịnh phát tâm dựng vào thời Lê Trung Hưng.
  • 1981Hội thảo khoa học về Yên Tử
    Bước ngoặt trong việc nghiên cứu và bảo tồn khu di tích sau một thời gian dài xuống cấp.
  • 2007Chùa Đồng hoàn thành
    Ngôi chùa đồng hiện nay trên đỉnh Phù Vân cao 1.068 mét hoàn thành ngày 30 tháng 1 năm 2007. Sau đó khu di tích Yên Tử được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 1419/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2012.
  • 2025Di sản văn hóa thế giới
    Ngày 12 tháng 7 năm 2025, tại kỳ họp thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới ở Paris, quần thể Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn và Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh theo tiêu chí iii và vi.

IIIĐường Núi, Chùa Và Tháp

Yên Tử không phải một ngôi chùa mà là một tuyến hành hương dựng đứng. Đường bộ truyền thống dài chừng sáu cây số, gồm hàng nghìn bậc đá, người khỏe đi liền cũng mất khoảng bốn tới sáu giờ. Ngày nay có tuyến cáp treo cho người không leo được, nhưng dù đi cách nào thì trật tự các điểm dừng vẫn theo đúng thứ tự cũ, thấp trước cao sau.

Chùa Giải Oan

Điểm dừng đầu ở chân đường lên. Tên chùa gắn với truyền thuyết về những cung nữ theo vua lên núi khuyên vua trở về, không được thì gieo mình xuống suối.

Đường tùng và vườn tháp

Dải tùng cổ thụ trên lối lên, tương truyền trồng từ thời Trần. Bên đường là vườn tháp Huệ Quang với hàng chục ngọn tháp mộ đặt tro cốt các đời thiền sư.

Tháp Tổ Huệ Quang

Ngọn tháp cao chừng bảy mét đặt xá lợi Phật hoàng Trần Nhân Tông. Trong khám tháp tôn trí pho tượng Phật hoàng bằng đá sa thạch tạc thế kỷ 17, được công nhận Bảo vật quốc gia theo Quyết định 2283/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2020.

Chùa Hoa Yên

Ngôi chùa lớn nhất trên sườn núi (xưa gọi là chùa Vân Yên), các nguồn ghi ở độ cao khoảng 535 mét tới 543 mét, vốn là trung tâm giảng pháp của phái Trúc Lâm.

Chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu

Ba ngôi chùa nhỏ nằm cao hơn Hoa Yên, phần lớn dựa hẳn vào vách đá, quy mô gọn, hợp với lối tu ẩn.

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông

Bảo tượng bằng đồng đúc liền khối cao 12,6 mét, nặng 138 tấn, đặt ở độ cao 912 mét gần khu vực tượng đá An Kỳ Sinh, khánh thành năm 2013.

Chùa Đồng

Tên chữ là Thiên Trúc Tự, đặt trên đỉnh Phù Vân cao 1.068 mét, đúc toàn bằng đồng, hoàn thành ngày 30 tháng 1 năm 2007.

Theo sử liệu

Về ngôi chùa Đồng (Thiên Trúc Tự) hiện nay, các nguồn công khai ghi diện tích gần 20 mét vuông, dài 4,6 mét, rộng 3,6 mét, chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35 mét. Trọng lượng được hầu hết nguồn ghi là 70 tấn đồng (một vài nơi ghi khoảng 60 tấn), trong đó mỗi cột chùa nặng 1 tấn và mỗi viên ngói đồng nặng khoảng 4 ki-lô-gam. Bên trong thờ tượng Phật Thích Ca và ba pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Chùa đúc bằng phương pháp thủ công truyền thống rồi đưa lên đỉnh lắp ghép, được ghi nhận là ngôi chùa bằng đồng lớn nhất châu Á.

