VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo

和好 · An Hòa Tự, chùa Thầy

Ngôi nhà ở làng Hòa Hảo nơi đạo được khai lập năm 1939, cùng ngôi An Hòa Tự kề bên, hai nơi mà tín đồ gọi chung là cội nguồn của đạo.

Khai đạo
1939
ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão
Tín đồ
khoảng 1,5 triệu
tập trung ở chín tỉnh Tây Nam Bộ
Công nhận tổ chức
1999
ngày 11 tháng 6 năm ấy

Người quen đi lễ ở miền Bắc lần đầu tới đây thường ngỡ ngàng, vì không thấy tam quan lớn, không thấy tháp, không thấy pho tượng nào. Chỉ có một ngôi nhà tường vôi mái ngói, hàng rào gỗ, và đôi trụ cổng xây cao ráo. Sự giản dị ấy không phải vì thiếu, mà là chủ trương của đạo.

Nơi này là Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, vùng đất mà trước kia gọi là làng Hòa Hảo. Ngôi nhà vốn là tư thất của gia đình Đức Huỳnh Giáo Chủ, và chính tại sân ngôi nhà ấy, năm 1939, đạo được khai lập. Cách đó không xa là ngôi An Hòa Tự, mà tín đồ quen gọi là chùa Thầy. Hai nơi cùng nằm trong khu vực mà người trong đạo gọi là Thánh địa Hòa Hảo.

Đạo Và Vị Giáo Chủ

Muốn hiểu vì sao Tổ đình lại là một ngôi nhà ở chứ không phải một ngôi chùa lớn, phải hiểu chủ trương của đạo trước đã. Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo hình thành ở vùng Tây Nam Bộ, lấy nền tảng từ Phật giáo nhưng chủ trương tín đồ tu tại gia, không xuất gia, không cần cơ sở thờ tự đồ sộ.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo lý của đạo, đường tu gồm hai vế đi liền nhau là Học PhậtTu Nhân: học giáo pháp của Đức Phật, đồng thời làm trọn bổn phận làm người ngay trong đời sống thường ngày. Vế thứ hai được cụ thể hóa bằng Tứ ân, tức bốn ơn phải báo đáp: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân đồng bào nhân loại, và ân Tam bảo. Đạo dạy rằng người tu không cần bỏ nhà bỏ ruộng, mà nên ở tại gia, làm ăn lương thiện và báo đủ bốn ân ấy.

Từ chủ trương ấy sinh ra nếp thờ tự riêng. Đạo dạy không thờ tượng cốt, chỉ thờ một tấm vải màu nâu sồng gọi là Trần Dà, biểu thị sự hòa hợp của muôn màu về một mối. Đạo cũng dạy không đốt vàng mã, không dùng thầy cúng, không bày lễ vật cầu kỳ; nước lạnh, hoa và nhang là đủ. Về cơ sở thờ tự, kinh sách của đạo chủ trương không xây cất đồ sộ, vì tiền của nên để dành làm việc giúp người.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, đạo được khai lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, tổng An Lương, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc cũ, nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Tên đạo lấy theo tên làng. Người sáng lập là ông Huỳnh Phú Sổ, mà tín đồ gọi là Đức Huỳnh Giáo Chủ hoặc Đức Thầy. Theo số liệu công bố, đạo hiện có khoảng 1,5 triệu tín đồ, tập trung ở chín tỉnh thành miền Tây Nam Bộ gồm An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Kiên Giang, và có mặt ở hơn hai mươi tỉnh thành. Tổ chức của đạo được công nhận ngày 11 tháng 6 năm 1999.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ nhầm thường gặp nhất là lẫn hai vị và hai nơi. Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, là người khai lập dòng Bửu Sơn Kỳ Hương từ giữa thế kỷ 19, và nơi gắn với ông là chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc. Đó là một dòng tu khác, sớm hơn gần một trăm năm. Còn chùa Thầy trong cách gọi của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là ngôi An Hòa Tự ở Phú Tân, hoàn toàn không phải chùa Tây An. Hai dòng có quan hệ về mạch tư tưởng, nhưng là hai đạo riêng, hai nơi riêng, hai vị riêng.

Lịch Sử Qua Các Mốc

Hai công trình ở đây có tuổi khác nhau. An Hòa Tự có gốc từ một am nhỏ dựng giữa thế kỷ 19, còn ngôi nhà nay là Tổ đình thì gắn với sự kiện năm 1939.

