VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Mẫu Tứ Phủ: Bốn Phủ, Hệ Thần Linh, Hầu Đồng Và Di Sản Của Nhân Loại

道母 · Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tam Phủ Tứ Phủ

Tín ngưỡng bản địa duy nhất của người Việt đặt người Mẹ vào chỗ cao nhất của trời đất, có hệ thần linh riêng, có âm nhạc riêng, có nghi lễ riêng, và đã được nhân loại ghi danh.

Khởi lập
Định hình từ thế kỷ 16
Gốc rễ ở tục thờ nữ thần và Mẫu thần có từ trước đó rất lâu
Vùng phát tích
Đồng bằng Bắc Bộ
Lan ra cả nước và theo người Việt ra nước ngoài
Số tín đồ
Không có phép đếm đáng tin
Nguồn Người thực hành phần lớn cũng đi chùa và thờ tổ tiên, không tự xếp mình vào một mục riêng, các điều tra tôn giáo Việt Nam không tách tín ngưỡng thờ Mẫu thành một mục

Đọc Nhanh Trong Năm Câu

Đạo Mẫu là tín ngưỡng thờ Mẹ của người Việt. Đây là một trong số ít tín ngưỡng lớn ở nước ta không truyền từ đâu tới, mà mọc lên từ chính đất này. Nếu quý vị chỉ có vài phút, năm câu dưới đây là phần cốt.

Một. Đạo Mẫu thờ Mẹ. Không phải một bà mẹ cụ thể, mà là nguyên lý mẹ: cái sinh ra, cái nuôi, cái che chở. Người Việt gọi các vị ấy là Mẫu , nghĩa đen là mẹ. Chỗ này khác căn bản với những đạo lấy một vị cha trên trời làm trung tâm.

Hai. Vũ trụ trong tín ngưỡng này chia làm Tứ Phủ, bốn miền có bốn màu: Thiên Phủ miền trời màu đỏ, Địa Phủ miền đất màu vàng, Thoải Phủ miền sông nước màu trắng, Nhạc Phủ miền rừng núi màu xanh. Bốn màu ấy không phải trang trí; nhìn màu áo là biết đang thỉnh vị nào, thuộc miền nào.

Ba. Nghi lễ tiêu biểu là hầu đồng, còn gọi lên đồng hay hầu bóng. Người ngồi đồng thay lễ phục và điệu múa theo từng vị thánh được thỉnh, gọi là từng giá. Bên cạnh luôn có dàn cung văn hát chầu văn, đàn nguyệt dẫn nhịp.

Bốn. Ngày 1 tháng 12 năm 2016, UNESCO ghi danh Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tên hồ sơ dùng chữ Tam phủ chứ không phải Tứ phủ, và trang này sẽ nói rõ vì sao.

Năm. Đây là tín ngưỡng bị hiểu sai nhiều nhất ở Việt Nam. Nó không phải bói toán, không phải trò diễn, cũng không phải một nhánh của Đạo Giáo Trung Hoa. Nhưng phải nói thẳng: quanh nó có hiện tượng trục lợi và thương mại hóa.

Từ Tục Thờ Nữ Thần Tới Đạo Mẫu

Đạo Mẫu không có ngày khai đạo, không có giáo chủ đứng ra lập, cũng không có bộ kinh gốc. Nó lớn dần lên trong đời sống người Việt qua nhiều thế kỷ, từ chỗ thờ những nữ thần rời rạc cho tới chỗ thành một hệ thống có thứ bậc rõ ràng.

Theo giáo nghĩa

Điều tín ngưỡng này tự nói về mình rất giản dị: Mẹ sinh ra muôn vật, nên thờ Mẹ là thờ cái gốc. Trời có Mẹ trông coi, đất có Mẹ trông coi, sông nước có Mẹ trông coi, rừng núi có Mẹ trông coi. Con người sống giữa bốn miền ấy thì hướng về Mẹ mà cầu bình an, cầu mùa màng, cầu con cái, cầu buôn bán thuận lợi. Trong quan niệm ấy, Mẫu không phải vị thần xa cách ngồi phán xử. Mẫu gần, Mẫu thương, Mẫu ban lộc. Người ta xưng con với Mẫu, tự gọi mình là con nhang đệ tử. Cái tình mẹ con ấy là hạt nhân của toàn bộ tín ngưỡng, và nó giải thích vì sao Đạo Mẫu ấm áp hơn là uy nghiêm.

Theo sử liệu

Giới nghiên cứu văn hóa dân gian, tiêu biểu là công trình của Giáo sư Ngô Đức Thịnh, mô tả quá trình ấy qua ba lớp chồng lên nhau. Lớp thứ nhất là tục thờ nữ thần, có từ rất sớm, thờ các nữ thần gắn với tự nhiên và nghề nông như thần mặt trời, thần lúa, thần nước. Lớp thứ hai là thờ Mẫu thần, khi một số nữ thần được tôn lên hàng Mẫu và gắn với cội nguồn dân tộc. Lớp thứ ba mới là Mẫu Tam phủ và Tứ phủ, tức hệ thống hoàn chỉnh có phân miền, có thứ bậc, có nghi lễ riêng.

Lớp thứ ba định hình muộn hơn cả, thường gắn với sự xuất hiện của Mẫu Liễu Hạnh vào khoảng thế kỷ 16, thời Lê mạt, khi kinh tế hàng hóa phát triển và vai trò người phụ nữ trong buôn bán tăng rõ rệt; có nguồn nói hệ thống hình thành khoảng thế kỷ 15 tới 16. Các mốc này là ước định dựa trên thần tích, sắc phong và văn bia, không phải một ngày tháng chỉ đích danh được.

Có một điểm cần nói cho rõ vì hay bị lẫn. Đạo Mẫu là tín ngưỡng bản địa, không du nhập. Nó không phải bản Việt hóa của Đạo Giáo Trung Hoa, cũng không phải một nhánh Phật Giáo. Cái gốc nữ thần đã có ở đất này từ trước.

