VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo

An Hòa Tự, chùa Thầy

Ngôi nhà ở làng Hòa Hảo nơi đạo được khai lập năm 1939, cùng ngôi An Hòa Tự kề bên, hai nơi mà tín đồ gọi chung là cội nguồn của đạo.

Khai đạo
1939
ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão
Tín đồ
khoảng 1,5 triệu
tập trung ở chín tỉnh Tây Nam Bộ
Lập Ban Trị sự
1999
Đại hội toàn đạo lần thứ nhất tháng 6 năm ấy

Người quen đi lễ ở miền Bắc lần đầu tới đây thường ngỡ ngàng, vì không thấy tam quan lớn, không thấy tháp, không thấy pho tượng đồ sộ nào ở Tổ đình. Chỉ có một ngôi nhà tường vôi mái ngói, hàng rào gỗ, và đôi trụ cổng xây cao ráo. Sự giản dị ấy không phải vì thiếu, mà là chủ trương của đạo.

Nơi này là Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, ở xã Phú Tân, tỉnh An Giang (trước tháng 7 năm 2025 là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân), vùng đất mà trước kia gọi là làng Hòa Hảo. Ngôi nhà vốn là tư thất của song thân Đức Huỳnh Giáo Chủ là Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm, và chính tại ngôi nhà ấy, năm 1939, đạo được khai lập. Cách đó không xa là ngôi An Hòa Tự, mà tín đồ quen gọi là chùa Thầy. Hai nơi cùng nằm trong khu vực mà người trong đạo gọi là Thánh địa Hòa Hảo.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo
Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo. Ảnh: Mrfly911, giấy phép CC0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐạo Và Vị Giáo Chủ

Muốn hiểu vì sao Tổ đình lại là một ngôi nhà ở chứ không phải một ngôi chùa lớn, phải hiểu chủ trương của đạo trước đã. Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo nội sinh hình thành ở vùng Tây Nam Bộ, kế thừa mạch Bửu Sơn Kỳ Hương và lấy nền tảng từ Phật giáo nhưng chủ trương tín đồ tu tại gia, không xuất gia, không cần cơ sở thờ tự đồ sộ.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo lý của đạo, đường tu gồm hai vế đi liền nhau là Học Phật và Tu Nhân, tức học giáo pháp của Đức Phật đồng thời làm trọn bổn phận làm người ngay trong đời sống thường ngày. Vế thứ hai được cụ thể hóa bằng Tứ ân, tức bốn ơn phải báo đáp gồm ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Đạo dạy rằng người tu không cần bỏ nhà bỏ ruộng, mà nên ở tại gia, làm ăn lương thiện và báo đủ bốn ân ấy.

Từ chủ trương ấy sinh ra nếp thờ tự riêng. Đạo dạy không thờ tượng cốt, trên ngôi Tam Bảo chỉ thờ một tấm vải màu nâu sồng gọi là Trần Dà, biểu thị sự hòa hợp của muôn màu về một mối. Đạo cũng dạy không đốt vàng mã, không dùng thầy cúng, không bày lễ vật cầu kỳ mà chỉ dùng nước lạnh, bông hoa và nhang. Về cơ sở thờ tự, kinh sách của đạo chủ trương không xây cất đồ sộ, vì tiền của nên để dành làm việc giúp người.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, đạo được khai lập ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức ngày 4 tháng 7 năm 1939) tại làng Hòa Hảo, tổng An Lạc (có tài liệu ghi tổng An Lương), quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc cũ, nay thuộc xã Phú Tân, tỉnh An Giang (thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân cũ). Tên đạo lấy theo tên làng. Người sáng lập là ông Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi (tức ngày 15 tháng 1 năm 1920) ngay tại ngôi nhà này, mà tín đồ tôn kính gọi là Đức Huỳnh Giáo Chủ hoặc Đức Thầy. Theo số liệu công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đạo hiện có khoảng 1,5 triệu tín đồ, tập trung ở chín tỉnh thành miền Tây Nam Bộ gồm An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Kiên Giang cũ, và có mặt ở hơn hai mươi tỉnh thành. Đại hội đại biểu tín đồ lần thứ nhất tổ chức năm 1999 tại Tổ đình đã lập ra Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ nhầm thường gặp hơn cả là lẫn hai vị và hai nơi. Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, là người khai lập dòng Bửu Sơn Kỳ Hương từ năm 1849, và nơi gắn với ông là chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc cùng các trại ruộng như Bửu Hương Tự ở Láng Linh. Đó là dòng tu mở đầu, sớm hơn chín mươi năm. Còn chùa Thầy trong cách gọi của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là ngôi An Hòa Tự ở Phú Tân, hoàn toàn không phải chùa Tây An. Hai dòng có quan hệ kế thừa về mạch tư tưởng Học Phật Tu Nhân, nhưng là hai thời kỳ, hai nơi chốn và hai vị khai sáng riêng.

