壹Đọc Nhanh Trong Năm Câu
Trong ngôi nhà của người Việt, chỗ trang trọng nhất thường không dành cho người sống. Nó dành cho những người đã khuất. Trang này nói về cái bàn thờ ấy, về những vật đặt trên đó, và về lối nghĩ đã dựng nên tất cả. Xin nhớ giùm một điều: tục lệ mỗi vùng mỗi khác, mỗi họ mỗi khác, và không nơi nào sai cả.
Một. Thờ cúng tổ tiên không phải một tôn giáo. Không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không giáo hội. Nó là một tín ngưỡng, truyền đời bằng việc làm chứ không bằng sách vở.
Hai. Cái lõi của nó gói trong bốn chữ sự tử như sự sinh 事死如事生: thờ người chết như lúc còn sống.
Ba. Nơi diễn ra tất cả là bàn thờ gia tiên, và vật trung tâm của bàn thờ là bát hương. Đèn nến, bình hoa, mâm bồng, chén nước đều xoay quanh bát hương ấy.
Bốn. Việc thờ cúng chạy theo âm lịch: mùng một và ngày rằm hằng tháng, ngày giỗ từng người, Tết Nguyên Đán, Thanh Minh, Vu Lan. Nhà nào làm được tới đâu thì làm tới đó.
Năm. Người Việt còn mở khái niệm tổ tiên ra khỏi phạm vi một nhà. Cả nước có một ngày giỗ chung là Giỗ Tổ Hùng Vương mùng mười tháng ba âm lịch, và tín ngưỡng ấy đã được UNESCO ghi danh năm 2012.
貳Một Tín Ngưỡng Không Có Ngày Khai Sinh
Phật Giáo có Đức Thích Ca và có tạng kinh. Đạo Giáo có Lão Tử và có Đạo Đức Kinh. Thờ cúng tổ tiên thì không có gì trong số đó. Không ai lập ra nó, không ai viết ra nó, không ai được quyền nói mình giữ bản chuẩn của nó. Hỏi nó ra đời năm nào thì không có câu trả lời, vì nó không ra đời, nó lớn lên.
Có trước các đạo lớn
Khi Nho Giáo, Phật Giáo và Đạo Giáo lần lượt vào đất Việt, người ở đây đã chôn cất và cúng người chết từ lâu rồi. Các đạo ấy không đem tục thờ tổ tiên tới. Cái họ đem tới là chữ nghĩa và nghi thức: Nho Giáo cho nó lý luận về đạo hiếu, Phật Giáo cho nó cách nghĩ về nghiệp báo, Đạo Giáo cho nó phép chiêu hồn và cúng bái. Đây là lý do một người Việt có thể vừa đi chùa vừa thắp hương ông bà mà không thấy mình đang theo hai đạo.
Hồn và phách
Hồn 魂 thuộc dương, chủ về phần tinh thần. Phách 魄 thuộc âm, chủ về phần thân hình, dân gian quen gọi là vía. Câu gọn của người xưa là hồn chủ tinh thần, phách chủ thân hình, và cách nói quen thuộc là ba hồn bảy vía, tức 三魂七魄. Theo một lối giải thích phổ biến, khi chết thì phách tan dần theo xác, mỗi phách bảy ngày, cộng lại thành bốn mươi chín ngày.
Nhu cầu nối đời
Còn một cái gốc nữa, thực tế hơn. Xã hội Việt cổ truyền là xã hội nông nghiệp lúa nước, sống quây quần theo dòng máu và theo làng. Ruộng của cha để lại cho con, nghề của ông truyền cho cháu, danh của họ là danh chung. Người ta thấy mình là một mắt trong sợi dây dài, và thờ cúng tổ tiên là cách sợi dây ấy được siết lại mỗi năm vài lần.
Không có văn bản nào ghi lại buổi đầu của tục thờ người chết ở đất Việt. Cái còn lại là những ngôi mộ.
Tại di chỉ Vườn Chuối ở huyện Hoài Đức, Hà Nội, các đợt khai quật từ năm 2024 đã làm lộ ra khu cư trú và khu mộ táng trải từ cuối văn hóa Phùng Nguyên tới hậu kỳ Đông Sơn. Nổi tiếng hơn cả là mộ thuyền Việt Khê, phát hiện năm 1961 ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, niên đại khoảng hai nghìn tới hai nghìn năm trăm năm cách nay; ngôi mộ lớn nhất trong nhóm chứa hơn một trăm đồ tùy táng, đặt trong một thân cây đục rỗng làm quan tài hình thuyền.
Điều rút ra nằm ở chính việc chôn theo: chỉ chôn theo đồ khi tin rằng người nằm đó còn dùng tới. Quan niệm chết là bắt đầu một đời sống khác đã có trên đất này từ trước Công nguyên.
參Niềm Tin Nền Tảng
Tín ngưỡng này không có tín điều, nhưng có một số ý xuyên suốt, gặp lại được ở nhà giàu lẫn nhà nghèo, ở Bắc lẫn Nam.