Chỗ hay hiểu lầm

Có người nghĩ chùa Đồng là công trình cổ từ thời Trần. Không phải. Ngôi chùa bằng đồng đầu tiên trên đỉnh có từ thời Hậu Lê, tức sau Trần Nhân Tông vài trăm năm, và đã qua các lần dựng lại vào năm 1930, năm 1993 rồi năm 2007. Bản đang đứng trên đỉnh hôm nay là bản hoàn thành năm 2007. Cái cổ ở Yên Tử nằm ở tháp Tổ, ở pho tượng đá Bảo vật quốc gia, ở vườn tháp, nền móng và bia đá, chứ không nằm ở khối đồng trên đỉnh.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Yên Tử là đỉnh cao nhất của cánh cung Đông Triều, dải núi cuối cùng của vùng đông bắc trước khi đất thấp dần rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ. Trong phép xem đất, một ngọn cao nhất vùng, có các dãy thấp hơn quy phục chung quanh, được gọi là tổ sơn, tức ngọn núi cha của cả một vùng long mạch. Long mạch ở đây chạy từ đại ngàn phía trong ra tới biển, và Yên Tử đứng đúng chỗ mạch núi sắp buông xuống đồng bằng. Đó là thế đất mà người xưa gọi là nơi khí còn mạnh nhưng đã bắt đầu chịu dừng.

Điều đáng nói là người xưa không đặt ngôi chùa lớn nhất trên đỉnh. Theo phép cổ, đỉnh núi cao là chỗ khí tán chứ không tụ khí vì gió bốn bề, sương muối, không có minh đường để giữ. Cho nên trên đỉnh 1.068 mét chỉ có một ngôi chùa nhỏ bằng đồng, còn trung tâm thật của núi là chùa Hoa Yên ở lưng chừng núi, chỗ lưng tựa hẳn vào vách núi, hai bên có sườn núi khép lại như hai tay ngai, phía trước mở ra một khoảng bằng nhìn xuống thung. Đó mới đúng là thế núi ôm, nơi khí dừng lại được. Vườn tháp và tháp Tổ Huệ Quang đặt ngay dưới Hoa Yên, tức đặt vào chỗ tụ khí nhất của cả tuyến, không phải chuyện ngẫu nhiên.

Về tọa hướng, cả hệ thống chùa am trên núi đều lưng dựa vào khối núi phía bắc và tây bắc, mặt ngoảnh về phía nam và đông nam, tức về phía đồng bằng ven biển. Đây là thế tựa sơn hướng thủy ở dạng đầy đủ của đất Việt, với hậu chẩm là cả một dãy núi lớn, minh đường là đồng bằng trải rộng, và xa hơn nữa ngoài tầm mắt là biển. Hướng nam cũng là hướng mà chùa chiền Bắc Bộ chuộng, vì đón nắng ấm và tránh gió lạnh thổi từ phương bắc xuống trong mùa đông.

Còn một lớp nữa đáng nói theo ngũ hành. Đỉnh núi trơ đá, quanh năm gió lớn và mù, là chỗ mà gỗ và ngói không trụ nổi lâu. Vật liệu đồng thuộc hành Kim, mà Kim thì bền trước gió mưa và hợp với khí lạnh của phương cao. Kim lại sinh Thủy, và Thủy chính là mây mù bao quanh đỉnh gần như quanh năm. Người xưa chọn đồng cho ngôi chùa trên đỉnh có thể chỉ vì lý do bền chắc, nhưng đọc theo ngũ hành thì lựa chọn ấy trùng khớp với phương vị và khí hậu của chỗ đứng. Nhìn tổng thể, cả ngọn núi được bố trí như một bậc thang, dưới thấp là nơi tiếp người, giữa chừng là nơi tụ khí và thờ tổ, trên đỉnh là một điểm nhỏ đánh dấu chỗ tận cùng. Đi hết ba bậc ấy, người hành hương cũng đi hết một trình tự.

VLễ Hội Và Lệ

Yên Tử có một mùa lễ dài và một ngày giỗ lớn. Mùa lễ thuộc mùa xuân, ngày giỗ thuộc đầu đông, và hai dịp ấy mang hai không khí khác hẳn nhau.

Các dịp lễ chính trong năm tại khu di tích Yên Tử.
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 10 tháng GiêngKhai hội xuân Yên TửLễ khai hội chính, có dâng hương, cầu quốc thái dân an, rồi mở đầu mùa hành hương lên núi.
Từ mùng 10 tháng Giêng đến hết tháng BaMùa hội xuânSuốt gần ba tháng, khách hành hương lên núi liên tục. Đây là mùa đông người nhất trong năm.
Rằm tháng TưLễ Phật đảnLễ theo lịch chung của Phật Giáo, tổ chức tại các chùa trong khu di tích.
Rằm tháng BảyLễ Vu LanLễ báo hiếu, cũng theo lịch chung của Phật Giáo.
Mùng 1 tháng Mười mộtGiỗ Phật hoàng Trần Nhân TôngNgày tưởng niệm ngày viên tịch của Đệ nhất tổ Trúc Lâm, tổ chức trang nghiêm, quy mô gọn hơn hội xuân.