IILịch Sử Qua Các Mốc

Hai công trình ở đây có tuổi khác nhau. An Hòa Tự có gốc từ một am nhỏ dựng giữa thế kỷ 19, còn ngôi nhà nay là Tổ đình thì gắn với sự kiện khai đạo năm 1939.

  • 1850Am cỏ đầu tiên
    Theo tư liệu lịch sử An Hòa Tự, ông Phạm Miên (1817 tới 1900, quê ở Cao Bằng) vào làng Hòa Hảo dựng một am cỏ nhỏ để tĩnh tu và bốc thuốc giúp dân. Đó là tiền thân của ngôi An Hòa Tự về sau.
  • 1901Dựng thành chùa làng
    Sau khi ông Phạm Miên qua đời năm 1900, dân làng Hòa Hảo mở rộng am cỏ thành ngôi chùa cột gỗ mái lá vào năm 1901 và cử Thủ tọa Thình trông coi, đợt tu bổ kéo dài tới năm 1909.
  • 1936Xây lại và đặt tên An Hòa Tự
    Chùa được xây lại kiên cố với cột gỗ căm xe và cà chắc, tường gạch, mái ngói, đồng thời xoay cổng chính ra hướng lộ (hướng nam). Ban Hương chức ghép tên tổng An Lạc và làng Hòa Hảo để đặt hiệu chùa là An Hòa Tự.
  • 1939Khai đạo tại Tổ đình
    Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (4 tháng 7 năm 1939), Đức Huỳnh Giáo Chủ làm lễ khai đạo tại tư thất gia đình ở làng Hòa Hảo. Phòng khách ngôi nhà được lập thành Phật đường hiệu Kim Sơn Tự, nơi Ngài viết bốn quyển Sấm Giảng đầu tiên trong mùa thu năm Kỷ Mão.
  • 1945An Hòa Tự thành Chùa Thầy
    Ngày 29 tháng 5 năm Ất Dậu (1945), sau khi Ban Hương chức làng Hòa Hảo hiến ngôi An Hòa Tự, Đức Huỳnh Giáo Chủ bưng lư hương bằng sành từ ngôi Tam Bảo Tổ đình sang an vị tại An Hòa Tự. Từ đó tín đồ gọi An Hòa Tự là Chùa Thầy.
  • 1952Trùng tu lớn An Hòa Tự
    Đợt trùng tu toàn diện do Đức Ông Huỳnh Công Bộ, thân sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ, đứng ra chủ trì với sự đóng góp của tín đồ nhiều nơi.
  • 1999Lập Ban Trị sự Trung ương
    Tháng 6 năm 1999, Đại hội đại biểu tín đồ Phật giáo Hòa Hảo lần thứ nhất họp tại Tổ đình, lập Ban Trị sự Trung ương và mở đường cho các kỳ đại lễ tập trung hằng năm.
  • 2025Đổi địa giới hành chính
    Theo Nghị quyết 1654/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, thị trấn Phú Mỹ cùng các xã Tân Hòa, Tân Trung và Phú Hưng hợp nhất thành xã Phú Tân thuộc tỉnh An Giang.
Theo sử liệu

Cần ghi rõ rằng phần lớn các mốc trước năm 1945 ở trên được chép trong tư liệu do chính đạo lưu giữ, như bản Lịch sử An Hòa Tự và bài giới thiệu Tổ đình của cộng đồng Phật giáo Hòa Hảo, chứ không rút ra từ hồ sơ hành chính. Đây là điều thường gặp với các cơ sở tôn giáo hình thành trong thế kỷ 19 và 20 ở vùng Tây Nam Bộ. Thư viện ghi lại các mốc ấy đúng như tư liệu của đạo trình bày, và ghi rõ xuất xứ để quý vị tự cân nhắc.