Người chết không mất hẳn
Cái chết được hiểu là một sự đổi chỗ chứ không phải một sự chấm dứt. Người ta dùng chữ về với ông bà, về nơi chín suối, quy tiên, toàn những chữ nói tới một nơi đến. Vì có nơi đến nên có thể mời về, và vì có thể mời về nên bữa cỗ ngày giỗ mới có nghĩa.
Tổ tiên dõi theo con cháu
Ông bà không đứng ngoài cuộc đời con cháu. Đứa cháu đi thi thì khấn, người con làm ăn xa về thì trước hết lên nhà trên thưa với bàn thờ, nhà có tang có cưới đều phải trình. Quan hệ ấy là hai chiều: tổ tiên phù hộ độ trì, con cháu phụng dưỡng khói hương. Đây không phải một hợp đồng đổi chác: người ta cũng thắp hương vào những ngày chẳng xin gì.
Sự tử như sự sinh
Nghĩa đen: thờ người chết như thờ người sống. Câu này gốc ở kinh điển Nho gia, thường đi liền vế sau sự vong như sự tồn. Nó chi phối gần như mọi chi tiết trên bàn thờ. Vì sao dâng cơm canh? Vì lúc sống ông bà ăn cơm. Vì sao rót nước, mời trầu, mời rượu? Vì lúc sống ông bà uống nước, ăn trầu, uống rượu. Vì sao ngày giỗ phải làm mâm tươm tất? Vì đó là ngày mời một người thân về nhà.
Phúc đức để lại cho đời sau
Ý thứ tư nhìn về phía trước. Người Việt tin rằng việc làm của một đời người để lại phúc đức hoặc để lại nghiệp cho con cháu. Câu đời cha ăn mặn, đời con khát nước nói vế xấu; câu cây xanh thì lá cũng xanh, cha mẹ hiền lành để đức cho con nói vế lành. Chỗ này thấy rõ dấu Phật Giáo hòa vào, nhưng cách diễn đạt thì hoàn toàn gia đình: phúc tính cho cả dòng.
Người đã khuất chuyển sang một cách hiện diện khác, vẫn cần được chăm nom.
Bên trên phù hộ, bên dưới hương khói.
Đối xử với người mất theo đúng cách đã đối xử lúc người ấy còn sống.
Việc lành việc dữ của một đời được tin là dội xuống các đời sau.
Cách làm mỗi vùng mỗi họ mỗi khác, và đều hợp lệ trong phạm vi của nó.
肆Bàn Thờ Gia Tiên
Bàn thờ gia tiên là chỗ tín ngưỡng này hiện ra thành vật chất. Nhà tranh vách đất cũng có một tấm ván kê cao với một bát hương; nhà rộng thì có cả một gian dành riêng. Phần dưới mô tả những vật thường gặp và ý người ta gán cho từng vật, chứ không phải một khuôn mẫu bắt buộc.
Những vật thường có trên bàn thờ
| Vật | Ý thường được gán cho |
|---|---|
| Bát hương | Vật trung tâm, nơi hương linh được coi là giáng về. Nhà đơn giản chỉ một bát; nhiều nhà bày ba bát cho thần linh, gia tiên và bà cô ông mãnh. |
| Ảnh thờ hoặc bài vị | Ảnh người đã khuất, hoặc bài vị 牌位 ghi tên tuổi. Nhiều nhà miền Nam dùng tấm liễn Cửu Huyền Thất Tổ 九玄七祖. |
| Đèn hoặc đôi chân nến | Đặt hai bên, thường được giải là nhật nguyệt, cũng là ánh sáng soi đường cho hương linh về. |
| Bình hoa và mâm bồng | Bày theo lối đông bình tây quả: một bên bình hoa, bên kia đĩa chân cao đựng ngũ quả và trầu cau. |
| Kỷ chén nước | Ba hoặc năm chén nước trong, thứ lễ tối giản mà nhà nào cũng lo được. |
| Đỉnh đồng | Còn gọi là lư hương, đốt trầm vào dịp lớn. Là món của bộ tam sự hoặc ngũ sự. |
| Đôi hạc trên lưng rùa | Hạc chỉ trời, rùa chỉ đất, thành ý mong tổ tiên yên ổn lâu bền. |
| Ống hương | Ống đựng nhang chưa thắp. Nhà nhỏ thường bỏ qua. |
| Hoành phi, câu đối | Phổ biến ở nhà thờ họ và nhà cổ, ít gặp ở căn hộ. |
Ba miền, ba lối bày
Đây là chỗ mà mọi lời khẳng định kiểu bàn thờ đúng phải như thế này đều nên được nghe lại cho kỹ. Khác biệt giữa các miền bắt nguồn từ kiến trúc nhà ở, khí hậu và lịch sử di dân.
