VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nho Giáo: Lịch Sử, Giáo Nghĩa, Tứ Thư Ngũ Kinh Và Dấu Vết Trong Đời Sống Việt

儒教 · Khổng Giáo, Đạo Nho

Một học thuyết không lập giáo hội, không hứa thiên đường, chỉ bàn cách người ở với người, mà đã định hình bộ máy nhà nước, nếp học hành và tổ chức dòng họ của người Việt suốt gần một nghìn năm.

Khởi lập
Thế kỷ 6 tới 5 trước Công nguyên
Mốc Khổng Tử dạy học ở nước Lỗ. Học thuyết thành thiết chế nhà nước từ đời Hán.
Vùng phát tích
Nước Lỗ, vùng Sơn Đông
Nay là thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc
Số tín đồ
Không có phép đếm đáng tin
Nguồn Phần lớn người chịu ảnh hưởng không tự nhận là tín đồ; Pew Research Center không đưa ra ước tính riêng cho Trung Quốc, xem mục Đếm người theo Nho Giáo trong bài

Đọc Nhanh Trong Năm Câu

Nho Giáo khởi từ một người có thật, Khổng Tử, sinh năm 551 và mất năm 479 trước Công nguyên ở nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, và điều ông bàn không phải thần linh mà là cách người sống với người cho khỏi loạn. Cốt của đạo là năm đức thường hằng gọi là Ngũ Thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trong đó Nhân là lòng người biết coi người khác cũng là người, còn Lễ là cái khuôn giữ cho quan hệ giữa người với người khỏi đổ vỡ. Về việc trị nước, Nho Giáo cho rằng gốc của loạn là danh phận không đúng, nên đưa ra thuyết Chính Danh: vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con. Về việc làm người, đạo lấy Hiếu làm gốc và lấy quân tử làm đích, tức tu sửa chính mình trước rồi mới nói tới sửa người. Từ năm 136 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế đưa Nho học lên làm hệ tư tưởng nhà nước, và từ đó nó thành khuôn của cả nền khoa cử, tới năm 1905 ở Trung Hoa và năm 1919 ở Việt Nam mới dứt.

Vì Nho Giáo không có giáo chủ tự xưng thần, không có kinh cầu nguyện, không hứa một cõi sau khi chết, nên tới nay giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất nó là tôn giáo hay là một học thuyết đạo đức và chính trị. Ở Việt Nam, dấu vết của nó không nằm ở số tín đồ ghi trong giấy tờ mà nằm trong nếp nhà quý vị đang sống: bàn thờ tổ tiên, gia phả, cách xưng hô theo vai vế, chữ hiếu.

Bối Cảnh Xuân Thu Loạn Lạc

Nhà Chu dựng nghiệp trên một trật tự có tôn ti: thiên tử ở trung tâm, chư hầu được phong đất, ai ở bậc nào giữ lễ bậc ấy. Tới thời Xuân Thu, quãng 770 tới 481 trước Công nguyên, trật tự ấy rỗng ruột. Thiên tử nhà Chu còn danh mà mất thực quyền, chư hầu tự trị rồi đánh nhau giành ngôi bá. Tân Bách khoa Thế giới mô tả cả giai đoạn 770 tới 221 trước Công nguyên là thời phân liệt và chiến tranh liên miên, nhưng chính vì các nước tranh nhau mà sinh nhu cầu lớn về người có học, khiến tư tưởng nở rộ: thời Bách Gia Chư Tử.

Đáng chú ý là một học thuyết lấy lễ làm gốc lại ra đời đúng lúc lễ đang tan. Điều này không nghịch lý. Khổng Tử nhìn cảnh bề tôi giết vua, con giết cha, đại phu lấn quyền chư hầu, rồi kết luận gốc của loạn không phải thiếu quân đội hay luật hình, mà là danh phận đã đổ: người ngồi ở vị nào không còn làm đúng việc của vị ấy. Người ta chỉ nhìn thấy cái khuôn khi khuôn đã vỡ. Các phái cùng thời đưa ra lời giải khác hẳn.

Nho gia

Khổng Tử, 551 tới 479 trước Công nguyên. Chữa loạn bằng cách phục hồi lễ và danh phận, lấy đức người cầm quyền làm gốc chứ không lấy hình phạt.

Đạo gia

Gắn với Lão Tử và Trang Tử. Càng can thiệp càng loạn, nên chủ trương thuận lẽ tự nhiên. Nhiều kẻ sĩ đời sau làm quan theo Nho mà lui về sống theo Đạo.

Mặc gia

Mặc Tử, khoảng 470 tới 391 trước Công nguyên. Chủ trương kiêm ái, yêu người không phân thân sơ, chống chiến tranh và lễ nhạc tốn kém. Tàn lụi sau nhà Tần.

Pháp gia

Hàn Phi Tử mất năm 233 và Lý Tư mất năm 208 trước Công nguyên. Bác cách trị bằng đạo đức, chủ trương pháp luật nghiêm và quyền lực tập trung. Nhà Tần dùng phái này.

Danh gia

Bàn danh và thực. Thiên lý thuyết, nhưng để lại đúng vấn đề mà thuyết Chính Danh phải trả lời.

Âm Dương gia

Trâu Diễn, khoảng 305 tới 240 trước Công nguyên. Ghép âm dương với ngũ hành để giải thích tự nhiên và các cuộc đổi ngôi. Đời Hán trộn vào Nho học.

Khổng Tử

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự Trọng Ni, sinh năm 551 trước Công nguyên ở nước Lỗ, nay là Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông. Cha là võ quan cấp thấp, mất sớm, nên ông lớn lên thiếu thốn. Quãng ngoài năm mươi tuổi ông mới ra làm quan nước Lỗ, coi việc công chính năm 503 rồi việc hình án năm 501 trước Công nguyên, nhưng quyền thực nằm trong tay ba họ quyền thần nên cải cách của ông không đi tới đâu.

Khoảng năm 497 trước Công nguyên ông rời nước Lỗ, bắt đầu mười bốn năm chu du liệt quốc, qua Vệ, Tào, Tống, Trịnh, Trần, Thái, Sở, tìm một ông vua chịu dùng mình. Không nước nào dùng. Năm 484 trước Công nguyên, ngoài sáu mươi bảy tuổi, ông về Lỗ, thôi đường làm quan, dành những năm cuối cho việc dạy học và sắp xếp thư tịch cũ, rồi mất năm 479. Nói cho đúng, ông là người thất bại trong chính cái nghề mà ông muốn làm.