IIIKiến Trúc Và Cách Bài Trí

Điều đáng nói ở đây là sự tiết chế. Cả hai công trình đều theo lối nhà ở và chùa làng Nam Bộ, không có tháp cao, không có sơn son thếp vàng lộng lẫy. Người quen với chùa chiền đồ sộ dễ đi qua mà không nhận ra, và chính điều đó là ý của đạo.

Tổ đình và Phật đường Kim Sơn Tự

Ngôi nhà sàn truyền thống Nam Bộ dài 24 mét, rộng 11,4 mét, khung gỗ căm xe và thao lao, mái ngói. Gian khách được thiết lập làm Phật đường hiệu Kim Sơn Tự với ngôi Tam Bảo, bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ và bộ vạt gõ nơi Đức Thầy từng ngồi thuyết pháp.

Đôi trụ cổng Tổ đình

Trên hai trụ cổng xây năm 1946 đắp nổi bốn chữ Quí Tiện Đồng Nghinh, nghĩa là sang hèn đều được đón tiếp như nhau. Bốn chữ ấy được tín đồ nhắc tới như lời tóm gọn tinh thần bình đẳng của đạo.

An Hòa Tự và bốn nóc mái

Ngôi chùa cách Tổ đình khoảng 150 mét, chánh điện hình chữ Sơn nối nhà hậu tự tạo thành bốn nóc mái cổ lầu, diện tích khoảng 300 mét vuông trong khuôn viên hơn 7.000 mét vuông. Trong chùa giữ cả các pho tượng xi măng đúc từ năm 1936 lẫn tấm Trần Dà treo phía sau và tấm bảng đề hai chữ Miễn lạy trước chân dung Đức Thầy ở Hậu Tổ.

Ngôi thờ Trần Dà

Trên bàn thờ Tam Bảo chính thống của đạo không đặt tượng mà treo tấm vải màu nâu sồng gọi là Trần Dà. Đây là cách thờ đặc trưng của Phật giáo Hòa Hảo, dùng cả ở nơi thờ tự chung lẫn ở bàn thờ trong nhà tín đồ.

Bàn Thông Thiên và nhà trưng bày xe cổ

Bàn thờ nhỏ đặt ngoài trời trước sân, cao khoảng 1,2 mét, mặt bàn chừng 0,4 mét vuông, hướng lên trời, dùng nước lạnh, bông hoa và nhang. Bên cạnh Tổ đình còn có nhà kính bảo quản chiếc xe hơi hiệu Renault sản xuất tại Pháp mà Đức Huỳnh Giáo Chủ từng dùng đi khuyến nông năm 1945.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo lý của đạo, lễ vật dâng cúng chỉ gồm nước lạnh, bông hoa và nhang. Nước lạnh biểu thị sự trong sạch, bông hoa biểu thị sự tinh khiết, nhang để trừ mùi uế. Đạo dạy không cúng đồ mặn, không đốt vàng mã, không rước thầy cúng, vì những việc ấy tốn kém mà không giúp gì cho việc tu. Đấy là lý do vì sao các nơi thờ tự của đạo giữ được vẻ giản dị đồng nhất từ Tổ đình cho tới bàn thờ trong nhà dân.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thấy nơi thờ tự nhỏ và ít trang trí thì tưởng đây là một cơ sở phụ, còn nơi chính phải ở đâu khác lớn hơn. Không phải vậy. Với Phật giáo Hòa Hảo, Tổ đình là nơi trọng yếu bậc nhất của cả đạo, và quy mô khiêm tốn của nó là kết quả trực tiếp của giáo lý chứ không phải dấu hiệu của sự sơ sài. Trong các kỳ đại lễ, số người về đây được ghi nhận lên tới hàng vạn lượt khách, phần lớn sinh hoạt ngoài trời quanh khu vực chứ không ở trong nhà.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nói về đặc thù của cả vùng. Phú Tân là đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, ngay trước mặt Tổ đình là dòng sông Vàm Nao, đoạn sông huyết mạch nối hai nhánh sông lớn của châu thổ. Trong phép xem đất, một mảnh đất được nước bao quanh gọi là thủy nhiễu, tức nước vòng ôm lấy. Sách xưa xếp thế này vào loại quý, vì nước ôm thì khí không tán ra bốn phía, và ở đồng bằng không có núi thì nước giữ vai trò của núi, vừa làm ranh giới vừa làm chỗ tụ.