Nhà ba gian hai chái, bàn thờ ở gian giữa nhìn thẳng ra cửa chính. Chuộng gỗ mít, gỗ vàng tâm, gỗ lim. Bộ đồ thờ đủ hơn, hay gặp đỉnh đồng, đôi hạc và lối bày ba bát hương.
Nghiêng về sự chắc chắn và tiết chế. Nhà rường Huế dành gian giữa cho bàn thờ với trang thờ gắn liền kiến trúc. Việc chạp mả và giỗ họ được coi trọng hơn nơi khác.
Quen dùng tủ thờ, khối gỗ lớn chạm hoặc cẩn ốc, vừa là nơi thờ vừa là đồ đạc chính của gian khách. Nhiều nhà thờ tấm liễn Cửu Huyền Thất Tổ.
Bàn thờ luôn ở chỗ cao và sạch nhất. Cái khác nhau là hình thức, cái giống nhau là thứ bậc dành cho nó.
Vì sao đặt ở chỗ ấy
Trong nhà ba gian truyền thống, gian giữa là gian trang trọng nhất: đối diện cửa chính, đón ánh sáng và gió lành, là nơi tiếp khách quý. Đặt bàn thờ vào đó là đặt tổ tiên vào vị trí chủ nhà, còn người sống lui về hai chái. Cách sắp xếp ấy nói ra một trật tự: trong nhà này, người đã khuất vẫn được xếp ở hàng trên.
Nguyên tắc chọn chỗ vì thế khá thống nhất khắp nơi: chỗ cao, chỗ sạch, chỗ yên, có tường vững phía sau, không sát khu vệ sinh và bếp núc.
伍Bát Hương Và Ba Nén Nhang
Nếu phải bỏ hết mọi thứ trên bàn thờ mà chỉ được giữ lại một, người Việt giữ lại bát hương. Bàn thờ có thể không có đỉnh đồng, không có hạc, không có ảnh, thậm chí không có bàn, nhưng hễ còn bát hương thì việc thờ cúng vẫn còn. Người ta hình dung nó là chỗ hương linh giáng về, nên nó được kính trọng theo một cách khác hẳn.
Vì sao thắp ba nén
Ba nén là con số quen nhất, và có nhiều cách giải thích cùng tồn tại. Không cách nào là chính thức, vì tín ngưỡng này vốn không có cơ quan nào phát ra cách giải thích chính thức.
Lối giải theo Nho gia lấy tam tài 三才, tức thiên, địa, nhân. Lối giải theo nhà Phật lấy tam bảo 三寶 là Phật, Pháp, Tăng, hoặc lấy giới, định, tuệ. Có nơi giải theo ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Có người giải mộc mạc hơn, rằng ba là số lẻ mà số lẻ thuộc dương.
Bên cạnh ba nén còn gặp một nén dùng thắp hằng ngày, và năm nén hay gặp ở lễ lớn và đền phủ. Cả ba lối đều được chấp nhận.
Bốc bát hương
Bốc bát hương là việc lập một bát hương mới, thường làm khi về nhà mới, khi thay bát cũ đã hỏng, hoặc khi lập bàn thờ lần đầu. Cách làm khác nhau khá nhiều giữa các vùng và các thầy. Nét chung là: bát mới rửa sạch, nhiều nơi lau bằng rượu gừng; bên trong đặt phần gọi là cốt bát hương, tùy nơi mà gồm gói thất bảo bảy thứ quý theo lối tượng trưng cùng tờ ghi tên tuổi người được thờ. Phần đổ đầy bát có hai lối phổ biến: tro rơm nếp đốt sạch, quen dùng ở miền Bắc; hoặc cát trắng đãi kỹ, quen dùng ở nhiều nơi phía Nam. Ai bốc thì tùy nhà: có nhà mời thầy hoặc nhờ nhà chùa, có nhà để người lớn tuổi nhất tự làm lấy.
Những điều thường kiêng
Điều được nhắc nhiều nhất là không xê dịch bát hương tùy tiện, vì bát hương một khi đã an vị thì được coi như đã định chỗ. Kế đó là giữ bát hương luôn sạch, không để chân nhang cắm dày tới mức che kín miệng bát. Việc rút chân nhang thường làm vào dịp cuối năm, nhiều nhà chọn ngày cúng ông Công ông Táo. Mỗi vùng còn có những điều kiêng riêng, nên gặp một điều kiêng lạ tai thì hiểu đó là tục của một vùng.
Đây là chỗ hay bị nói quá. Con số ba bát hương, ứng với thần linh ở giữa, gia tiên và bà cô ông mãnh hai bên, là một lối bày phổ biến ở miền Bắc và ở những nhà thờ khá đầy đủ. Nó là một lối bày, không phải điều kiện để việc thờ cúng có hiệu lực. Rất nhiều gia đình Việt, xưa cũng như nay, chỉ thờ một bát hương chung, và cách ấy hoàn toàn nằm trong truyền thống.