Theo giáo nghĩa

Theo truyền thống Nho gia, Khổng Tử có ba nghìn học trò, bảy mươi hai người thông lục nghệ, tức sáu môn lễ, nhạc, bắn, cưỡi, viết, tính. Truyền thống ấy cũng chép rằng chính ông đã san định Kinh ThiKinh Thư, đính lại lễ nhạc, viết lời truyện cho Kinh Dịch, và chép bộ sử Xuân Thu của nước Lỗ, mỗi chữ khen chê là một phán quyết đạo đức. Về mình, ông nói một câu đời sau nhắc mãi: thuật nhi bất tác 述而不作, ta thuật lại chứ không sáng tác, ta tin và ưa cái đạo của người xưa. Đó là lời của người tin rằng mình chỉ truyền lại đạo các thánh vương đời Chu.

Theo sử liệu

Điều khảo được thì dè dặt hơn nhiều. Luận Ngữ, nguồn gần nhất với ông, không do ông viết mà do học trò và học trò của học trò chép lại, hình thành theo nhiều lớp, mãi tới thời Tây Hán mới định hình thành bản hai mươi thiên. Trong đó chỉ khoảng ba mươi môn đồ được nêu đích danh, không phải bảy mươi hai hay ba nghìn. Bản tiểu sử liền mạch xưa nhất về ông nằm trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, viết khoảng bốn trăm năm sau khi ông mất. Việc ông trực tiếp san định Ngũ Kinh thì phần lớn giới nghiên cứu nay không nhận. Khảo cổ gần đây cho thấy thời ấy lưu hành nhiều bản ghi lời ông khác nhau, nên Luận Ngữ có thể chỉ là một tuyển tập.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba điều hay bị hiểu lệch. Thứ nhất, ông không tự nhận lập một đạo mới, chính ông nói mình thuật lại chứ không sáng tác. Thứ hai, ông không phải thần, không tạo ra thế giới, không hứa cứu rỗi ai, và trong Luận Ngữ ông tránh bàn quỷ thần cùng chuyện sau khi chết. Thứ ba, các danh hiệu long trọng gắn với ông đều do đời sau phong, mỗi đời một khác, mãi năm 1530 nhà Minh mới định thành Chí Thánh Tiên Sư, bậc thánh tột bậc và người thầy đời trước. Chữ ấy là chữ thầy, không phải chữ thần.

Dòng Thời Gian Hai Nghìn Rưỡi Năm

Nho Giáo đi qua ba chặng khác hẳn nhau: một học thuyết bị chối bỏ khi người sáng lập còn sống, một hệ tư tưởng nhà nước kéo dài hai nghìn năm, rồi một di sản bị chính hậu duệ phê phán trong thế kỷ hai mươi. Chỗ nào nguồn vênh nhau thì ghi rõ.

  • 551 tới 479 TCNKhổng Tử dạy học
    Làm quan nước Lỗ rồi rời Lỗ khoảng năm 497, mười bốn năm chu du liệt quốc mà không được dùng, về Lỗ năm 484 và dạy học tới khi mất.
  • 371 tới 289 TCNMạnh Tử
    Nối mạch Khổng Tử, chủ trương tính người vốn thiện, chỉ cần nuôi giữ cho khỏi mất. Sau được tôn là Á Thánh.
  • Khoảng 300 tới 237 TCNTuân Tử
    Cũng Nho gia nhưng ngược Mạnh Tử ở gốc: tính người vốn hướng về tư lợi, phải có lễ và thầy uốn nắn mới nên người. Học trò ông có Hàn Phi Tử và Lý Tư.
  • 213 TCNĐốt sách chôn nho
    Theo lời tâu của Lý Tư, Tần Thủy Hoàng cho đốt sử sách các nước cùng sách chư tử, chỉ chừa sách y dược, nông nghiệp và bói toán. Việc chôn nho sinh thì nguồn vênh nhau cả về năm lẫn số người, thường nêu hơn bốn trăm sáu mươi người.
  • 136 TCNHán Vũ Đế độc tôn Nho thuật
    Nho học thành hệ tư tưởng nhà nước. Triều đình đặt chức bác sĩ chuyên giảng Ngũ Kinh; tới năm 124 trước Công nguyên Ngũ Kinh thành chương trình chính của trường thái học và giữ tới đầu thế kỷ hai mươi.
  • Đầu Công nguyên tới thế kỷ 3Nho Giáo vào Việt Nam
    Hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên đem lễ nghĩa vào đất Giao Chỉ; sang thế kỷ thứ ba, Sĩ Nhiếp được đời sau gọi là Học Tổ Nam Bang. Ảnh hưởng còn hẹp, phải tới thế kỷ mười một, nhà Lý, Nho học mới thật sự phát triển.
  • Khoảng 604 tới 617Khoa cử ra đời
    Nhà Tùy bỏ lối tuyển quan cửu phẩm trung chính, giữ lối thi cử; Tùy Dạng Đế đặt thêm khoa tiến sĩ. Nhà Đường hoàn thiện thế kỷ thứ bảy, nhà Tống cải cách năm 1071.
  • 1070 tới 1076Văn Miếu và Quốc Tử Giám
    Năm 1070 vua Lý Thánh Tông lập Văn Miếu thờ Khổng Tử ở Thăng Long. Năm 1075 mở khoa thi đầu tiên dưới triều Lý Nhân Tông. Năm 1076 lập Quốc Tử Giám bên cạnh, trường cao cấp đầu tiên của nước Việt.
  • 1130 tới 1200Tống Nho và Chu Hy
    Chu Hy tổng hợp Nho học bằng cặp phạm trù lý và khí, và tách bốn bộ sách thành một bộ riêng có chú giải của ông, in năm 1190. Đó là Tứ Thư.
  • 1313 tới 1905Tứ Thư làm đề thi
    Từ năm 1313 Tứ Thư thành sách thi chính thức; từ năm 1415 phải hiểu đúng chú giải của Chu Hy mới đỗ. Khoa cử Trung Hoa chấm dứt năm 1905 khi Từ Hy Thái hậu ra chiếu bãi bỏ.
  • 1915 tới 1919Phong trào Tân Văn Hóa
    Giới trí thức Trung Hoa nêu khẩu hiệu đánh đổ nhà họ Khổng, phê phán lễ giáo và Tam Cương như trở lực của canh tân. Đợt sau là phong trào phê Lâm phê Khổng trong Cách mạng Văn hóa.
  • 1919Khoa thi Nho học cuối cùng của Việt Nam
    Vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ khoa cử ngày 28 tháng 12 năm 1918. Khoa thi Hội cuối cùng mở ngày 1 tháng 4 năm 1919, thi Đình ngày 15 tháng 9 năm 1919 tại điện Cần Chánh, lấy bảy tiến sĩ và mười sáu phó bảng. Khoa cử nước Việt khép lại sau 844 năm.