Lệ đi Yên Tử của người hành hương xưa nay vẫn là đi lên bằng chân. Nhiều người giữ lệ ấy dù có phương tiện khác, vì trong quan niệm cũ, chặng đường dốc là một phần của việc lễ chứ không phải trở ngại cần bỏ qua. Ai không đủ sức thì đi cách nào cũng được, điều ấy không làm giảm phần thành tâm.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Yên Tử (xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí cũ), tỉnh Quảng Ninh
Đường tới
Khu di tích thuộc phường Yên Tử (xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí cũ), tỉnh Quảng Ninh, cách Hà Nội khoảng một trăm bốn mươi cây số theo đường bộ, thường mất chừng ba tiếng tới ba tiếng rưỡi xe chạy.
Toạ độ
21.1631, 106.7231
Khi tới nơi

Đây là núi thiêng và cũng là núi thật, nên hai loại chuẩn bị đều cần. Về phần lễ, khách cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chùa, đi nhẹ nói khẽ ở khu tháp Tổ, không leo trèo hay chạm vào bia đá và tháp cổ. Về phần đường, cần chuẩn bị giày bám tốt, nước uống và áo mỏng chắn gió, vì trên đỉnh lạnh và mù hơn dưới chân núi rất nhiều, kể cả giữa mùa hè.

Đi trong mùa hội xuân thì xin liệu thời gian rộng ra, vì đoạn từ chùa Hoa Yên lên đỉnh thường dồn người. Trên đỉnh gió lớn, quý vị giữ chặt mũ nón và đồ đạc, và không nên nán lại lâu khi trời chuyển mù.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể Yên Tử

Contribute photos, information or video for Yen Tu

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Yên Tử thờ ai

Yên Tử là trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm, thờ Phật theo lối Phật Giáo Đại thừa, và đặc biệt tôn thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông cùng hai vị nối pháp là Pháp Loa và Huyền Quang. Ba vị hợp thành Trúc Lâm tam tổ. Một phần xá lợi và pho tượng đá thế kỷ 17 (Bảo vật quốc gia) của Phật hoàng được tôn trí trong tháp Tổ Huệ Quang trên sườn núi.

Vì sao gọi Thiền phái Trúc Lâm là dòng thiền thuần Việt

Vì đây là dòng thiền do người Việt lập ra trên đất Việt, đặt tổ đình tại Yên Tử, thay vì nối truyền một dòng có sẵn từ phương Bắc. Trúc Lâm chủ trương tam giáo đồng nguyên và hòa với tín ngưỡng bản địa, lấy chính đời sống thế gian làm chỗ tu.

Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử có phải chùa cổ từ thời Trần không

Không. Ngôi chùa bằng đồng đầu tiên trên đỉnh Phù Vân (Thiên Trúc Tự) có từ thời Hậu Lê, tức sau thời Trần Nhân Tông vài trăm năm, và đã qua nhiều lần dựng lại. Ngôi chùa nặng 70 tấn đồng đang đứng trên đỉnh hôm nay hoàn thành ngày 30 tháng 1 năm 2007.

Đỉnh Yên Tử cao bao nhiêu và leo bộ mất bao lâu

Đỉnh cao 1.068 mét so với mực nước biển. Đường bộ truyền thống dài chừng sáu cây số với hàng nghìn bậc đá, người khỏe đi liền mất khoảng bốn tới sáu giờ. Có tuyến cáp treo cho người không leo bộ được.

Yên Tử được xếp hạng di sản như thế nào

Khu di tích Yên Tử được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2012. Ngày 12 tháng 7 năm 2025, tại kỳ họp thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới ở Paris, quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn và Kiếp Bạc được UNESCO ghi vào danh mục Di sản Văn hóa thế giới theo tiêu chí iii và vi.

›Đọc Tiếp