  • 1850Am cỏ đầu tiên
    Theo tư liệu của đạo, một vị họ Phạm từ ngoài Bắc vào dựng một am cỏ nhỏ ở vùng này để tĩnh tu và bốc thuốc giúp dân. Đó là tiền thân của ngôi An Hòa Tự về sau.
  • 1901Dựng thành chùa
    Am cỏ được mở rộng thành ngôi chùa cột gỗ mái lá, quy mô còn nhỏ. Giai đoạn tu bổ này kéo dài nhiều năm sau đó.
  • 1936Xây lại bằng vật liệu bền
    Chùa được xây lại với cột gỗ, tường vôi và mái ngói, thay cho lối cột gỗ mái lá trước đó.
  • 1939Khai đạo tại Tổ đình
    Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, tại sân ngôi nhà của gia đình Đức Huỳnh Giáo Chủ ở làng Hòa Hảo, lễ khai đạo được cử hành. Sảnh đường ngôi nhà sau đó được lập nghi thờ, và ngôi nhà trở thành Tổ đình của đạo.
  • 1945An Hòa Tự thành ngôi chùa của đạo
    Theo tư liệu của đạo, ngôi An Hòa Tự được giao lại cho Đức Huỳnh Giáo Chủ; ngài an vị ngôi thờ và cắt cử người trông coi, từ đó chùa thành ngôi tự viện chính của Phật giáo Hòa Hảo.
  • 1952Trùng tu lớn An Hòa Tự
    Đợt trùng tu toàn diện do Đức Ông, thân sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ, đứng ra chủ trì với sự đóng góp của tín đồ nhiều nơi.
  • 1999Công nhận tổ chức
    Tổ chức của Phật giáo Hòa Hảo được công nhận ngày 11 tháng 6 năm 1999, mở đường cho việc tổ chức các kỳ đại lễ tập trung tại khu vực này.
Theo sử liệu

Cần ghi rõ rằng phần lớn các mốc trước năm 1945 ở trên được chép trong tư liệu do chính đạo lưu giữ, chứ không rút ra từ hồ sơ hành chính. Đây là điều thường gặp với các cơ sở tôn giáo mới hình thành trong thế kỷ 20 ở vùng Tây Nam Bộ. Chúng tôi ghi lại các mốc ấy đúng như tư liệu của đạo trình bày, và ghi rõ xuất xứ để quý vị tự cân nhắc.

Kiến Trúc Và Cách Bài Trí

Điều đáng nói ở đây là sự tiết chế. Cả hai công trình đều theo lối nhà ở và chùa làng Nam Bộ, không có tháp cao, không có tượng lớn, không có sơn son thếp vàng. Người quen với chùa chiền đồ sộ dễ đi qua mà không nhận ra, và chính điều đó là ý của đạo.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo

Ngôi nhà tường vôi mái ngói, phía trước có hàng rào gỗ thẻ quét màu và đôi trụ cổng xây cao. Ngôi nhà vốn là tư thất của gia đình Đức Huỳnh Giáo Chủ, sau khi khai đạo thì sảnh đường được lập nghi thờ.

Đôi trụ cổng Tổ đình

Trên cổng ghi bốn chữ Quí Tiện Đồng Nghinh, nghĩa là sang hèn đều được đón như nhau. Bốn chữ ấy được tín đồ nhắc tới như lời tóm gọn tinh thần bình đẳng của đạo.

An Hòa Tự

Ngôi chùa kề bên Tổ đình, tín đồ quen gọi là chùa Thầy. Chánh điện theo lối truyền thống với ba nóc mái, diện tích khoảng ba trăm mét vuông theo tư liệu của đạo.

Ngôi thờ Trần Dà

Trên bàn thờ chính không đặt tượng mà treo tấm vải màu nâu sồng gọi là Trần Dà. Đây là cách thờ đặc trưng của Phật giáo Hòa Hảo, dùng cả ở nơi thờ tự chung lẫn ở bàn thờ trong nhà tín đồ.