Điểm thứ hai là chỗ này không có sơn theo nghĩa đen. Cả vùng bằng phẳng, cao độ chênh nhau không đáng kể. Phong thủy đồng bằng vì thế đọc khác phong thủy vùng núi, thay vì tìm long mạch chạy theo dãy núi thì người ta đọc theo dòng chảy, bờ đất và hướng gió. Ở đây con sông Vàm Nao và kênh rạch chạy dọc, đường bộ chạy song song với bờ nước, và cả Tổ đình lẫn An Hòa Tự (từ lần trùng tu năm 1936) đều quay mặt ra trục lộ ấy. Đó là lối đặt nhà cổ truyền của người Nam Bộ, gọi nôm na là quay mặt ra lộ, xây lưng vào đồng, và đọc theo phong thủy thì đây là thế hướng động tọa tĩnh, mặt mở ra chỗ có người và nước qua lại, lưng dựa vào chỗ yên.

Điểm thứ ba đáng nói là bàn Thông Thiên đặt ngoài trời. Trong phong thủy nhà ở cổ truyền, một ngôi thờ đặt giữa khoảng sân trống, không mái che, không tường vây, là chỗ đón khí trực tiếp từ trên xuống. Cách đặt ấy bỏ hẳn lớp trung gian giữa người và trời. Nhìn từ góc bố cục, nó cũng làm cho khoảng sân trước nhà thành một minh đường có tâm điểm, tức khoảng trống trước cửa không rỗng mà có một điểm quy tụ ánh nhìn.

Cuối cùng, đáng để ý là thế đất ở đây không được chọn theo phép địa lý. Ngôi nhà nay là Tổ đình vốn là nhà ở của một gia đình trong làng, dựng theo lẽ thường của người dân đồng bằng chứ không theo la bàn của thầy địa. Việc nó trở thành nơi trọng yếu của một tôn giáo là do sự kiện diễn ra trên mảnh đất ấy, không phải do thế đất được nhắm trước. Thư viện ghi điều này để tránh cho quý vị một hiểu nhầm thường gặp, rằng mọi nơi thờ tự lớn đều phải có một câu chuyện chọn đất phía sau.

VLễ Và Lệ

Trong năm, đạo có mấy kỳ lễ mà tín đồ từ nhiều tỉnh cùng về khu vực Tổ đình. Lớn hơn cả là ngày kỷ niệm khai đạo vào tháng năm âm lịch và lễ đản sinh vào tháng mười một âm lịch.

Các kỳ lễ chính theo lịch của đạo. Bài không ghi giờ hành lễ vì lịch do Ban Trị sự sở tại quy định theo từng năm.
Ngày âm lịchLễNội dung
18 tháng 5Đại lễ Khai đạoKỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai lập đạo năm Kỷ Mão 1939 tại làng Hòa Hảo. Đây là kỳ đại lễ lớn bậc nhất trong năm, tổ chức tại khu vực Tổ đình và An Hòa Tự.
25 tháng 11Lễ Đản sinh Đức Huỳnh Giáo ChủKỷ niệm ngày sinh của vị giáo chủ (25 tháng 11 năm Kỷ Mùi 1919 âm lịch, tức 15 tháng 1 năm 1920), kỳ đại lễ lớn thứ hai trong năm của đạo.
Rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, rằm tháng MườiCác ngày rằm lớn (Tam Ngươn)Tín đồ giữ lệ cúng lạy tại nhà và tại nơi thờ tự, theo nếp cúng giản dị của đạo.
Mùng một và ngày rằm hằng thángNgày cúng thường lệNếp cúng chay và cúng lạy hai thời sớm chiều cùng ngày sóc vọng tại bàn thờ trong nhà và bàn Thông Thiên ngoài sân.