Điều đó không có nghĩa nó khép kín. Trong quá trình định hình, Đạo Mẫu có mượn một số yếu tố bên ngoài: quan niệm vũ trụ phân tầng, hình tượng Ngọc Hoàng 玉皇 ngồi trên cùng, một phần thuật ngữ mang hơi hướng Đạo Giáo. Mượn vỏ chứ không đổi ruột. Vị đứng đầu vẫn là Mẹ, chuyện kể vẫn là chuyện người Việt, và ngôn ngữ nghi lễ vẫn là tiếng Việt trong câu hát văn.

Bốn Phủ

Chữ phủ ở đây không có nghĩa là ngôi nhà thờ, dù người ta cũng gọi Phủ Dầy, Phủ Tây Hồ. Trong cách nói Tứ Phủ, phủ là một miền cai quản, như phủ đệ của một vị quan, tức phạm vi quyền hành. Tứ Phủ là bốn miền chia nhau cả vũ trụ: trời, đất, nước, rừng núi.

Thiên Phủ, miền trời, màu đỏ

Thiên Phủ 天府 cai quản miền trời: mây mưa sấm chớp, thời tiết, và cả cái phần vận mệnh mà người ta cho là do trời định. Màu là đỏ. Vị đứng đầu là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, thường được đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh, tuy cách hiểu này không thống nhất khắp nơi.

Địa Phủ, miền đất, màu vàng

Địa Phủ 地府 cai quản miền đất: ruộng đồng, nhà cửa, mồ mả, và cả cõi mà người đã khuất trở về. Màu là vàng. Vị đứng đầu là Mẫu Địa. Chữ Địa Phủ ở đây không mang nghĩa âm ty ghê rợn như trong truyện dân gian Trung Hoa; nó là miền đất người sống đang đứng lên trên.

Thoải Phủ, miền sông nước, màu trắng

Thoải Phủ cai quản miền sông nước: sông, hồ, giếng, biển, mạch nước. Màu là trắng. Vị đứng đầu là Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, quen gọi Mẫu Thoải.

Viết đúng là Thoải, không phải Thủy. Chữ gốc là Thủy , nghĩa là nước, nhưng trong nhà đền người ta đọc chệch thành Thoải, và cách đọc ấy đã thành chuẩn của tín ngưỡng, đi vào văn chầu, tên ban thờ, lời khấn. Viết Thủy Phủ không sai chữ nghĩa, nhưng người nhà đền nghe là biết ngay người ngoài.

Nhạc Phủ, miền rừng núi, màu xanh

Nhạc Phủ 岳府 cai quản miền rừng núi. Chữ nhạc ở đây là núi lớn, không phải âm nhạc. Màu là xanh, xanh lá hoặc xanh lam tùy nơi. Vị đứng đầu là Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Đây là phủ gắn chặt nhất với vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Bốn phủ đối chiếu
PhủMàuMiền cai quảnVị Mẫu đứng đầu
Thiên PhủĐỏTrời, mây mưa, thời tiết, vận mệnhMẫu Đệ Nhất Thượng Thiên
Địa PhủVàngĐất đai, nhà cửa, mùa màng, cõi người khuấtMẫu Địa
Thoải PhủTrắngSông, hồ, biển, mạch nước, mưa nguồnMẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Nhạc PhủXanhRừng núi, cây cối, muông thú, vùng caoMẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Vì sao màu sắc lại quan trọng đến thế? Vì màu là ngôn ngữ. Một vấn hầu kéo dài nhiều giờ, người dự không nghe rõ hết lời văn, nhưng nhìn màu áo là biết ngay vị thánh đang được thỉnh thuộc miền nào.

Sâu hơn, màu làm cái việc mà chữ viết không làm được. Tín ngưỡng này lớn lên trong dân gian, giữa những người phần lớn không đọc chữ Hán. Hệ thống bốn miền vốn trừu tượng được dịch ra thành thứ mắt nhìn thấy được: mảng đỏ là trời, mảng vàng là đất, mảng trắng là nước, mảng xanh là rừng. Đứa trẻ theo mẹ đi lễ chưa biết chữ vẫn học được trật tự vũ trụ ấy bằng mắt. Đó là lý do đổi màu áo trong hầu đồng bị coi là chuyện nghiêm trọng. Các nơi cũng không giống nhau: việc Mẫu nào ứng phủ nào đều có dị bản.

Hệ Thần Linh Tứ Phủ

Đạo Mẫu có một hệ thần linh đông và có thứ bậc chặt. Các nguồn đếm khác nhau: tài liệu ngành văn hóa nói tới khoảng bảy mươi vị, một số công trình nghiên cứu ghi trên năm mươi vị, có trang chuyên môn nói khoảng sáu mươi. Sự vênh nhau ấy là vì mỗi vùng phối thờ thêm những vị bản địa của mình. Cái không đổi là trật tự các hàng.