Bàn Thông Thiên

Bàn thờ nhỏ đặt ngoài trời trước sân, hướng lên trời, dùng nước lạnh, hoa và nhang. Đây là ngôi thờ mà hầu như nhà tín đồ nào cũng có, và cũng thấy ở khu vực Tổ đình.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo lý của đạo, lễ vật dâng cúng chỉ gồm nước lạnh, bông hoa và nhang. Nước lạnh biểu thị sự trong sạch, bông hoa biểu thị sự tinh khiết, nhang để trừ mùi uế. Đạo dạy không cúng đồ mặn, không đốt vàng mã, không rước thầy cúng, vì những việc ấy tốn kém mà không giúp gì cho việc tu. Đấy là lý do vì sao các nơi thờ tự của đạo giữ được vẻ giản dị đồng nhất từ Tổ đình cho tới bàn thờ trong nhà dân.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thấy nơi thờ tự nhỏ và ít trang trí thì tưởng đây là một cơ sở phụ, còn nơi chính phải ở đâu khác lớn hơn. Không phải vậy. Với Phật giáo Hòa Hảo, Tổ đình là nơi trọng nhất của cả đạo, và quy mô khiêm tốn của nó là kết quả trực tiếp của giáo lý chứ không phải dấu hiệu của sự sơ sài. Trong các kỳ đại lễ, số người về đây được ghi nhận là rất đông, phần lớn ở ngoài trời quanh khu vực chứ không ở trong nhà.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nói về đặc thù của cả vùng. Huyện Phú Tân là đất cù lao, nghĩa là dải đất nằm giữa các nhánh sông lớn của châu thổ. Trong phép xem đất, một mảnh đất được nước bao quanh gọi là thủy nhiễu, tức nước vòng ôm lấy. Sách xưa xếp thế này vào loại quý, vì nước ôm thì khí không tán ra bốn phía; ở đồng bằng không có núi thì nước giữ vai trò của núi, vừa làm ranh giới vừa làm chỗ tụ.

Điểm thứ hai là chỗ này không có sơn theo nghĩa đen. Cả vùng bằng phẳng, cao độ chênh nhau không đáng kể. Phong thủy đồng bằng vì thế đọc khác phong thủy vùng núi: thay vì tìm long mạch chạy theo dãy núi, người ta đọc theo dòng chảy, bờ đất và hướng gió. Ở đây con sông lớn chạy dọc, đường bộ chạy song song với bờ sông, và các công trình đều quay mặt ra trục ấy. Đó là lối đặt nhà cổ truyền của người Nam Bộ, gọi nôm na là quay mặt ra lộ, xây lưng vào đồng; đọc theo phong thủy thì đây là thế hướng động tọa tĩnh, mặt mở ra chỗ có người qua lại, lưng dựa vào chỗ yên.

Điểm thứ ba đáng nói là bàn Thông Thiên đặt ngoài trời. Trong phong thủy nhà ở cổ truyền, một ngôi thờ đặt giữa khoảng sân trống, không mái che, không tường vây, là chỗ đón khí trực tiếp từ trên xuống. Cách đặt ấy bỏ hẳn lớp trung gian giữa người và trời. Nhìn từ góc bố cục, nó cũng làm cho khoảng sân trước nhà thành một minh đường có tâm điểm, tức khoảng trống trước cửa không rỗng mà có một điểm quy tụ ánh nhìn.

Cuối cùng, đáng để ý là thế đất ở đây không được chọn theo phép địa lý. Ngôi nhà nay là Tổ đình vốn là nhà ở của một gia đình trong làng, dựng theo lẽ thường của người dân đồng bằng chứ không theo la bàn của thầy địa. Việc nó trở thành nơi trọng nhất của một tôn giáo là do sự kiện diễn ra trên mảnh đất ấy, không phải do thế đất được nhắm trước. Chúng tôi ghi điều này để tránh cho quý vị một hiểu nhầm thường gặp, rằng mọi nơi thờ tự lớn đều phải có một câu chuyện chọn đất phía sau.

Lễ Và Lệ

Trong năm, đạo có mấy kỳ lễ mà tín đồ từ nhiều tỉnh cùng về khu vực Tổ đình. Lớn nhất là ngày kỷ niệm khai đạo vào tháng năm âm lịch.