陸Giỗ Chạp Và Lễ Tiết
Việc thờ cúng tổ tiên chạy theo âm lịch, với ba nhịp: nhịp tháng, nhịp năm và nhịp đời người. Không nhà nào làm đủ tất cả, và lễ vật mỗi vùng mỗi khác rất xa.
| Dịp | Thường làm gì |
|---|---|
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Lễ sóc và lễ vọng, sóc 朔 là ngày không trăng, vọng là ngày trăng tròn. Thay nước, thay hoa, thắp hương. |
| Tết ông Công ông Táo, hai ba tháng Chạp | Tiễn Táo quân về trời. Nhiều nhà nhân dịp này lau dọn bàn thờ. Miền Bắc quen thả cá chép, hai miền kia có lễ khác. |
| Lễ rước ông bà, chiều ba mươi Tết | Mâm cỗ mời tổ tiên về ăn Tết. Ở nhiều nhà đây là bữa cỗ trang trọng nhất năm. |
| Ba ngày Tết | Hương đèn giữ không dứt, mỗi bữa dâng cơm nước lên bàn thờ. |
| Lễ hóa vàng | Tiễn ông bà sau Tết, đốt vàng mã và hạ cỗ. Ngày làm không thống nhất: có nhà mùng ba, có nhà mùng bốn hoặc mùng năm, có nhà đợi hạ cây nêu. |
| Tết Thanh Minh | Vào tiết Thanh minh, khoảng đầu tháng tư dương lịch. Con cháu ra tảo mộ, dẫy cỏ, đắp lại mộ rồi thắp hương. Nhiều vùng phía Nam lại quen sửa sang mộ vào dịp chạp mả cuối năm. |
| Tết Đoan Ngọ, mùng năm tháng năm | Dân gian gọi là tết giết sâu bọ. Cúng hoa quả đầu mùa, rượu nếp, bánh tro. Lễ vật khác nhau rõ rệt giữa các miền. |
| Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan | Ngày báo hiếu, đồng thời là dịp cúng cô hồn. Nhiều nhà làm hai mâm: một cúng gia tiên trong nhà, một cúng chúng sinh ngoài sân. |
| Giỗ tổ họ | Cả dòng họ tụ về từ đường. Ngày do từng họ định, không có ngày chung. |
| Giỗ từng người | Đúng ngày mất theo âm lịch, mỗi năm một lần, tại nhà người giữ hương hỏa. |
Ngày giỗ tính thế nào
Ngày giỗ là ngày mất theo âm lịch, không phải ngày dương lịch và cũng không phải ngày chôn cất. Nhiều nơi còn giữ tục cúng cáo giỗ vào chiều hôm trước, gọi là ngày tiên thường, rồi hôm sau mới làm giỗ chính, gọi là ngày chính kỵ.
Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường
Giỗ đầu, chữ cũ là tiểu tường, làm tròn một năm sau ngày mất. Tang chưa hết, con cháu vẫn mặc đồ tang và lễ được làm trang nghiêm gần như lễ tang.
Giỗ hết, chữ cũ là đại tường, làm tròn hai năm. Sau lễ này gia đình mới làm lễ bỏ tang, dỡ bàn thờ riêng của người mới mất và rước ảnh hoặc bài vị lên bàn thờ gia tiên chung.
Giỗ thường, chữ cũ là cát kỵ nghĩa là ngày giỗ lành, làm từ năm thứ ba trở đi. Con cháu mặc thường phục, mâm cỗ thành một bữa họp mặt.
Riêng thời điểm bỏ tang thì các nhà làm không giống nhau: có nơi giữ đúng ba năm cổ lệ, có nơi làm gọn sau lễ bốn mươi chín ngày hoặc một trăm ngày.
柒Nhà Thờ Họ, Gia Phả Và Trưởng Tộc
Bàn thờ trong nhà lo cho vài đời gần. Muốn đi xa hơn, người Việt có một cấp tổ chức nữa là dòng họ: một thiết chế có nơi chốn, có sổ sách, có người đứng đầu và có ngày họp.
Từ đường và gia phả
Từ đường 祠堂, quen gọi là nhà thờ họ, là ngôi nhà riêng dựng để thờ thủy tổ và các đời tiên linh của một họ. Nó còn giữ sắc phong, sự tích tiền nhân, và là chỗ cả họ ngồi lại bàn việc chung, khen thưởng con cháu học giỏi, hòa giải chuyện trong họ.
Gia phả 家譜 là cuốn sổ ghi theo thứ tự các đời: tên húy, chức tước, ngày sinh, ngày mất, nơi mộ táng, vợ chồng con cái. Mặt thực dụng, nó là cuốn lịch giỗ của cả họ, không có nó thì chỉ vài đời là quên mất ngày. Mặt tình cảm, nó cho một người biết mình đứng ở đời thứ mấy. Mặt tư liệu, nhiều cuốn gia phả cổ đã thành nguồn sử liệu về làng xã và di dân.