Thứ bậc từ trên xuống
HàngGồm những aiGhi chú
Ngọc HoàngNgọc Hoàng Thượng Đế 玉皇上帝Cao nhất trên danh nghĩa, không giáng đồng
Tam Tòa Thánh MẫuMẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải PhủTrung tâm thực sự; có nơi thờ thành Tứ Phủ Thánh Mẫu
Ngũ Vị Tôn QuanNăm vị Quan Lớn, từ Đệ Nhất tới Đệ NgũHàng quan, coi việc thi hành
Tứ Phủ Chầu BàCác vị Chầu, thường kể mười hai vịPhần lớn mang gốc tích miền núi
Tứ Phủ Quan HoàngCác Ông Hoàng, thường kể mười vịHầu nhiều nhất là Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười
Tứ Phủ Thánh CôCác Cô, thường kể mười hai vịCô Bơ, Cô Chín, Cô Bé Thượng Ngàn
Tứ Phủ Thánh CậuCác Cậu, thường kể mười vịHàng trẻ nhất, giá hầu tươi vui
Quan Ngũ Hổ và Ông LốtNăm ông Hổ và đôi rắn thầnThờ ở hạ ban dưới gầm ban công đồng

Đọc bảng trên, quý vị sẽ thấy một điều đáng chú ý: Ngọc Hoàng ngồi cao nhất nhưng gần như không có mặt. Ngài không giáng đồng, không có giá hầu. Người ta thỉnh Mẫu, thỉnh Quan, thỉnh Chầu, thỉnh Cô. Đây là dấu vết rõ của việc mượn vỏ mà không đổi ruột. Một điều nữa: càng xuống thấp càng gần người. Hàng Mẫu uy nghiêm, ít giáng; hàng Quan trang trọng; tới hàng Cô hàng Cậu thì giá hầu vui, có múa quạt, có phát lộc, có tiếng cười.

Mẫu Liễu Hạnh là vị được tôn cao nhất. Theo thần tích, Bà là tiên nữ giáng trần ba lần: lần đầu làm Phạm Tiên Nga ở đất Nam Định, lần thứ hai làm Lê Thị Thắng, lần thứ ba ở Thanh Hóa. Bà là người phụ nữ duy nhất trong Tứ Bất Tử, đứng cùng Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương và Chử Đồng Tử. Ba vị kia mang màu sắc dựng nước giữ nước, còn Bà đại diện cho lòng thương và sự chở che. Hồ sơ UNESCO mô tả Bà là tiên nữ xuống trần, có lúc đi tu, được gọi là Mẹ của thế gian.

Đức Thánh Trần, tức Trần Quốc Tuấn, là trường hợp riêng. Ngài là nhân vật lịch sử có thật, mất năm 1300, ba lần cầm quân đánh bại quân Nguyên Mông. Trong dân gian, Ngài có tín ngưỡng Trần Triều riêng, với nghi lễ riêng và đồng thầy riêng, và không thuộc hàng Tứ Phủ. Nhưng hai hệ đi cạnh nhau lâu đời tới mức nhiều đền phủ lập ban Trần Triều bên cạnh ban Tứ Phủ, và câu tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ đặt Ngài với Mẫu Liễu Hạnh thành một cặp Cha Mẹ.

Hầu Đồng Và Nghi Lễ Lên Đồng

Nếu chỉ được xem một thứ để hiểu Đạo Mẫu, thì đó là hầu đồng, còn gọi lên đồng hoặc hầu bóng. Một buổi làm lễ gọi là một vấn hầu. Đây là phần cốt lõi mà UNESCO ghi danh, và cũng là phần bị hiểu sai nhiều nhất.

Xin hình dung. Trong một gian đền, trước ban công đồng đỏ rực đèn nến, một người ngồi xếp bằng trên chiếu, quay lưng về phía ban thờ, mặt hướng ra người dự. Hai bên là hai hầu dâng, góc chiếu là mấy nhạc công ôm đàn. Trong nhiều giờ liền, người ấy sẽ thay hai ba chục bộ lễ phục, mỗi lần thay là một vị thánh khác được thỉnh về.

Những người trong một vấn hầu

Thanh đồng là người ngồi đồng, được cho là làm chỗ cho thánh giáng; người mới trình đồng gọi là tân đồng, người dẫn dắt được người khác gọi là đồng thầy. Hầu dâng là hai người ngồi hai bên chiếu, còn gọi tay quỳnh tay quế, lo thay khăn thay áo và trao đồ. Cung văn là dàn nhạc và hát, tài liệu di sản ghi thông thường ba tới năm người; họ dẫn buổi lễ chứ không đệm nhạc nền. Vòng ngoài là con nhang đệ tử, họ vái và nhận lộc.

Trình tự một vấn hầu

Chuẩn bị: chọn ngày, sắm lễ, xin phép nhà đền, bày mâm lễ theo màu bốn phủ. Thanh đồng tắm gội, thay khăn áo, ra chiếu lễ trình.

Rồi vào các giá. Hầu dâng trùm lên đầu thanh đồng một tấm khăn phủ diện, thường là khăn đỏ. Cung văn hát mời. Khi thanh đồng làm hiệu tay báo vị thánh nào đã về, khăn được lật ra và lễ phục của vị ấy được khoác vào. Có hàng chỉ giáng mà không mở khăn, gọi là trùm khăn, thường là hàng Mẫu, vì Mẫu được coi là quá cao để hiện diện lộ mặt.

Khăn mở rồi thì tới hiến hương, rồi tới múa: Quan Lớn múa kiếm, Chầu Bà múa mồi, các Cô múa quạt, các Cậu múa gậy. Sau múa là ngự, thanh đồng nghe cung văn kể sự tích. Cuối cùng là phát lộc: tiền lẻ, trầu cau, hoa quả ban ra cho người dự. Rồi thanh đồng làm hiệu thánh thăng, và giá tiếp theo bắt đầu. Trật tự chung đi từ trên xuống: Mẫu, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Thánh Cô, Thánh Cậu, khép lại bằng hàng Ngũ Hổ Ông Lốt.

Ba mươi sáu giá đồng, con số ấy có chuẩn không

Người ta hay nói ba mươi sáu giá đồng, và nhiều người hiểu đó là con số bắt buộc. Nghiên cứu về hệ thống giá hầu ghi rõ rằng con số này không tuyệt đối và không thống nhất giữa các nơi: tùy đền, tùy dòng đồng, tùy dịp, một vấn hầu có thể chỉ khoảng hai mươi lăm giá, cũng có thể hơn bốn mươi. Ba mươi sáu là cách nói quen chỉ sự đầy đủ.