Vòng Văn Hóa Chữ Hán

Nho Giáo lan theo chữ Hán chứ không theo nhà truyền giáo. Nơi nào dùng chữ Hán làm văn tự hành chính thì nơi ấy đọc Tứ Thư Ngũ Kinh: Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, cái gọi là vòng văn hóa chữ Hán. Chỗ phân biệt rõ nhất là khoa cử: nơi nào lấy thi cử theo kinh điển làm cách chọn quan thì Nho Giáo ăn sâu vào bộ máy nhà nước, nơi nào không thì nó dừng ở tầng học thuậtluân lý. Nhật Bản là ca đáng chú ý nhất: theo Tống Nho rất sâu mà chưa bao giờ có khoa cử.

Ở cả bốn nước, Nho Giáo cùng tồn tại với Phật Giáo, Đạo Giáo và tín ngưỡng bản địa chứ không loại trừ nhau. Nguồn: Stanford Encyclopedia of Philosophy, Britannica, chinaknowledge.de, znews.vn, nghiencuulichsu.com.
NướcThời điểm du nhậpMức độ thiết chế hóaDấu vết còn lại hôm nay
Trung HoaBản địa, từ thời Xuân ThuCao nhất. Hệ tư tưởng nhà nước từ năm 136 trước Công nguyên; khoa cử theo kinh điển kéo dài tới năm 1905Khổng miếu ở Khúc Phụ và các tỉnh, lễ tế Khổng, nếp coi trọng học hành, luân lý gia đình
Triều TiênThấm vào xã hội từ khoảng thế kỷ thứ năm; Tống Nho vào cuối thời Cao Ly qua An Hyang, 1243 tới 1306Rất cao. Triều đại Triều Tiên từ năm 1392 tới 1910 lấy Tống Nho làm hệ tư tưởng nhà nước, có khoa cửLễ giỗ tổ tiên chesa còn phổ biến; tranh luận Tứ Đoan Thất Tình của Lý Hoảng vẫn được nghiên cứu
Nhật BảnTống Nho do các thiền tăng đem vào thời trung cổVừa. Học chính thức của Mạc phủ Tokugawa, 1603 tới 1867, nhưng không có khoa cử; tầng lớp cai trị là võ sĩ cha truyền con nốiBa dòng Chu Tử học, Dương Minh học, Cổ học; ảnh hưởng lên đạo đức võ sĩ và quan hệ trên dưới
Việt NamĐầu Công nguyên thời Bắc thuộc; thành hệ thống từ thế kỷ mười một, nhà LýCao. Khoa cử từ năm 1075 tới năm 1919, tổng cộng 844 nămVăn Miếu Quốc Tử Giám và văn miếu địa phương, bia tiến sĩ, thờ cúng tổ tiên, gia phả

Giáo Nghĩa Cốt Lõi

Nho Giáo không có tín điều buộc phải tin, cũng không có nghi thức nhập đạo. Cái nó đưa ra là một bộ khái niệm về quan hệ giữa người với người, kèm một chương trình tu dưỡng chính mình.

Nhân

Chữ Nhân ghép từ bộ người và chữ hai, tức chuyện xảy ra giữa hai người chứ không phải chuyện của một người ngồi một mình. Nghĩa của nó là lòng biết coi người khác cũng là người như mình. Khổng Tử không định nghĩa nhân một lần cho xong; câu gần một quy tắc nhất là điều mình không muốn thì đừng làm cho người.

Lễ

Lễ là chữ bị hiểu sai nhiều nhất. Người nay nghe chữ lễ thì nghĩ ngay tới nghi thức rườm rà, hình thức bề ngoài. Nghĩa gốc rộng hơn nhiều: lễ là cái khuôn ứng xử giữ cho quan hệ người với người khỏi đổ vỡ, gồm nghi lễ tế tự, phép tắc triều đình, lẫn những việc rất nhỏ như cách chào, cách ngồi, cách nói với người trên và người dưới. Khuôn ấy không phải để làm khó nhau, mà để mỗi người biết trước người kia sẽ xử ra sao.

Then chốt là quan hệ giữa lễ và nhân. Lễ không có nhân bên trong thì chỉ còn cái xác, nên Khổng Tử hỏi thẳng: người không có nhân thì làm lễ để làm gì. Ngược lại, nhân mà không có lễ để đi ra ngoài thì chỉ là thiện ý mơ hồ.

Nghĩa, Trí, Tín

Nghĩa là cái đúng nên làm, kể cả khi thiệt cho mình; Nho Giáo đặt nghĩa đối với lợi và lấy chỗ chọn bên nào để đo một người. Trí không phải thông minh chung chung mà là nhìn ra đâu là đức, ai đáng tin, việc gì nên làm lúc này. Tín là nói được làm được; Tống Nho coi tín là nền của bốn đức kia.

Ngũ Thường

Năm đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín hợp lại gọi là Ngũ Thường 五常, tức năm điều thường hằng, thời nào cũng đúng. Bộ năm này không có sẵn trong Luận Ngữ mà do Đổng Trọng Thư, 179 tới 104 trước Công nguyên, đưa ra ở đời Hán, và tới thế kỷ mười mới được Tống Nho nhấn mạnh trở lại.

Tam Cương

Tam Cương 三綱 là ba giềng mối: vua với tôi, cha với con, chồng với vợ. Chữ cương nghĩa đen là dây lớn của cái lưới, cái giữ cho toàn bộ không rã. Đổng Trọng Thư diễn giải ba cặp ấy theo âm dương, bên trên là dương, bên dưới là âm.

Đây là phần bị phê phán nặng nhất thời hiện đại, và nên nói rõ vì sao. Hiểu theo hướng một chiều thì ba giềng mối thành ra buộc bên dưới phục tùng bên trên mà không đặt điều kiện ngược lại, riêng cặp chồng vợ đặt người phụ nữ vào vị trí lệ thuộc suốt đời. Từ phong trào Tân Văn Hóa 1915 tới 1919, giới trí thức Trung Hoa coi lễ giáo và Tam Cương là trở lực của canh tân. Phía bênh vực chỉ ra hai điều: Tam Cương do đời Hán lập chứ không có trong lời Khổng Tử, và trong sách Nho bổn phận vẫn hai chiều.

Chính Danh

Chính Danh 正名 là hạt nhân chính trị của Nho Giáo. Khi Tử Lộ hỏi nếu cầm quyền thì làm gì trước, Khổng Tử đáp: trước hết phải chính lại danh. Rồi ông giải thích thành chuỗi: danh không đúng thì lời không thuận, việc không thành, lễ nhạc không hưng, hình phạt không trúng, dân không biết đặt tay chân vào đâu. Câu gọn nhất: vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con.