Một điểm riêng đáng ghi nhận trong các kỳ đại lễ ở đây là phần công quả chiếm chỗ rất lớn. Tín đồ tự nguyện lo cơm nước chay, nước uống, chỗ nghỉ và phương tiện đò phà đi lại cho khách hành hương, hoàn toàn miễn phí. Nếp ấy nối liền với vế Tu Nhân trong giáo lý, tức là việc tu được đo bằng việc làm với người khác chứ không chỉ bằng thời giờ ngồi trước bàn thờ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ấp Hòa Hảo, xã Phú Tân, tỉnh An Giang (thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân cũ)
Đường tới
Tổ đình và An Hòa Tự cùng nằm ở ấp Mỹ Hòa, xã Phú Tân, tỉnh An Giang (thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân cũ), ngay bờ bắc sông Vàm Nao trên dải cù lao giữa sông Tiền và sông Hậu, đi từ Châu Đốc hoặc từ Tân Châu và Long Xuyên qua phà Thuận Giang đều thuận.
Toạ độ
10.5955, 105.3562
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một cộng đồng tín đồ, không phải điểm tham quan đơn thuần, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc gồm ăn mặc kín đáo và giản dị, bỏ giày dép theo chỉ dẫn, đi nhẹ nói khẽ, không mang lễ vật mặn và không đốt vàng mã vì đạo không dùng. Tại Hậu Tổ của An Hòa Tự có bảng đề Miễn lạy trước chân dung Đức Thầy, khách chỉ xá chào trang nghiêm. Nếu quý vị muốn dâng lễ, nước lạnh, hoa và nhang là đúng lệ.

Trong các kỳ đại lễ 18 tháng 5 và 25 tháng 11 âm lịch, khu vực này rất đông người. Nếu quý vị tới vào những ngày ấy, xin theo hướng dẫn của người trong ban tổ chức về chỗ đứng và lối đi, và tránh chụp cận mặt người đang hành lễ. Nếu chỉ muốn xem kiến trúc cho thong thả thì nên tránh đúng những ngày đại lễ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo

Contribute photos, information or video for Hoa Hao Buddhism Founding Hall

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Nơi tiêu biểu bậc nhất của Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang là nơi nào

Đó là Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, còn gọi là Tổ đình Đức Huỳnh Giáo Chủ, ở xã Phú Tân, tỉnh An Giang (thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân cũ), cùng ngôi An Hòa Tự tức chùa Thầy ở kề bên. Hai nơi hợp thành khu vực mà tín đồ gọi là Thánh địa Hòa Hảo. Đạo không dùng chữ thánh thất, vì chữ ấy thuộc về đạo Cao Đài.

Chùa Thầy của Phật giáo Hòa Hảo có phải chùa Tây An ở núi Sam không

Không phải. Chùa Thầy trong cách gọi của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là ngôi An Hòa Tự ở Phú Tân. Còn chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc gắn với Phật Thầy Tây An tức ông Đoàn Minh Huyên và dòng Bửu Sơn Kỳ Hương, hình thành từ năm 1849, sớm hơn chín mươi năm.

Vì sao Tổ đình lại là một ngôi nhà chứ không phải một ngôi chùa lớn

Vì đó vốn là tư thất của gia đình Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm, song thân Đức Huỳnh Giáo Chủ, và lễ khai đạo năm 1939 diễn ra ngay tại ngôi nhà ấy. Thêm nữa, giáo lý của đạo chủ trương tín đồ tu tại gia và không xây cất nơi thờ tự đồ sộ, nên quy mô khiêm tốn ở đây là chủ ý chứ không phải sự sơ sài.

Trên bàn thờ của Phật giáo Hòa Hảo có gì

Trên bàn thờ Tam Bảo chính thống của đạo không đặt tượng cốt mà treo một tấm vải màu nâu sồng gọi là Trần Dà (riêng ở An Hòa Tự vẫn giữ lại các pho tượng xi măng có từ năm 1936 trước khi khai đạo, treo Trần Dà phía sau). Lễ vật chỉ gồm nước lạnh, bông hoa và nhang, đạo không cúng đồ mặn, không đốt vàng mã và không dùng thầy cúng. Ngoài sân có thêm bàn Thông Thiên đặt lộ thiên.

Tứ ân trong Phật giáo Hòa Hảo là những ân nào

Bốn ân gồm ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Theo giáo lý của đạo, báo đủ bốn ân ấy là phần Tu Nhân, đi liền với phần Học Phật, hai vế hợp lại thành đường tu mà đạo đề ra cho tín đồ.

›Đọc Tiếp