Chầu văn và cây đàn nguyệt

Chầu văn, hay hát văn, là linh hồn âm thanh của vấn hầu. Nó vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ tháng 12 năm 2012, sớm hơn ghi danh của UNESCO bốn năm, với Nam Định là địa bàn tiêu biểu.

Nhạc cụ chủ đạo là đàn nguyệt, cây đàn hai dây thùng tròn. Cung văn vừa đàn vừa hát, tiếng đàn nguyệt dẫn nhịp cho cả buổi; cùng với nó là phách, cảnh, trống ban, thanh la. Lời văn phần lớn theo thể lục bát, với các làn điệu cơ bản như Vỉa, Bỉ, Phú, Dọc, Cờn, Xá, Hãm. Cung văn giỏi nhìn động tác thanh đồng mà đổi điệu cho kịp.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ hiểu lầm nặng nhất, nên xin nói thẳng và đủ cả hai phía.

Hầu đồng không phải mê tín dị đoan. Nó là nghi lễ có cấu trúc chặt chẽ: có thứ tự các hàng, có lễ phục quy định theo màu, có bộ động tác riêng cho từng vị, có hệ làn điệu riêng. Cấu trúc ấy được truyền nghề qua nhiều đời, và UNESCO ghi danh chính là ghi danh nó. Hầu đồng cũng không phải một tiết mục biểu diễn: bỏ phần lễ chỉ giữ phần múa thì cái còn lại là trích đoạn nghệ thuật.

Nhưng phải nói thẳng chiều ngược lại. Quanh hầu đồng có hiện tượng trục lợi và thương mại hóa, do chính giới nghiên cứu văn hóa trong nước nêu ra công khai: sửa lời văn tùy tiện, đổi lễ phục không theo lối cũ, và nhất là chi phí, với những vấn hầu được ghi nhận tốn tới hàng trăm triệu đồng. Nghi lễ là thật; việc lợi dụng nghi lễ cũng là thật.

Di Sản Của Nhân Loại

Theo sử liệu

Ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại kỳ họp thứ 11 của Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO, họp ở Addis Ababa, Ethiopia, hồ sơ của Việt Nam được thông qua.

Tên hồ sơ tiếng Việt: Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Tên tiếng Anh: Practices related to the Viet beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms. Danh sách được ghi vào: Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là Danh sách Đại diện, không phải Danh sách Cần bảo vệ khẩn cấp; hai danh sách khác nhau và hay bị nói lẫn.

Câu hỏi nhiều người đặt ra: vì sao hồ sơ dùng chữ Tam phủ mà không dùng Tứ phủ, trong khi thực hành ngày nay rõ ràng là Tứ Phủ?

Lý do nằm ở lịch sử hình thành. Hệ thống ban đầu là ba miền: trời, nước, rừng núi, đúng như tên tiếng Anh Three Realms. Địa Phủ được bổ sung về sau, và các nghiên cứu thường xếp việc mở rộng thành bốn phủ vào thời Lê. Hồ sơ di sản chọn gọi theo lớp gốc, tức cái tên cổ hơn, thay vì gọi theo hình thái muộn. Trong ngôn ngữ nhà đền, Tam phủ và Tứ phủ vẫn được dùng lẫn nhau và không ai coi đó là hai đạo khác nhau.

Ngoài ra, Nghi lễ Chầu văn của người Việt vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ tháng 12 năm 2012, và Lễ hội Phủ Dầy cũng nằm trong danh mục quốc gia.

Việc ghi danh có ý nghĩa gì? Trước hết, nó đổi vị thế. Suốt một thời gian dài, hầu đồng bị nhiều người xếp chung vào diện mê tín và có giai đoạn bị hạn chế. Ghi danh của UNESCO đặt nó vào đúng chỗ của một thực hành văn hóa được nghiên cứu và tôn trọng.

Thứ hai, hồ sơ nêu rõ giá trị mà UNESCO đánh giá cao: di sản này tạo sợi dây tinh thần gắn kết cộng đồng và đề cao lòng khoan dung giữa các dân tộc, các tôn giáo.

Thứ ba, ghi danh không phải chứng chỉ bảo đảm mọi thứ đều tốt. Sáu năm sau, báo chí và giới nghiên cứu đã nêu chính những vấn đề mà sự nổi tiếng mang lại: sân khấu hóa, biến tướng nghi lễ, thương mại hóa. Ghi danh là trách nhiệm gìn giữ, không phải danh hiệu để trưng.

Phủ, Đền Và Điện

Người mới đi lễ hay lúng túng vì cùng một chỗ thờ Mẫu mà nơi gọi phủ, nơi gọi đền, nơi gọi điện. Ba chữ ấy có phân biệt, dù ranh giới không cứng.

Phủ là quần thể lớn, gồm nhiều công trình liên hoàn, thường là trung tâm thờ Mẫu của cả vùng. Đền 殿 là công trình vừa, thờ một hoặc vài vị, do cộng đồng dựng và trông coi. Điện nhỏ hơn, và trong ngôn ngữ nhà đền hay dùng cho nơi thờ do một thanh đồng lập và cai quản. Miếu và am là những dạng nhỏ nhất.

Điện thờ tư gia là điện lập trong nhà riêng, hình thức phổ biến và cũng là chỗ khác nhau nhiều nhất giữa các nơi. Lập điện tại gia là việc hệ trọng, gắn với trách nhiệm hương khói lâu dài, không phải chuyện bày biện cho đẹp nhà.