Trưởng họ và ruộng hương hỏa
Trưởng họ, còn gọi là tộc trưởng, thường thuộc chi trưởng, giữ việc chủ tế trong các lễ của họ, giữ gia phả và trông nom từ đường. Ngày xưa vai này còn kèm quyền uy trong việc dạy bảo con cháu; ngày nay phần lớn còn lại là vai trò lễ nghi.
Để việc thờ cúng có nguồn nuôi, luật xưa đặt ra phần tài sản gọi là hương hỏa 香火, nghĩa đen là hương và lửa. Đó thường là ruộng, để hoa lợi hằng năm dùng vào việc giỗ chạp và tu bổ từ đường, và phần ấy không được chia hay bán như tài sản thường. Quốc triều hình luật thời Lê, quen gọi là luật Hồng Đức, có những điều khoản riêng về ruộng hương hỏa, cho thấy nhà nước quân chủ nhìn việc thờ cúng tổ tiên là việc cần được pháp luật bảo hộ.
Vì sao gia phả đang trở lại
Nhiều thập niên chiến tranh và di chuyển đã làm đứt mạch nhiều dòng họ: gia phả cháy, mất, hoặc chỉ còn trong trí nhớ vài cụ già. Vài chục năm gần đây, việc chắp nối lại phả hệ, dựng lại từ đường và tổ chức giỗ tổ họ hồi phục khá mạnh, ở cả trong nước lẫn trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đời sống khá lên khiến việc dựng từ đường trở nên khả thi, người sống xa quê muốn có một điểm neo, và có một lý do rất mới là công cụ số: phả hệ nay được đánh máy, dựng thành sơ đồ, đưa lên các nhóm trực tuyến của họ.
捌Từ Tổ Tiên Nhà Tới Tổ Tiên Nước
Đến đây có một bước mà ít nền văn hóa nào đi trọn như người Việt: đem chính cái khuôn thờ cúng tổ tiên trong nhà mà đắp cho cả một dân tộc. Người Việt còn có một Quốc Tổ chung và một ngày giỗ chung.
Ngày mùng mười tháng ba
Giỗ Tổ Hùng Vương làm vào mùng mười tháng ba âm lịch, trung tâm là Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ. Nhưng lễ không chỉ ở đó: nhiều đình, đền, miếu khắp nước thờ Hùng Vương cũng làm lễ trong ngày này, còn gia đình ở xa thì có thể chỉ thắp một nén hương. Câu ca dao được nhắc nhiều nhất là Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.
- 1470undefined
- 1917undefined
- 2007undefined
- 2012undefined
Vì sao điều này đáng chú ý
Nhiều dân tộc có anh hùng lập quốc, nhưng phần lớn nhìn nhân vật ấy như một vị vua hoặc một vị thần. Người Việt thì nhìn Hùng Vương như ông tổ của mình, và làm giỗ đúng theo lối làm giỗ trong nhà: có ngày, có mâm lễ, có con cháu về đông đủ. Lễ vật dâng ở Đền Hùng cũng chính là thứ dâng lên bàn thờ nhà, bánh chưng và bánh giầy. Nói cách khác, đây là một cái bàn thờ gia tiên được phóng to bằng cỡ một quốc gia.
玖Hòa Với Các Đạo Khác
Một gia đình Việt có thể cùng lúc: đi lễ chùa ngày rằm, xem ngày giờ theo lối Đạo Giáo, giữ tôn ti trên dưới theo lối Nho Giáo, và thắp hương ông bà mỗi tối. Người trong nhà không thấy đó là bốn thứ chồng lên nhau, họ thấy đó là một nếp sống. Lý do nằm ở chỗ thờ cúng tổ tiên không tranh chấp địa hạt với đạo nào: nó không giải thích vũ trụ, không hứa hẹn cõi sau, không đòi ai bỏ niềm tin nào.
Với Nho Giáo
Đây là quan hệ gần nhất. Nho Giáo lấy hiếu 孝 làm gốc của mọi đức, và coi việc tế tự tổ tiên là bổn phận. Rất nhiều chữ nghĩa trên bàn thờ đều mượn từ đó: bài vị, chủ tế, tiên thường, chính kỵ, tiểu tường, đại tường. Nho Giáo đã cho tín ngưỡng này một bộ khung chữ nghĩa mà nó vốn không có.
Với Phật Giáo và Đạo Giáo
Phật Giáo vào Việt Nam không đòi bỏ bàn thờ tổ tiên, mà nối vào đó. Lễ Vu Lan rằm tháng bảy là chỗ hai bên gặp nhau rõ nhất: một lễ nhà Phật nhưng nội dung là báo hiếu cha mẹ. Trong nhiều nhà Việt, bàn thờ Phật đặt cao hơn bàn thờ gia tiên, hai bàn cùng tồn tại không hề vướng nhau.
Dấu Đạo Giáo nằm ở phần nghi thức và phần chọn ngày: xem ngày tốt để bốc bát hương, để cải táng, để nhập trạch; các lễ chiêu hồn, giải hạn, cúng sao.