Cần đọc câu ấy cho đúng chiều. Nó không nói bề dưới phải nghe bề trên, mà nói mỗi cái danh đều kèm một bó bổn phận, ai mang danh nào thì bị chính danh ấy đòi. Người ngồi ngôi vua mà không làm việc của vua thì không còn thật sự là vua; Mạnh Tử đẩy tới tận cùng: giết kẻ đã mất hết nhân nghĩa thì không gọi là giết vua. Chính Danh vừa giữ trật tự, vừa là cái cớ chất vấn người cầm quyền.

Trung Dung

Trung Dung 中庸 thường bị hiểu thành ba phải hoặc dĩ hòa vi quý, và đó là hiểu sai. Trung là đúng mức, không thái quá không bất cập; dung là thường, là giữ được lâu dài. Vậy trung dung là tìm đúng mức trong từng hoàn cảnh, không phải lấy điểm giữa cơ học. Tập Trung Dung vốn là một thiên trong Kinh Lễ, đời Tống mới tách ra làm một trong Tứ Thư.

Hiếu

Hiếu là chữ gốc trong đạo làm người, ghép hình người già ở trên và đứa con ở dưới đỡ lấy. Với Khổng Tử, hiếu với cha mẹ và kính thuận với anh chị là gốc rễ của một con người, và ông nối lòng trung trong nhà sang lòng trung với nước. Hiếu không dừng ở nuôi dưỡng, vì ông nói nuôi mà không kính thì khác gì nuôi chó ngựa. Đó là lý do bàn thờ tổ tiên trong nhà người Việt là một thiết chế Nho Giáo, dù người thờ không gọi tên như vậy.

Quân tử và tiểu nhân

Quân tử 君子 nguyên nghĩa là con nhà quyền quý, tư cách do dòng dõi mà có. Khổng Tử chuyển hẳn nghĩa: quân tử là người đã tu dưỡng thành, bất kể sinh ra ở đâu. Đó là chỗ ông đi xa nhất so với thời mình. Đối lại là tiểu nhân 小人, người chỉ tính cái lợi trước mắt của riêng mình. Hai hạng phân biệt không bằng chức tước hay tài sản mà bằng chỗ để tâm: quân tử để tâm vào nghĩa, tiểu nhân để tâm vào lợi; quân tử trách mình, tiểu nhân trách người. Đường thành quân tử đi qua học kinh điển, tập lễ và sửa mình hằng ngày, và Nho Giáo cho rằng đường ấy mở cho tất cả.

Nhân

Coi người khác cũng là người. Gốc của bốn đức kia.

Lễ

Cái khuôn giữ quan hệ người với người khỏi đổ vỡ.

Nghĩa

Cái đúng nên làm, kể cả khi thiệt cho mình.

Trí

Nhìn ra đâu là đức, ai đáng tin, việc gì nên làm.

Tín

Lời khớp với việc.

Ngũ Thường

Bộ năm đức trên, do đời Hán gộp lại.

Tam Cương

Ba giềng mối vua tôi, cha con, chồng vợ.

Chính Danh

Mỗi cái danh kèm một bó bổn phận.

Trung Dung

Đúng mức, không thái quá không bất cập.

Hiếu

Nuôi, kính, giữ danh cho cha mẹ, và tế tự.

Quân tử

Người để tâm vào nghĩa; tiểu nhân để tâm vào lợi.

Đối Tượng Thờ Phụng

Nho Giáo không có thần sáng thế, không có thần cai quản số phận, không có vị nào nghe lời cầu xin rồi ban ơn. Cái được thờ trong văn miếu là người: Khổng Tử và những vị nối mạch học của ông. Nghi thức gần với lễ giỗ tổ hơn lễ cầu phúc, và đối tượng thờ sắp theo bốn bậc: thánh, phối, triết, hiền.

Bảng lấy theo Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội và thông lệ chung của văn miếu vùng chữ Hán. Nguồn: quydisan.vn, dsvh.gov.vn, factsanddetails.com, academics.hamilton.edu.
Vị thứGồm những aiVị trí trong văn miếu
Chí Thánh Tiên SưKhổng Tử. Danh hiệu do nhà Minh định năm 1530; nhà Thanh năm 1645 đổi thành Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Tiên SưChính giữa điện Đại Thành
Tứ PhốiNhan Tử tức Nhan Hồi, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử. Mạnh Tử vào thờ từ năm 1084Hai bên Khổng Tử trong điện Đại Thành
Thập Nhị TriếtMười hai vị triết nhân; Chu Hy được nâng lên hàng phối hưởng năm 1712Trong điện Đại Thành, bậc dưới Tứ Phối
Thất Thập Nhị HiềnBảy mươi hai vị hiền, các môn đồ được ghi là thông lục nghệ. Thành hệ thống thờ tự chậm nhất từ năm 720Hai dãy tả vu và hữu vu bên sân
Danh nho bản quốcỞ Văn Miếu Hà Nội có Chu Văn An; nhà Thái Học thờ thêm ba vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh TôngKhu Thái Học phía sau

Điểm rất riêng của Nho Giáo là thờ bài vị chứ không thờ tượng. Bài vị là tấm gỗ dựng đứng, trên viết tên và chức danh người được thờ, thí dụ dòng chữ Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử thần vị. Không hình mặt, không thân người, chỉ có chữ. Việc này không ngẫu nhiên: năm 1530 triều Minh cho dỡ tượng khỏi các văn miếu nhà nước và thay bằng bài vị gỗ, lý do là tạc tượng thì bắt chước lối nhà chùa và lẫn với phép tế tổ tiên.

Hệ quả là bước vào một văn miếu, quý vị thấy khác hẳn một ngôi chùa hay ngôi đền. Cái đặt lên bàn thờ là têndanh phận, đúng thứ mà thuyết Chính Danh coi trọng, chứ không phải hình tướng để chiêm bái. Thực tế không tuyệt đối: miếu do dòng họ Khổng trông coi ở Khúc Phụ vẫn giữ tượng, và ở Việt Nam nhiều nơi có cả bài vị lẫn tượng chân dung sơn son.