Bài trí một phủ Mẫu

Lối bài trí phổ biến chia không gian theo chiều sâu và chiều cao: càng vào trong càng cao thì càng thiêng. Ban công đồng là ban chính, bày tượng hoặc tranh cả hệ thần linh Tứ Phủ theo thứ bậc từ trên xuống. Tam Tòa Thánh Mẫu đặt ở chỗ cao và sâu nhất, trong hậu cung, ba pho ba màu đỏ, xanh, trắng. Động Sơn Trang đặt bên trái ban chính, thờ Mẫu Thượng Ngàn cùng chúa Sơn Trang và các cô, làm theo hình hang động. Ban Trần Triều đặt bên phải, thờ Đức Thánh Trần, là ban của hệ khác đặt cạnh chứ không nhập vào Tứ Phủ. Dưới gầm ban công đồng là hạ ban thờ Quan Ngũ Hổ, phía trên xà treo Ông Lốt là đôi rắn thần.

Đó là lối thường gặp ở đồng bằng Bắc Bộ. Các nơi làm khác nhau khá nhiều, nhất là miền Trung và miền Nam.

Phủ Dầy, Nam Định

Trung tâm thờ Mẫu Liễu Hạnh và của cả tín ngưỡng. Ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sắp xếp đơn vị hành chính. Quần thể có trên hai mươi công trình, ba nơi chính là Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu.

Phủ Tây Hồ, Hà Nội

Thờ Mẫu Liễu Hạnh, trên bán đảo nhô ra hồ Tây. Nơi đi lễ đông nhất Hà Nội dịp đầu năm.

Đền Sòng Sơn, Thanh Hóa

Gắn với lần giáng trần thứ ba của Mẫu Liễu Hạnh, một trong những nơi thờ Mẫu lâu đời nhất.

Đền Bắc Lệ, Lạng Sơn

Trung tâm thờ Mẫu Thượng Ngàn ở vùng biên giới phía Bắc, tiêu biểu cho phần Nhạc Phủ.

Đền Bảo Hà, Lào Cai

Thờ Ông Hoàng Bảy, một trong những giá hầu được thỉnh nhiều nhất.

Đền Kiếp Bạc, Hải Dương

Thờ Đức Thánh Trần, nơi diễn ra lễ giỗ Cha tháng tám âm lịch.

Điện Hòn Chén, Huế

Trung tâm thờ Mẫu ở miền Trung, hòa với tục thờ nữ thần Thiên Y A Na gốc Chăm.

Lễ Hội Trong Năm

Nhà đền Tứ Phủ có lịch riêng, tính theo âm lịch, và dày đặc hơn nhiều người tưởng. Gần như tháng nào cũng có ngày tiệc của một vị nào đó. Dưới đây là những dịp lớn nhất.

Các dịp chính trong năm
DịpThời điểm âm lịchNội dung
Lễ Thượng NguyênRằm tháng giêngĐại lễ đầu năm ở khắp các đền phủ, cầu quốc thái dân an, mở đầu một năm lễ bái.
Hầu xông đền, mở phủ đầu nămTháng giêng, tháng haiVấn hầu đầu tiên của năm. Cũng là mùa nhiều người trình đồng mở phủ nhất.
Giỗ Mẹ, hội Phủ DầyMùng 3 tới mùng 8 tháng baGiỗ Mẫu Liễu Hạnh. Hội lớn nhất của tín ngưỡng, tại quần thể Phủ Dầy.
Đại lễ nhập HạTháng tưLễ chuyển mùa, mở đầu mùa hè trong lịch nhà đền.
Đại lễ tán HạTháng bảyLễ khép lại mùa hè, thường đi cùng dịp xá tội vong nhân.
Giỗ ChaNgày 20 tháng támGiỗ Đức Thánh Trần. Trung tâm là đền Kiếp Bạc.
Đại lễ Tất niênTrong tháng chạpLễ tạ cuối năm, tạ ơn một năm đã qua trước khi sang năm mới.

Câu tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ gói cả lịch lễ ấy vào tám chữ. ChaĐức Thánh Trần, tức Trần Quốc Tuấn, mất năm 1300, giỗ ngày 20 tháng tám âm lịch. MẹMẫu Liễu Hạnh, giỗ tháng ba âm lịch, hội Phủ Dầy mở từ mùng 3 tới mùng 8.

Điều đáng chú ý là câu này ghép hai vị thuộc hai hệ khác nhau thành một cặp cha mẹ. Đức Thánh Trần là nhân vật lịch sử, tiêu biểu cho việc giữ nước; Mẫu Liễu Hạnh thuộc về huyền tích, tiêu biểu cho lòng thương và sự chở che. Người Việt đặt hai vị cạnh nhau rồi gọi là Cha là Mẹ, tức lấy khuôn gia đình để hình dung cả thế giới thiêng.

Các ngày tiệc trong nhà đền có sai lệch giữa các nơi, và không phải đền nào cũng làm đủ mọi lễ.

Căn Đồng Số Lính

Theo giáo nghĩa

Trong quan niệm của tín ngưỡng này, có những người sinh ra đã mang căn đồng số lính, nghĩa là căn duyên của họ gắn với nhà Thánh và phận sự của họ là làm lính làm ghế cho nhà Thánh. Chữ ghế ở đây rất đáng chú ý: người có căn được ví như cái ghế để thánh ngự xuống, chứ không phải người có quyền năng.

Tín ngưỡng cũng phân mức nặng nhẹ. Có người căn nhẹ, chỉ cần đội bát hương, năng đi lễ. Có người cần trình đồng mở phủ. Có người được coi là căn rất nặng, phải hầu thường xuyên, thậm chí ra đền ở hẳn. Sau khi mở phủ, người mới gọi là tân đồng, qua một số năm phụng sự mới được coi là thanh đồng, và lâu hơn nữa mới đủ tư cách làm đồng thầy. Số năm cụ thể mỗi nơi nói một khác: có nơi kể ba năm thử lính chín năm thử đồng, có nơi tính khác hẳn.

Những dấu hiệu được cho là của người có căn thường được kể: hay ốm đau kéo dài mà khám không ra bệnh, tính khí thất thường, nhạy cảm khác thường với không khí đền phủ, hay mơ thấy chuyện liên quan tới nhà Thánh, làm ăn trắc trở kéo dài không rõ nguyên do.