Với Công Giáo
Trường hợp Công Giáo có một lịch sử riêng, và xin được trình bày bằng đúng các mốc văn kiện. Trong cuộc tranh luận thường gọi là vấn đề lễ nghi phương Đông ở các thế kỷ XVII và XVIII, Tòa Thánh đã ban hành những văn kiện cấm tín hữu tham dự các nghi lễ tôn kính tổ tiên, vì khi ấy các nghi lễ ấy được hiểu là mang tính thờ phượng.
- 1939undefined
- 1964undefined
- 1965undefined
- 1974undefined
- 2019undefined
Ngày nay, trong nhiều gia đình Công Giáo Việt Nam có bàn thờ tổ tiên đặt bên dưới bàn thờ Chúa, có thắp hương, có làm giỗ. Cách hiểu chính thức là phân biệt giữa tôn kính dành cho tổ tiên và thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa.
拾Trong Con Mắt Phong Thủy
Bàn thờ là món đồ được bàn tới nhiều nhất trong phong thủy nhà ở, và cũng là món có nhiều lời khuyên trái ngược nhau nhất. Mục này cố tách hai lớp: lớp nguyên tắc có sách vở, và lớp kiêng kỵ truyền miệng.
Tọa và hướng
Phong thủy phân biệt tọa là phương lưng dựa vào, và hướng là phương mặt nhìn ra. Lối tính thông dụng nhất là theo Bát Trạch: lấy năm sinh gia chủ ra cung phi, chia làm Đông tứ mệnh hợp bốn hướng Khảm, Ly, Chấn, Tốn, và Tây tứ mệnh hợp bốn hướng Càn, Khôn, Cấn, Đoài; bàn thờ được khuyên đặt vào phương tốt của gia chủ.
Đến đây các sách nói khác nhau. Nhiều thầy chủ trương tọa cát hướng cát, tức bàn thờ vừa dựa lưng vào phương tốt vừa nhìn ra phương tốt. Một số thầy khác lại áp cho bàn thờ nguyên tắc tọa hung hướng cát vốn quen dùng cho bếp. Gặp hai lời khuyên ngược nhau thì không phải vì có người nói sai, mà vì có hai phái.
Những chỗ được khuyên tránh
| Chỗ tránh đặt bàn thờ | Lý lẽ thường được nêu |
|---|---|
| Dưới xà ngang hoặc dầm nhà | Xà đè lên trên được ví như sức nặng đè xuống, gọi là hoành xà áp đỉnh. |
| Đối thẳng cửa nhà vệ sinh | Chỗ ô uế đối diện chỗ thanh tịnh. Lý do thực tế là mùi và ẩm. |
| Dựa lưng vào tường bếp hoặc nhà tắm | Bếp thuộc hỏa, bị cho là làm mất sự tĩnh. Lý do thực tế là nhiệt và hơi ẩm. |
| Dưới cầu thang hoặc dưới phòng ngủ tầng trên | Người đi lại trên đầu bàn thờ bị xem là thất kính. Lý do thực tế là rung và bụi. |
Bàn thờ trong căn hộ chung cư
Căn hộ đặt ra bài toán mà kiến trúc cổ truyền chưa từng gặp: không có gian giữa, trần thấp, có dầm lộ, phía trên đầu là sàn nhà người khác. Giới kiến trúc ghi nhận hiện chưa có tiêu chuẩn nào cho không gian thờ trong căn hộ.
Dành hẳn một phòng nhỏ nếu căn hộ đủ rộng.
Phổ biến nhất ở căn hộ nhỏ. Treo lên tường chịu lực, tránh vách nhẹ, tránh đúng dầm.
Chọn góc tường vững, tránh lối đi và tránh đối cửa nhà vệ sinh.
Dùng nhang không khói hoặc chỉ thắp vào ngày sóc vọng và ngày giỗ. Nhiều tòa nhà cấm đốt vàng mã trong căn hộ.
Âm trạch và dương trạch
Dương trạch 陽宅 là phong thủy nhà ở của người sống, âm trạch 陰宅 là phong thủy phần mộ của người đã khuất. Hai nhánh không tách rời, vì cùng nói về một dòng họ, và quan niệm truyền thống cho rằng mộ phần yên ổn thì con cháu được nhờ.
Từ đó sinh ra nguyên tắc đã yên thì để yên: mộ tổ không nên xê dịch hay xây sửa lớn khi không có lý do bắt buộc, việc chăm nom làm vào Thanh minh hoặc chạp mả. Tập quán cải táng cũng khác nhau rất xa: nhiều nơi ở miền Bắc có tục sang cát sau vài năm, nhiều nơi ở miền Nam chôn một lần là xong.
Lớp có sách vở. Cung phi, Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh, tọa và hướng, phép Bát Trạch. Những thứ này có hệ thống lý luận và có sách để tra.
Lớp vừa có lý phong thủy vừa có lý thực tế. Không đặt bàn thờ dưới xà, không đối cửa vệ sinh, không dựa tường bếp. Bỏ hết phần huyền vi đi thì vẫn còn lý do về mùi, nhiệt, ẩm, rung và bụi. Đây là lớp đáng theo nhất.