Chỗ hay hiểu lầm

Nho Giáo có phải một tôn giáo không. Đây là câu tranh luận thật trong giới nghiên cứu chứ không phải chuyện chữ nghĩa. Phía nói không chỉ ra: đạo này không có thần sáng thế, không kinh cầu nguyện, không hứa cứu rỗi, chính Khổng Tử tránh bàn quỷ thần và chuyện sau khi chết, vậy nó là một truyền thống triết học về đạo đức và chính trị. Phía nói có chỉ ra: nó có Trời làm chỗ quy chiếu tối hậu, có hệ thống tế tự nhà nước kéo dài hai nghìn năm, có miếu, có lễ hai kỳ xuân thu, và có nghi lễ thờ cúng tổ tiên chi phối hàng triệu gia đình tới hôm nay. Ngay tiếng Trung cũng có ba chữ cho ba cách hiểu: Nho gia là trường phái, Nho học là môn học, Nho giáo là tôn giáo. Thêm một dữ kiện: Indonesia công nhận Khổng giáo là một trong sáu tôn giáo chính thức của nước này. Trang này không phán bên nào đúng.

Tứ Thư Ngũ Kinh

Bộ sách nền của Nho Giáo có hai lớp. Ngũ Kinh 五經 là lớp cổ hơn, được nhà Hán lập làm sách nhà nước từ năm 136 trước Công nguyên. Tứ Thư 四書 là lớp sau, do Chu Hy tách riêng ra và in kèm chú giải của ông năm 1190. Người đi học xưa đọc Tứ Thư trước vì ngắn và gần, rồi mới lên Ngũ Kinh vì dài và khó. Chín bộ ấy là toàn bộ chương trình học của kẻ sĩ trong hai nghìn năm.

Truyền thống quy công san định Ngũ Kinh cho Khổng Tử, nhưng giới nghiên cứu nay phần lớn không nhận. Nguồn: Britannica mục Wujing, Sishu và The Five Classics.
BộTên sáchNội dung và vai trò
Tứ ThưĐại HọcSách mỏng nhất, bàn đường tu dưỡng từ sửa mình tới trị nước.
Tứ ThưTrung DungVốn là một thiên trong Kinh Lễ. Bàn các khái niệm trừu tượng nhất, trong đó có đạo Trời.
Tứ ThưLuận NgữGhi lời Khổng Tử và đối đáp với học trò, hai mươi thiên. Nguồn gần nhất với con người ông.
Tứ ThưMạnh TửGhi lời Mạnh Tử: tính người vốn thiện, dân là gốc của nước.
Ngũ KinhKinh DịchTầm nhìn siêu hình. Ghép thuật bói với thuật số và ý nghĩa đạo đức, lấy âm dương chuyển hóa để nói về một vũ trụ động mà thống nhất.
Ngũ KinhKinh ThưTầm nhìn chính trị. Chép lời và việc các vua đời trước, dựng hình mẫu cai trị bằng đức.
Ngũ KinhKinh ThiTầm nhìn thi ca. Tuyển thơ dân gian và cung đình, đề cao tình cảm thường tình của con người mọi tầng lớp.
Ngũ KinhKinh LễTầm nhìn xã hội. Xã hội không phải hệ đối kháng dựng trên khế ước mà là cộng đồng dựa trên lòng tin.
Ngũ KinhKinh Xuân ThuTầm nhìn lịch sử. Biên niên sử nước Lỗ, mỗi chữ khen chê là một phán quyết đạo đức.

Ở Việt Nam, bộ sách này không chỉ để đọc mà là đề thi. Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông tới khoa thi Đình cuối cùng ngày 15 tháng 9 năm 1919 tại điện Cần Chánh ở Huế, suốt 844 năm, con đường gần như duy nhất để một người thường bước vào bộ máy nhà nước là thuộc và luận được Tứ Thư Ngũ Kinh. Theo tư liệu của Văn Miếu Quốc Tử Giám, nền khoa cử ấy để lại 183 khoa thi lớn với 2.898 tiến sĩ và phó bảng. Riêng 82 tấm bia tại Văn Miếu Hà Nội ghi các khoa thi từ năm 1442 tới năm 1779, được UNESCO đưa vào Chương trình Ký ức Thế giới năm 2011; số tiến sĩ khắc trên 82 bia ấy thì các nguồn chênh nhau, hồ sơ của Cục Di sản văn hóa ghi 1.305 người. Chín trăm năm ấy để lại một hệ quả quý vị còn gặp hằng ngày: người Việt vẫn nói học để làm người trước khi nói học để làm nghề.

Tế Lễ Và Nghi Thức

Nho Giáo không có lễ nhập đạo, không có buổi cầu nguyện định kỳ. Nghi lễ của nó nằm ở hai nơi tách hẳn nhau. Một là văn miếu, nơi nhà nước tế Khổng Tử mỗi năm hai kỳ. Hai là trong nhà, nơi mỗi gia đình làm tang, làm giỗ, làm lễ cưới theo một bộ khuôn có sách vở hẳn hoi. Nơi thứ hai thì hầu như người Việt nào cũng đang làm mà không gọi tên nó là Nho Giáo.

Lễ Thích Điện ở văn miếu

Thích Điện 釋奠 nghĩa đen là đặt lễ vật xuống mà dâng. Đây là tên cổ của lễ tế Khổng Tử trong văn miếu nhà nước, giữ nếp xuân thu nhị kỳ, thường chọn ngày đinh. Điểm riêng của lễ này là nó không cầu xin gì, cấu trúc gần với giỗ tổ hơn lễ cầu phúc.

Theo sử liệu

Ở Hàn Quốc, lễ Seokjeon Daeje tại Văn Miếu thuộc Thành Quân Quán kéo dài khoảng hai giờ, có đội múa tám hàng tám người và sáu mươi tư nhạc công. Ở Đài Bắc, lễ mở ngày 28 tháng 9. Tại Hà Nội, Văn Miếu Quốc Tử Giám tổ chức lễ tế Khổng Tử sáng 15 tháng 11 năm 2025, gồm lễ rước văn vào điện Đại Thành rồi nghi thức tế với các bước quán tẩy và dâng hương. Văn Miếu Huế cho thấy lễ tế triều đình tàn lụi ra sao: miếu dựng năm 1808 đời Gia Long, tế hai kỳ xuân thu ngày đinh, tới năm 1888 bỏ hẳn lễ xuân vì thiếu kinh phí, từ đời Thành Thái vua không thân tế mà sai quan thay.

Nghi thức trong nhà

Khuôn mẫu nằm trong các sách gia lễ. Bộ được dùng rộng nhất là Thọ Mai gia lễ của Hồ Sĩ Tân, hiệu Thọ Mai, sống từ 1690 tới 1760, đỗ tiến sĩ năm 1721; sách soạn theo Văn Công gia lễ của Chu Hy nhưng thêm bớt cho hợp tục Việt. Các nghi tiết ấy về sau thành lệ làng, thành thứ ai cũng làm theo mà ít khi hỏi vì sao.