Xin nói cho rõ: đây là quan niệm trong nội bộ tín ngưỡng, trang này mô tả chứ không xác nhận cũng không bác bỏ. Những dấu hiệu ấy đều rất thường gặp trong đời sống bất kỳ ai. Người hay ốm nên đi khám; người tinh thần bất ổn kéo dài nên gặp thầy thuốc. Tin hay không tin mình có căn là quyền của mỗi người, nhưng nó không nên thay thế những việc cần làm trước.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ dễ bị lợi dụng nhất trong toàn bộ tín ngưỡng, và cần nói ra bằng giọng bình tĩnh.

Việc phán căn là việc do người phán, không có tiêu chuẩn kiểm chứng được. Đã có ghi nhận về hiện tượng phán căn tùy tiện để đẩy người ta vào việc trình đồng mở phủ, mà mở phủ là việc tốn kém: sắm lễ, sắm khăn áo, thuê cung văn, tạ đền, với những vấn hầu ghi nhận tới hàng trăm triệu đồng. Chính giới nghiên cứu văn hóa và báo chí trong nước đã nêu vấn đề này.

Một người phán căn kèm lời dọa rằng không mở phủ thì sẽ gặp tai họa, đó là dấu hiệu đáng ngờ, vì trong chính tín ngưỡng này nhà Thánh được hình dung là Mẹ thương con chứ không phải thế lực đòi nợ. Một mức phí đưa ra cứng và gấp cũng đáng ngờ. Trang này không khuyên quý vị tin hay không tin mình có căn, chỉ xin nói một điều: không ai có nghĩa vụ vay mượn để làm lễ.

Trong Con Mắt Phong Thủy

Đạo Mẫu và phong thủy là hai hệ khác nhau, không hệ nào cần hệ nào để đứng vững. Nhưng có vài chỗ chúng chạm nhau rất chặt. Mục này nói về những chỗ ấy, và nói luôn đâu là tương ứng thật, đâu là suy diễn về sau.

Hệ màu Tứ Phủ và ngũ hành ngũ phương

Phong thủy chia thế giới thành ngũ hành 五行, mỗi hành một màu, một phương. Đạo Mẫu chia vũ trụ thành bốn phủ, mỗi phủ một màu. Đặt hai bảng cạnh nhau, phần lớn trùng khớp.

Bốn phủ đối chiếu ngũ hành
PhủMàuHành thường được gánPhương
Thiên PhủĐỏHỏaNam
Địa PhủVàngThổTrung ương
Thoải PhủTrắngThủy theo nghĩa, Kim theo màuBắc theo nghĩa, Tây theo màu
Nhạc PhủXanhMộcĐông

Ba phủ khớp gọn: đỏ Hỏa, vàng Thổ, xanh Mộc. Riêng Thoải Phủ lệch. Theo nghĩa thì Thoải là nước, tức hành Thủy, mà Thủy ứng màu đen, phương Bắc; nhưng màu của Thoải Phủ lại là trắng, mà trắng thì ứng hành Kim, phương Tây.

Chỗ lệch ấy là bằng chứng cho một điều: hệ màu Tứ Phủ không sinh ra từ ngũ hành. Nó trắng vì trong cảm quan người Việt, nước nguồn là trong, là trắng, là sự sạch sẽ.

Thế đất của các phủ đền

Dựa núi nhìn sông

Thế thường thấy ở đền phủ vùng trung du và miền núi: lưng tựa núi, mặt hướng ra sông hoặc thung lũng. Đền Bảo Hà bên sông Hồng là ví dụ rõ.

Bên nguồn nước

Đền phủ thuộc Thoải Phủ và nhiều đền Mẫu khác dựng bên sông, bên hồ, bên ngã ba sông. Phủ Tây Hồ nhô ra mặt hồ Tây là ví dụ dễ thấy.

Giữa đồng, gần làng

Các phủ ở đồng bằng như Phủ Dầy không dựa núi, mà nằm giữa đất canh tác, gần khu dân cư, có ao hồ và cây cổ thụ quanh.

Cây và nước trong khuôn viên

Theo phong thủy thì cây giữ khí, nước tụ khí; theo tín ngưỡng thì cây là Nhạc Phủ, nước là Thoải Phủ.

Ban thờ Mẫu trong nhà

Lập điện thờ Mẫu tại gia là việc hệ trọng, dành cho người đã trình đồng hoặc có đồng thầy hướng dẫn. Lối phổ biến là ban Mẫu đặt nơi cao, sạch, yên tĩnh, tránh dưới xà nhà, tránh kề nhà vệ sinh và bếp, lưng ban dựa tường vững. Nếu nhà đã có bàn thờ gia tiên thì hai ban tách riêng, và không đặt Mẫu thấp hơn gia tiên.

Khí và lộc

Phong thủy nói tới khí như dòng chảy vô hình cần dẫn cho tụ mà không tù. Đạo Mẫu ít khi dùng chữ khí; cái nó nói tới là lộc 祿, rất cụ thể và sờ được: nắm tiền lẻ, quả cau, miếng trầu, cành hoa mà thanh đồng ban ra. Cái quan trọng không ở giá trị vật chất mà ở chỗ lộc phải được chia ra: cái gì lưu thông thì sống, cái gì ứ lại thì hỏng.

Chỗ hay hiểu lầm

Xin phân định cho rõ, vì mục này dễ bị đẩy đi quá xa.

Chỗ có cơ sở ngay trong tín ngưỡng. Hệ bốn màu là có thật và cố định, ghi trong lễ phục, đồ lễ, tượng thờ; tương ứng đỏ Hỏa, vàng Thổ, xanh Mộc là chặt và dễ thấy. Việc đền phủ hay dựa núi nhìn sông cũng quan sát được, tuy phần lớn do nơi thờ gắn với miền cai quản của vị thánh chứ không do ai chọn đất theo la bàn.