Lớp truyền miệng. Những điều kiêng rất chi tiết, đổi theo từng làng, từng thầy, thường không tra được nguồn. Chúng có giá trị như tập quán địa phương, không nên bị chê cười, cũng không nên bị coi là luật. Lời khuyên giản dị: hỏi cho biết mình đang nghe lớp nào.
拾壹Đổi Thay Trong Đời Sống Hôm Nay
Tín ngưỡng này được dựng lên trong một xã hội có làng, có ruộng, có nhà ba gian và nhiều thế hệ ở chung. Cả ba thứ ấy đều đang đổi: người Việt đô thị nay ở căn hộ, sống theo gia đình hạt nhân, và rất nhiều người làm việc cách quê hàng trăm cây số. Phần dưới ghi lại những đổi thay đang diễn ra, không kèm lời khen chê.
Từ gian thờ xuống tủ thờ, từ tủ thờ xuống bàn thờ treo tường rộng chừng một mét. Nhiều nhà chỉ còn giữ bát hương, chén nước, bình hoa.
Người ở xa quê lập một bàn thờ vọng hướng về quê nhà. Đây vốn là tục cũ, nhưng đang phổ biến trở lại do di cư và do cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Gộp giỗ nhiều cụ vào một ngày, hoặc dời vào cuối tuần gần nhất để con cháu về được. Cách này gây tranh luận: có họ chấp nhận, có họ giữ đúng ngày.
Con cháu ở xa dự giỗ qua hình ảnh gọi trực tiếp, hoặc nhờ người ở quê sắm lễ giúp. Một số chùa nhận đăng ký lễ và cầu siêu qua mạng.
Ký gửi bài vị hoặc tro cốt tại chùa để nhà chùa lo hương khói và cầu siêu. Phổ biến với gia đình không có người nối hương khói, hoặc ở căn hộ không tiện lập bàn thờ.
Nhiều gia đình chủ động giảm hoặc bỏ. Đầu năm 2018, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra công văn số 31 đề nghị các chùa hướng dẫn tăng ni phật tử loại bỏ việc đốt vàng mã tại cơ sở thờ tự Phật giáo.
Nhìn chung, hình thức co lại còn cái lõi thì chưa. Một người trẻ ở căn hộ ba mươi mét vuông, thắp một nén nhang không khói trên tấm kệ treo tường vào tối ba mươi Tết, vẫn đang làm đúng việc mà ông cố của họ làm trong gian giữa nhà ba gian.
拾貳Những Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì tín ngưỡng này không có sách chuẩn, nên quanh nó có rất nhiều lời khẳng định chắc nịch mà không tra được nguồn. Dưới đây là mấy chỗ hay được hỏi nhất.
Đây là hai phạm trù khác nhau. Việc tưởng nhớ và tri ân người sinh thành là một tập quán đạo đức, được pháp luật Việt Nam nhìn nhận là tín ngưỡng và được UNESCO ghi danh ở hình thức thờ Quốc Tổ.
Không có tài liệu cổ nào đặt ra định lượng cho việc này. Thực tế các vùng làm rất khác nhau: có nơi đốt nhiều, có nơi gần như không đốt, có gia đình theo đạo Phật chủ trương bỏ hẳn.
Kích thước bàn thờ được chọn theo diện tích nhà và theo thước lỗ ban nếu gia chủ muốn, chứ không có nguyên tắc nào nói to thì hơn. Một bàn thờ quá lớn trong phòng nhỏ còn phạm chính điều phong thủy vẫn khuyên tránh là mất cân đối.
Với Phật Giáo, Đạo Giáo và Nho Giáo thì chưa từng có xung khắc. Với Công Giáo, sau huấn thị năm 1939 và các thông cáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam từ năm 1965, việc tôn kính tổ tiên được phép trong khuôn khổ đã nêu.
Cả hai đều đúng, ở những hoàn cảnh khác nhau. Một nén là lối thắp thường nhật; ba nén dùng cho ngày sóc vọng, ngày giỗ và lễ tiết. Ở căn hộ kín, thắp một nén còn là cách giữ an toàn cháy nổ.
Không có quy định chung nào về tần suất. Có nhà thắp mỗi tối, có nhà chỉ thắp ngày sóc vọng và ngày giỗ, có người đi xa cả năm mới về thắp một lần. Điều các cụ thường dặn là giữ bàn thờ sạch sẽ.
問Hỏi Đáp Nhanh
Bàn thờ gia tiên nên đặt hướng nào
Lối tính thông dụng là theo Bát Trạch: lấy năm sinh gia chủ ra cung phi, chia Đông tứ mệnh hợp các hướng Khảm, Ly, Chấn, Tốn, và Tây tứ mệnh hợp các hướng Càn, Khôn, Cấn, Đoài, rồi đặt bàn thờ vào phương tốt của gia chủ. Cần biết rằng có hai phái: một phái chủ trương tọa cát hướng cát, một phái áp lối tọa hung hướng cát cho bàn thờ, nên hai thầy có thể cho hai lời khuyên khác nhau mà không ai sai. Phần ít gây tranh cãi hơn là chọn chỗ: tường vững phía sau, cao ráo, yên tĩnh, không dưới xà ngang, không đối cửa nhà vệ sinh, không dựa tường bếp.