Tang lễ và ngũ phục

Năm hạng tang phục theo mức thân sơ: đại tang cho cha mẹ, ba năm rồi rút còn hai năm ba tháng; cơ niên một năm; đại công chín tháng; tiểu công năm tháng; ty ma ba tháng.

Giỗ đầu và giỗ hết

Giỗ đầu gọi là tiểu tường, giỗ năm thứ hai gọi là đại tường, sau đó làm lễ đàm tế để trừ phục. Ngày giỗ tính theo ngày mất và theo âm lịch.

Ngũ đại mai thần chủ

Lệ cũ chỉ thờ bốn đời trên bàn thờ chính, tới đời thứ năm thì đem chôn tấm thần chủ. Nay lệ này gần như không còn.

Hôn lễ sáu lễ

Nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghinh. Người xưa đã tự tổng kết cổ tuy lục lễ, hậu thế tồn tam; nay còn dạm ngõ, ăn hỏi, cưới và lễ lạy gia tiên.

Tế tổ ở từ đường

Ngày kỵ tổ cả họ, trưởng tộc đứng chủ tế, có văn tế, thứ tự lạy theo vai vế.

Mức thấm có thể đo bằng một câu hỏi giản dị: nhà quý vị có bàn thờ tổ tiên không, và ngày giỗ tính theo lịch nào. Theo nghiên cứu của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, nếu trước kia còn gặp gia đình không có ban thờ thì nay hầu như nhà nào cũng có, dù thần chủ gỗ đã nhường chỗ cho ảnh thờ. Cái khuôn thì mòn dần, còn nếp thì vẫn đứng. Nho Giáo ở Việt Nam sống lâu nhất là trong ngày giỗ.

Các Dòng Trong Nho Học

Nói Nho Giáo như một khối thống nhất là nói sai. Hai nghìn năm ấy có những khúc các nhà nho cãi nhau kịch liệt về chỗ căn bản: nằm ngoài vật hay nằm trong tâm, tính người vốn thiện hay vốn hướng lợi. Sáu dòng dưới đây là cách phân kỳ quen dùng trong giới nghiên cứu, không phải sáu giáo phái có tổ chức riêng.

Cách chia theo thời kỳ và chủ trương, không theo tổ chức. Không dòng nào có nghi thức gia nhập. Nguồn: chinaknowledge.de, Britannica, Stanford Encyclopedia of Philosophy mục Qing Philosophy, Hackett Publishing.
DòngThời kỳNgười tiêu biểuChủ trương riêng
Nho tiên TầnThế kỷ 6 tới thế kỷ 3 trước Công nguyênKhổng Tử, Mạnh Tử, Tuân TửBàn đạo làm người và phép trị nước, chưa dựng siêu hình học. Mạnh Tử nói tính người vốn thiện; Tuân Tử nói tính người vốn hướng tư lợi, phải có lễ và thầy uốn nắn.
Hán NhoThế kỷ 2 trước Công nguyên tới thế kỷ 2Đổng Trọng Thư, 179 tới 104 trước Công nguyênGhép Nho với âm dương ngũ hành. Thuyết thiên nhân cảm ứng: vua nhận mệnh Trời, tai dị là lời cảnh báo khi vua làm sai. Sách chính là Xuân Thu phồn lộ.
Tống Nho, tức Lý họcThế kỷ 11 tới 13Trình Di, Chu Hy, 1130 tới 1200Dựng cặp phạm trù lý và khí thành một vũ trụ luận đầy đủ. Đường tu là cách vật trí tri, xét vật mà nghiệm ra lẽ. Tách Tứ Thư và in chú giải năm 1190.
Tâm họcThế kỷ 15 tới 16Vương Dương Minh, 1472 tới 1529Lý không ở ngoài vật mà ở trong tâm. Hai chữ then chốt là trí lương tri và tri hành hợp nhất. Sách chính là Truyền tập lục.
Thanh Nho khảo chứngThế kỷ 17 tới 18Cố Viêm Vũ, 1613 tới 1682; Đới Chấn, 1723 tới 1777Chê Tống Nho là học suông, quay về khảo chứng văn tự và chế độ, gọi là Hán học đối lại Tống học. Đới Chấn đề cao khí hơn lý, không coi lòng ham muốn của người là thứ phải diệt.
Tân Nho giaThế kỷ 20Mâu Tông Tam, Đường Quân Nghị, Từ Phục Quan, Trương Quân MạiRa bản tuyên ngôn ngày đầu năm 1958, chủ trương nhận khoa học và dân chủ phương Tây mà vẫn giữ mạch học tâm tính.

Chỗ tách nhau rõ nhất là giữa Chu HyVương Dương Minh, xoay quanh hai chữ cách vật 格物. Chu Hy đọc là xét tới cùng từng sự từng vật cho lý hiện ra, nên phải đọc sách nhiều. Vương Dương Minh đọc ngược lại: lý vốn đủ trong tâm, xét ra ngoài là xét nhầm chỗ.

Hệ quả thực tế thì khác nhau xa. Lối Chu Hy hợp với khoa cử, vì có sách để học và có chú giải để chấm, nên được nhà nước chọn làm chuẩn. Lối Vương Dương Minh khó dùng làm đề thi nhưng lan mạnh trong giới sĩ phu và sang cả Nhật Bản. Tới đời Thanh, cả hai bị các nhà khảo chứng phê là bàn suông, và chính công việc tỉ mỉ của họ đã tìm ra không ít chỗ truyền thống gán nhầm cho Khổng Tử.

拾壹Học Thuyết Chính Trị

Câu hỏi trung tâm của chính trị học Nho gia rất gọn: lấy gì giữ được trật tự cho một xã hội đông người. Thời Chiến Quốc có hai câu trả lời đối chọi. Nho gia nói lấy đức, tức giáo hóa và nêu gương, để dân biết xấu hổ mà tự sửa. Pháp gia nói lấy pháp, tức luật rõ và thưởng phạt nghiêm. Lịch sử sau đó không chọn hẳn bên nào.