Chỗ là suy diễn của người đời sau. Việc gán cả bốn phủ vào một bảng ngũ hành cho khít, rồi luận ra người mệnh này nên lễ phủ kia, là chuyện thêm vào về sau, không có trong văn chầu cũng không trong nghi lễ cổ. Hai hệ soi vào nhau thì thấy nhiều điều hay, nhưng không hệ nào là bản dịch của hệ kia.

拾壹Không Phải Là Gì

Đạo Mẫu hay bị xếp nhầm vào chỗ khác. Bốn chỗ nhầm dưới đây là phổ biến nhất.

Không phải Đạo Giáo Trung Hoa

Chỗ nhầm hay gặp nhất, vì hai bên cùng có Ngọc Hoàng và nghi lễ nhiều màu sắc. Nhưng gốc khác hẳn. Đạo Giáo lấy chữ Đạo và phép vô vi làm cốt, có kinh sách, có đạo sĩ, có cung quán, trung tâm là các vị nam thần cùng phép tu luyện trường sinh. Đạo Mẫu lấy Mẹ làm cốt, không kinh gốc, trung tâm là các nữ thần Việt.

Không phải Phật Giáo

Phật Giáo dạy khổ, vô thường, vô ngã, và con đường giải thoát khỏi vòng sinh tử. Đạo Mẫu không đặt vấn đề giải thoát; nó cầu bình an và lộc trong đời này. Tuy vậy hai hệ đứng cạnh nhau rất lâu: nhiều chùa Bắc Bộ có nhà Mẫu phía sau, gọi là lối tiền Phật hậu Mẫu, và nhiều phủ đền cũng có ban Phật.

Không phải thờ cúng tổ tiên

Thờ tổ tiên là thờ người thân đã khuất trong dòng họ mình. Đạo Mẫu thờ các vị thánh chung của cả cộng đồng, không có quan hệ huyết thống với người thờ. Hai việc này song song trong cùng một gia đình, và ban thờ đặt riêng.

Không phải bói toán

Tử vi, bát tự, xem tướng là các môn thuật số có phương pháp tính toán riêng, không cần đền phủ và không cần thánh thần. Đạo Mẫu là tín ngưỡng có nghi lễ, có cộng đồng, có hệ thần linh. Chuyện xem bói ở cửa đền là hoạt động bám theo, không phải nội dung của tín ngưỡng.

Cuối cùng, xin nói một điều mà nhiều người băn khoăn. Người Việt đi lễ cả chùa cả phủ, sáng lễ Phật chiều lễ Mẫu, trong nhà có cả ban gia tiên. Điều đó hoàn toàn bình thường và đã như vậy hàng trăm năm. Đây không phải sự mâu thuẫn, mà là cách người Việt vẫn sống với đời sống tâm linh của mình: mỗi hệ đáp một nhu cầu khác nhau, và không hệ nào đòi độc quyền.

拾貳Những Chỗ Hay Hiểu Lầm

Đạo Mẫu bị hiểu sai nhiều hơn bất kỳ tín ngưỡng nào khác ở Việt Nam, một phần vì nghi lễ của nó nhìn bên ngoài rất lạ mắt, một phần vì đã có giai đoạn nó bị nhìn với con mắt ngờ vực. Dưới đây là những chỗ hay nhầm nhất.

Hầu đồng có phải mê tín không

Hầu đồng là nghi lễ có cấu trúc, có thứ tự các hàng, có lễ phục quy định, có hệ làn điệu riêng, và được UNESCO ghi danh năm 2016. Gọi nó là mê tín là gọi sai tên. Nhưng không phải mọi việc nhân danh hầu đồng đều đúng: hiện tượng trục lợi là có thật.

Có phải ai cũng có căn không

Trong chính quan niệm của tín ngưỡng thì không. Người có căn đồng số lính được coi là số ít, và tín ngưỡng còn phân nhiều mức nặng nhẹ. Nếu gặp người phán rằng gần như ai tới cũng có căn nặng và cần mở phủ gấp, đó là dấu hiệu đáng ngờ ngay trong khuôn khổ của chính tín ngưỡng này.

Cúng nhiều tiền có thiêng hơn không

Trong tín ngưỡng, Mẫu được hình dung là Mẹ thương con, không phải một bên nhận lễ để đổi lấy ân huệ. Lễ vật truyền thống ở cửa Mẫu vốn giản dị: hương, hoa, trầu cau, oản, quả. Việc đua nhau sắm lễ lớn và đốt nhiều vàng mã là hiện tượng về sau, và cũng là chỗ bị lợi dụng nhiều nhất.

Thoải hay Thủy mới đúng

Chữ gốc là Thủy, nghĩa là nước, nhưng cách đọc chuẩn trong tín ngưỡng là Thoải, và đó là cách đã đi vào văn chầu, tên ban thờ, lời khấn. Viết Thoải Phủ, Mẫu Thoải, Cô Bơ Thoải. Viết Thủy không sai chữ nghĩa, nhưng không phải cách nói của nhà đền.

Mẫu Liễu Hạnh là người thật hay là thần

Không có bằng chứng lịch sử xác định Bà là nhân vật có thật; Bà đến với chúng ta qua thần tích và truyền thuyết ba lần giáng trần. Điều chắc chắn về sử liệu là việc thờ Bà đã có từ khoảng thế kỷ 16 và lan rộng khắp nước. Bà là nhân vật của tín ngưỡng, khác với Đức Thánh Trần vốn là nhân vật lịch sử được thần hóa.

Ba mươi sáu giá có bắt buộc không

Không. Nghiên cứu ghi nhận con số này không thống nhất giữa các nơi: một vấn hầu có thể từ khoảng hai mươi lăm tới hơn bốn mươi giá tùy đền, tùy dòng đồng, tùy dịp.