Thắp mấy nén nhang mới đúng
Cả một nén và ba nén đều đúng, tùy dịp. Một nén là lối thắp thường nhật rất quen thuộc và cũng an toàn hơn trong nhà kín. Ba nén dùng cho ngày mùng một, ngày rằm, ngày giỗ và các lễ tiết. Năm nén hay gặp ở lễ lớn và ở đền phủ. Ý nghĩa của ba nén cũng có nhiều lối giải cùng tồn tại: tam tài thiên địa nhân theo Nho gia, tam bảo Phật Pháp Tăng theo nhà Phật, hoặc ba thời quá khứ hiện tại vị lai.
Cách tính ngày giỗ
Ngày giỗ là ngày mất theo âm lịch của người được giỗ, không phải ngày dương lịch và không phải ngày chôn cất. Mỗi năm phải dò lịch để biết ngày âm ấy rơi vào ngày dương nào. Nhiều nhà giữ tục cúng cáo giỗ vào chiều hôm trước, gọi là ngày tiên thường, rồi hôm sau mới làm giỗ chính, gọi là chính kỵ. Với người mất vào những ngày cuối tháng thiếu, cách xử lý khác nhau giữa các nhà, nên hỏi người lớn trong họ.
Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường khác nhau thế nào
Giỗ đầu, chữ cũ là tiểu tường, làm tròn một năm sau ngày mất, khi tang chưa hết. Giỗ hết, chữ cũ là đại tường, làm tròn hai năm; sau lễ này gia đình thường làm lễ bỏ tang, dỡ bàn thờ riêng và rước ảnh hoặc bài vị lên bàn thờ gia tiên chung. Giỗ thường, chữ cũ là cát kỵ, làm từ năm thứ ba trở đi và lặp lại hằng năm. Thời điểm bỏ tang thì các nhà làm không giống nhau, có nơi giữ đúng ba năm, có nơi làm gọn sau bốn mươi chín ngày hoặc một trăm ngày.
Bốc bát hương thế nào
Cách làm khác nhau khá nhiều giữa các vùng và các thầy. Nét chung là: rửa sạch bát mới, nhiều nơi lau bằng rượu gừng; đặt phần cốt bát hương gồm gói thất bảo theo lối tượng trưng và tờ ghi tên tuổi người được thờ; rồi đổ đầy bằng tro rơm nếp đốt sạch, lối quen dùng ở miền Bắc, hoặc bằng cát trắng đãi kỹ, lối quen dùng ở nhiều nơi phía Nam. Người bốc có thể là thầy, là nhà chùa, hoặc chính người lớn tuổi nhất trong nhà, cả ba đều thường gặp.
Bàn thờ gia tiên cần mấy bát hương
Không có con số bắt buộc. Lối bày ba bát, ứng với thần linh ở giữa, gia tiên và bà cô ông mãnh hai bên, phổ biến ở miền Bắc và ở những nhà thờ đầy đủ. Rất nhiều gia đình, xưa cũng như nay, chỉ thờ một bát hương chung, và cách ấy hoàn toàn nằm trong truyền thống. Nhà ở căn hộ nhỏ thường chọn một bát cho gọn.
Nhà chung cư đặt bàn thờ ở đâu
Giới kiến trúc ghi nhận rằng hiện chưa có tiêu chuẩn nào cho không gian thờ trong căn hộ, nên mỗi nhà tự xoay. Các cách đang phổ biến: dành hẳn một phòng nhỏ nếu đủ diện tích; dùng bàn thờ treo tường gắn vào tường chịu lực, tránh vách nhẹ và tránh đúng dầm; hoặc đặt tủ thờ đứng ở góc vững của phòng khách. Nên tránh đối cửa nhà vệ sinh và tránh lối đi lại. Về khói, nhiều nhà dùng nhang không khói hoặc chỉ thắp vào ngày sóc vọng và ngày giỗ; nhiều tòa nhà cấm đốt vàng mã trong căn hộ.
Rút chân nhang và lau dọn bàn thờ vào ngày nào
Việc rút chân nhang thường làm vào dịp cuối năm, và nhiều nhà chọn ngày cúng ông Công ông Táo hai mươi ba tháng Chạp, khi đã tiễn Táo quân. Người ta thường để lại một số lẻ chân nhang trong bát. Điều được nhắc nhiều nhất là không xê dịch bát hương khi lau dọn, vì bát hương một khi đã an vị thì được coi như đã định chỗ. Ngày cụ thể và cách làm khác nhau tùy vùng và tùy nhà.