Từ nhà Hán, hai lối này bện vào nhau. Đời sau tổng kết bằng bốn chữ ngoại Nho nội pháp: bên ngoài lấy lễ nghĩa làm mặt, bên trong vẫn vận hành bằng luật hình. Nguồn: acmuller.net bản dịch Luận Ngữ, china-journal.org mục Law in Imperial China.
Điểm so sánhNho gia, đức trịPháp gia, pháp trị
Giả định về con ngườiCó thể sửa được bằng giáo hóa; biết liêm sỉ là động lực mạnh nhấtTheo lợi tránh hại; chỉ hình phạt mới ngăn được
Công cụ chínhLễ, nhạc, đức của người cầm quyềnPháp là luật, thế là quyền vị, thuật là cách nắm bề tôi
Đòi hỏi ở người cầm quyềnPhải sửa mình trước, phải xứng với cái danh mình mangKhông cần hiền, chỉ cần giữ luật nhất quán
Câu gốc thường dẫnLuận Ngữ thiên Vi Chính: dẫn dân bằng chính lệnh, tề dân bằng hình phạt thì dân tránh tội mà không biết hổ thẹn; dẫn bằng đức, tề bằng lễ thì dân biết hổ thẹn và tự sửaHàn Phi Tử: hình phạt nặng thì kẻ có quyền không dám lấn kẻ dưới; luật áp cho mọi người như nhau

Thuyết chính danh khi áp vào việc trị nước có một chiều người nay hay bỏ sót. Khi Tề Cảnh Công hỏi phép cai trị, Khổng Tử đáp bằng tám chữ: vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Vế thứ nhất đặt trước, và nó là đòi hỏi chứ không phải bảo đảm: cái danh vua chỉ đứng vững khi người mang danh ấy làm đủ bổn phận của nó.

Chỗ nối giữa đạo đức và quyền lực là mệnh trời 天命. Nhà Chu đưa ra ý này để giải thích vì sao mình thay nhà Thương: quyền cai trị do Trời trao, nhưng trao có điều kiện và có thể rút lại; kinh sách nhà Chu nói Trời trông theo mắt dân, Trời nghe theo tai dân. Mạnh Tử nhận ý ấy rồi đẩy tới cùng, xếp thứ tự dứt khoát: dân là quý, xã tắc là thứ, vua là nhẹ. Có người hỏi việc giết vua Trụ có phải giết vua không, ông đáp kẻ hại điều nhân gọi là tặc, kẻ hại điều nghĩa gọi là tàn, người như thế chỉ là một gã thất phu; ta nghe nói giết một gã thất phu tên Trụ, chưa nghe nói giết vua.

Cơ chế đưa học thuyết ấy vào bộ máy là khoa cử. Về nguyên tắc, thi cử mở cho gần như mọi người, trừ vài hạng bị cấm như thân nhân kẻ phản nghịch hay người có án. Đó là thay đổi lớn, vì nó xóa lệ con nhà quyền quý mặc nhiên được bổ làm quan. Nhưng phải nói nốt vế sau: muốn thi phải học, muốn học phải nuôi một người ăn không trong nhiều năm và phải có thầy có sách. Cánh cửa có mở, nhưng bậc thềm rất cao.

拾貳Đếm Người Theo Nho Giáo

Cách trung thực nhất ở mục này là nói trước cái khó. Nho Giáo gần như không đếm được, và lý do không nằm ở kỹ thuật điều tra. Nó nằm ở chỗ phần lớn người chịu ảnh hưởng của Nho Giáo không tự nhận là tín đồ, vì đạo này không có lễ nhập đạo, không có danh sách thành viên, không đòi ai bỏ tín ngưỡng cũ. Một người Việt thờ cúng tổ tiên, giữ lệ giỗ chạp, dạy con chữ hiếu, khi được hỏi theo tôn giáo nào thì thường đáp là không.

Giới nghiên cứu nói thẳng điều đó. Pew Research Center trong báo cáo năm 2023 về Trung Quốc ghi rõ họ không đưa ra ước tính nào về số người theo Nho Giáo, vì nhiều người Trung Quốc không coi đây là tôn giáo.

Bốn dòng trên không cộng lại thành một tổng. Chúng đo ba thứ khác nhau: hộ tịch, tự khai trong điều tra, và một lời từ chối ước tính. Nguồn: databoks.katadata.co.id, insideindonesia.org, factsanddetails.com, pewresearch.org.
NơiCon sốNăm và nguồnCon số ấy đo cái gì
Indonesia71.999 ngườiTháng 5 năm 2022, databoks.katadata.co.idSố khai Khổng giáo trong dữ liệu dân cư. Con số hành chính, không đo niềm tin.
Indonesia954.584 người, khoảng 0,8% dân sốTổng điều tra 1971, insideindonesia.orgSố tự khai khi Khổng giáo còn được công nhận. Sau năm 1979 phần lớn chuyển sang khai đạo khác, nên hai mốc không so sánh trực tiếp được.
Hàn QuốcKhoảng 0,4% dân sốTổng điều tra 2015, dẫn qua factsanddetails.com theo CIA World FactbookSố tự khai Nho Giáo là tôn giáo của mình. Số người thực hành lễ giỗ theo lối Nho lớn hơn rất nhiều lần.
Trung QuốcKhông có ước tínhPew Research Center, 2023Pew tuyên bố không ước tính. Đây là một dữ kiện, không phải chỗ trống.

Trường hợp Indonesia đáng kể riêng, vì đây là nơi hiếm hoi Nho Giáo được nhà nước xếp thành một tôn giáo có tư cách pháp lý. Năm 1965, dưới thời Tổng thống Sukarno, Khổng giáo nằm trong sáu tôn giáo được công nhận. Năm 1979 chính quyền Suharto rút công nhận. Năm 2000, Tổng thống Abdurrahman Wahid ra quyết định số 14 bãi bỏ chỉ thị năm 1967 vốn cấm công khai thực hành tín ngưỡng và phong tục Hoa; tới năm 2006, Khổng giáo được xác nhận trở lại, người theo được cưới theo nghi lễ của mình và ghi tôn giáo ấy lên căn cước.

Hàn Quốc là ca ngược lại. Số người khai theo Nho Giáo rất nhỏ, nhưng lễ giỗ tổ tiên theo lối Nho vẫn là sinh hoạt của phần lớn gia đình. Cần nói thêm chỗ nguồn vênh nhau: báo cáo tự do tôn giáo năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, khi thuật lại tổng điều tra 2015, gộp Nho Giáo vào nhóm khác chiếm 2% trong số người có tôn giáo chứ không tách riêng tỷ lệ. Vậy con số 0,4% nên đọc như một ước lượng, chưa phải con số đã thống nhất. Kết luận thẳng: nếu đếm người tự nhận, Nho Giáo thuộc hàng nhỏ nhất thế giới; nếu đếm người sống theo nếp của nó, con số lên tới hàng trăm triệu và không ai đo được.