Nơi Của Đạo Này Trên Đất Việt

Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.

Xem bảng chung các nơi tâm linh của cả nước

Hỏi Đáp Nhanh

Đạo Mẫu thờ ai

Đạo Mẫu thờ Mẹ, tức các vị Mẫu cai quản bốn miền của vũ trụ. Trung tâm là Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên coi miền trời, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn coi miền rừng núi, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ coi miền sông nước, nhiều nơi thờ thêm Mẫu Địa coi miền đất. Vị được tôn cao nhất là Mẫu Liễu Hạnh. Dưới hàng Mẫu còn có Ngũ Vị Tôn Quan, các Chầu Bà, các Ông Hoàng, các Thánh Cô, các Thánh Cậu. Các nguồn đếm khác nhau, từ trên năm mươi tới khoảng bảy mươi vị, vì mỗi vùng phối thờ thêm những vị bản địa của mình.

Tứ Phủ gồm những phủ nào

Tứ Phủ là bốn miền cai quản của vũ trụ. Thiên Phủ là miền trời, màu đỏ. Địa Phủ là miền đất, màu vàng. Thoải Phủ là miền sông nước, màu trắng. Nhạc Phủ là miền rừng núi, màu xanh. Bốn màu này không phải trang trí mà là cách nhận biết: nhìn màu lễ phục của thanh đồng trong một vấn hầu là biết ngay vị thánh đang được thỉnh thuộc miền nào. Hệ thống ban đầu chỉ có ba phủ, Địa Phủ được bổ sung về sau, nên hồ sơ di sản của UNESCO vẫn gọi theo tên cổ là Tam phủ.

Hầu đồng là gì

Hầu đồng, còn gọi lên đồng hay hầu bóng, là nghi lễ tiêu biểu nhất của Đạo Mẫu. Một buổi lễ gọi là một vấn hầu. Người thanh đồng ngồi trên chiếu trước ban thờ, lần lượt thỉnh từng vị thánh về, mỗi lần là một giá đồng. Mỗi giá có lễ phục riêng theo màu của phủ, có điệu múa riêng, có làn điệu chầu văn riêng. Hai người hầu dâng lo thay khăn áo, dàn cung văn ba tới năm người hát và đệm đàn nguyệt. Kết mỗi giá là phần phát lộc cho người dự. Đây chính là phần được UNESCO ghi danh năm 2016.

Hầu đồng có bao nhiêu giá

Người ta quen nói ba mươi sáu giá đồng, nhưng nghiên cứu về hệ thống giá hầu ghi rõ con số này không tuyệt đối và không thống nhất giữa các nơi. Tùy đền, tùy dòng đồng, tùy dịp lễ, một vấn hầu có thể chỉ khoảng hai mươi lăm giá, cũng có thể hơn bốn mươi giá. Ba mươi sáu là cách nói quen thuộc chỉ sự đầy đủ, hơn là một quy định phải đếm cho đủ. Mỗi vùng lại phối thêm những vị thánh bản địa của mình, nên số giá càng khác nhau.

Làm sao biết có căn đồng

Trong quan niệm của tín ngưỡng, người có căn đồng số lính là người có căn duyên gắn với nhà Thánh. Những dấu hiệu được cho là có căn thường được kể gồm hay ốm đau kéo dài mà khám không ra bệnh, tính khí thất thường, nhạy cảm khác thường với không khí đền phủ, hay mơ thấy chuyện liên quan tới nhà Thánh. Cần nói rõ đây là quan niệm nội bộ của tín ngưỡng, không có cách kiểm chứng. Những dấu hiệu ấy cũng rất thường gặp trong đời sống bất kỳ ai; người hay ốm nên đi khám trước. Đây cũng là chỗ dễ bị lợi dụng nhất, vì việc phán căn có thể dẫn tới lễ mở phủ tốn kém, có trường hợp ghi nhận tới hàng trăm triệu đồng.

Tháng ba giỗ Mẹ là giỗ ai

Là giỗ Mẫu Liễu Hạnh, vị Thánh Mẫu được tôn cao nhất trong Đạo Mẫu và là người phụ nữ duy nhất trong Tứ Bất Tử của người Việt. Hội Phủ Dầy ở Vụ Bản, Nam Định, mở từ mùng 3 tới mùng 8 tháng ba âm lịch. Vế còn lại của câu là tháng tám giỗ Cha, tức giỗ Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, mất năm 1300, giỗ ngày 20 tháng tám âm lịch, trung tâm là đền Kiếp Bạc. Hai vị thuộc hai hệ khác nhau nhưng được người Việt đặt cạnh nhau thành một cặp Cha Mẹ.

Đạo Mẫu được UNESCO công nhận năm nào

Ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại kỳ họp thứ 11 của Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO họp ở Addis Ababa, Ethiopia. Tên hồ sơ là Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, tiếng Anh là Practices related to the Viet beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms. Di sản được ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, không phải Danh sách Cần bảo vệ khẩn cấp. Trước đó, Nghi lễ Chầu văn của người Việt đã vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ tháng 12 năm 2012.

Thoải Phủ hay Thủy Phủ mới đúng

Cách viết chuẩn trong tín ngưỡng là Thoải Phủ. Chữ gốc đúng là Thủy, nghĩa là nước, nhưng trong nhà đền người ta đọc chệch thành Thoải, và cách đọc ấy đã thành chuẩn, đi vào lời văn chầu, tên ban thờ và lời khấn. Vì vậy viết là Thoải Phủ, Mẫu Thoải, Cô Bơ Thoải. Viết Thủy Phủ không sai về mặt chữ nghĩa, nhưng người trong nhà đền nghe sẽ biết ngay đó là cách nói của người ngoài.

Đọc Tiếp