Các kỳ lễ chính theo lịch của đạo. Bài không ghi giờ hành lễ vì lịch do Ban Trị sự sở tại quy định theo từng năm.
Ngày âm lịchLễNội dung
18 tháng 5Đại lễ Khai đạoKỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai lập đạo năm Kỷ Mão 1939 tại làng Hòa Hảo. Đây là kỳ đại lễ lớn nhất trong năm, tổ chức tại khu vực Tổ đình và An Hòa Tự.
25 tháng 11Lễ Đản sinh Đức Huỳnh Giáo ChủKỷ niệm ngày sinh của vị giáo chủ, kỳ lễ lớn thứ hai trong năm của đạo.
Rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, rằm tháng MườiCác ngày rằm lớnTín đồ giữ lệ cúng lạy tại nhà và tại nơi thờ tự, theo nếp cúng giản dị của đạo.
Mùng một và ngày rằm hằng thángNgày cúng thường lệNếp cúng chay và cúng lạy tại bàn thờ trong nhà cùng bàn Thông Thiên ngoài sân.

Một điểm riêng đáng ghi nhận: trong các kỳ đại lễ ở đây, phần công quả chiếm chỗ rất lớn. Tín đồ tự nguyện lo cơm nước, chỗ nghỉ và phương tiện đi lại cho khách hành hương, thường là miễn phí. Nếp ấy nối liền với vế Tu Nhân trong giáo lý, tức là việc tu được đo bằng việc làm với người khác chứ không chỉ bằng thời giờ ngồi trước bàn thờ.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Đường tới
Tổ đình và An Hòa Tự cùng nằm ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, trên dải cù lao giữa sông, đi từ Châu Đốc hoặc từ Tân Châu đều thuận, có đoạn phải qua phà.
Toạ độ
10.5583, 105.3078
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một cộng đồng tín đồ, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo và giản dị, bỏ giày dép theo chỉ dẫn, đi nhẹ nói khẽ, không mang lễ vật mặn và không đốt vàng mã vì đạo không dùng. Nếu quý vị muốn dâng lễ, nước lạnh, hoa và nhang là đúng lệ.

Trong các kỳ đại lễ, khu vực này rất đông người. Nếu quý vị tới vào những ngày ấy, xin theo hướng dẫn của người trong ban tổ chức về chỗ đứng và lối đi, và tránh chụp cận mặt người đang hành lễ. Nếu chỉ muốn xem kiến trúc cho thong thả thì nên tránh đúng những ngày đại lễ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Nơi tiêu biểu nhất của Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang là nơi nào

Đó là Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, còn gọi là Tổ đình Đức Huỳnh Giáo Chủ, ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, cùng ngôi An Hòa Tự tức chùa Thầy ở kề bên. Hai nơi hợp thành khu vực mà tín đồ gọi là Thánh địa Hòa Hảo. Đạo không dùng chữ thánh thất; chữ ấy thuộc về đạo Cao Đài.

Chùa Thầy của Phật giáo Hòa Hảo có phải chùa Tây An ở núi Sam không

Không phải. Chùa Thầy trong cách gọi của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là ngôi An Hòa Tự ở Phú Tân. Còn chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc gắn với Phật Thầy Tây An tức ông Đoàn Minh Huyên và dòng Bửu Sơn Kỳ Hương, hình thành từ giữa thế kỷ 19, sớm hơn gần một trăm năm và là một dòng tu khác.

Vì sao Tổ đình lại là một ngôi nhà chứ không phải một ngôi chùa lớn

Vì đó vốn là tư thất của gia đình Đức Huỳnh Giáo Chủ, và lễ khai đạo năm 1939 diễn ra ngay tại sân ngôi nhà ấy. Thêm nữa, giáo lý của đạo chủ trương tín đồ tu tại gia và không xây cất nơi thờ tự đồ sộ, nên quy mô khiêm tốn ở đây là chủ ý chứ không phải sự sơ sài.

Trên bàn thờ của Phật giáo Hòa Hảo có gì

Không có tượng cốt. Trên bàn thờ chính treo một tấm vải màu nâu sồng gọi là Trần Dà. Lễ vật chỉ gồm nước lạnh, bông hoa và nhang; đạo không cúng đồ mặn, không đốt vàng mã và không dùng thầy cúng. Ngoài sân thường có thêm bàn Thông Thiên đặt lộ thiên.

Tứ ân trong Phật giáo Hòa Hảo là những ân nào

Bốn ân gồm ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân đồng bào nhân loại và ân Tam bảo. Theo giáo lý của đạo, báo đủ bốn ân ấy là phần Tu Nhân, đi liền với phần Học Phật, hai vế hợp lại thành đường tu mà đạo đề ra cho tín đồ.

Đọc Tiếp