拾參Nho Giáo Tại Việt Nam

Nho Giáo vào nước Việt sớm nhưng bén rễ muộn. Nó theo chân bộ máy cai trị phương Bắc, nằm im gần một nghìn năm, rồi chỉ thật sự thành hệ thống khi người Việt tự dựng nhà nước của mình và cần một cách chọn quan. Từ đó nó ở lại thêm chín thế kỷ, đủ lâu để định hình cách người Việt tổ chức gia đình và nghĩ về việc học.

Theo sử liệu

Thời Bắc thuộc, sử chép Tích Quang dạy lễ nghĩa và Nhâm Diên dạy phép cưới hỏi ở Giao Chỉ, tới thế kỷ thứ ba có Sĩ Nhiếp được đời sau tôn là Học Tổ Nam Bang. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng thực tế còn hẹp: quan lại phương Bắc lo giữ quyền cai trị hơn truyền văn hóa, và như Ngô Tất Tố nhận xét, cái học thời ấy chủ yếu là học để giao thiệp với người phương Bắc. Bước ngoặt là nhà : năm 1070 lập Văn Miếu ở Thăng Long, năm 1075 mở khoa thi đầu tiên, năm 1076 lập Quốc Tử Giám. Thời Lê sơ, từ 1428 tới 1527, Nho học lên địa vị độc tôn: hơn một trăm năm tổ chức 29 khoa thi, vua Lê Thánh Tông ban 24 điều giáo huấn, lệ dựng bia tiến sĩ bắt đầu năm 1484. Triều Nguyễn tiếp tục: Văn Miếu Huế dựng năm 1808, Minh Mạng mở trường học xuống cấp phủ huyện năm 1823, ban Mười huấn điều năm 1834, riêng triều này tổ chức 38 khoa thi từ 1822 tới 1919. Khoa thi Đình cuối cùng mở năm 1919, khép lại 844 năm khoa cử.

Ảnh hưởng lớn nhất không nằm ở số khoa thi mà ở chỗ Nho Giáo cấp khuôn tổ chức cho ba thứ cùng lúc. Một là bộ máy quan lại: vào bộ máy qua thi cử chứ không qua dòng dõi, nên chữ nghĩa thành vốn liếng xã hội. Hai là dòng họ: từ đường, gia phả, trưởng tộc, giỗ họ, ruộng hương hỏa. Ba là gia đình: thứ bậc trong nhà, bổn phận con cái, nghi thức tang ma cưới hỏi. Điều cần nhớ là hai thứ sau vẫn chạy nguyên vẹn sau khi thứ nhất biến mất. Khoa cử chấm dứt năm 1919, mà cuốn gia phả thì vẫn được chép tiếp.

Nhà thờ họ và gia phả

Từ đường của dòng họ, ban thờ xếp theo thứ bậc, gia phả chép theo đời. Đây là dấu vết còn sống động nhất.

Bàn thờ gia tiên và ngày giỗ

Gian giữa, bát hương, ngày kỵ theo âm lịch, con trưởng đứng chủ lễ.

Văn miếu địa phương

Ngoài Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội còn Văn Miếu Mao Điền ở Hải Dương, Xích Đằng ở Hưng Yên dựng năm 1832, Văn Thánh Miếu Huế năm 1808, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long năm 1866.

Chữ trong tiếng nói hằng ngày

Tôn sư trọng đạo, học để làm người, tiên học lễ hậu học văn, danh chính ngôn thuận. Nho Giáo đã tan vào ngôn ngữ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm là gán mọi lễ nghi cổ truyền của người Việt cho Nho Giáo. Thực tế có nhiều lớp chồng lên nhau. Về thờ cúng tổ tiên, giới nghiên cứu Việt Nam chưa thống nhất: có ý kiến cho rằng đây là tín ngưỡng bản địa đã có nền từ trước, sinh ra từ chế độ gia đình phụ hệ và nền kinh tế tiểu nông, còn Nho Giáo tới sau thì cấp cho nó bộ lễ thức và cách lý giải bằng chữ hiếu; ý kiến khác nghiêng về hướng du nhập. Đình làng càng không thuần Nho: đình xuất hiện thời Lê sơ, bia sớm nhất còn biết là bia đình Thanh Hà năm 1433, vị được thờ là thành hoàng, có khi là thần núi thần nước, có khi là người có công lập làng. Còn đốt vàng mã không nằm trong sách gia lễ của nhà nho. Nói gọn: cái khuôn thứ bậc và chữ hiếu là của Nho, phần hồn của nhiều lễ tục Việt thì có gốc khác.

拾肆Dấu Vết Trong Phong Thủy Và Đời Sống

Bước vào một ngôi từ đường Việt, quý vị gặp cùng lúc hai hệ. Cách chia gian, thứ tự bài vị, ai đứng chủ tế là Nho Giáo. Chuyện chọn hướng nhà, xem ngày, tìm huyệt đất cho mộ tổ là phong thủy. Hai hệ nằm chung một mái, dùng chung một bộ chữ Hán, nên người ta quen coi là một. Mục này tách chúng ra, và tách xong thì kết luận không có lợi cho nghề xem đất xem hướng.

Kinh Dịch, chỗ nối giữa hai bên

Kinh Dịch nằm trong Ngũ Kinh, đó là sự thật. Nhưng nên nhìn kỹ cấu tạo của nó. Phần cổ nhất là bản văn bói toán gồm sáu mươi tư quẻ, có từ thời Tây Chu. Phần triết lý là mười thiên truyện gọi là Thập Dực, truyền thống gán cho Khổng Tử, nhưng Âu Dương Tu đời Tống đã nghi ngờ và giới nghiên cứu nay bác cách gán ấy. Phong thủy, tử vi, bát tự đều mượn bộ khung âm dương, bát quái, ngũ hành, can chi mà Kinh Dịch làm cho phổ biến. Mượn khung không có nghĩa Nho Giáo dạy các thuật ấy.

Trật tự trong cách bố trí

Chỗ Nho Giáo thật sự chi phối không gian nhà cửa là thứ bậc, không phải khí. Bàn thờ đặt gian giữa, quay ra cửa chính. Trong từ đường, gian giữa dành cho thủy tổ, hai bên xếp theo lối tả chiêu hữu mục 左昭右穆: các đời thứ hai, thứ tư, thứ sáu thờ bên trái là hàng chiêu; các đời thứ ba, thứ năm, thứ bảy thờ bên phải là hàng mục. Lệ này gốc ở chế độ tông miếu chép trong Chu Lễ. Đây là thuyết chính danh biến thành sơ đồ mặt bằng.

Chữ hiếu và đất mộ tổ

Phong thủy chia hai địa hạt: dương trạch là chỗ người sống ở, âm trạch là đất chôn người đã khuất. Quan niệm cũ coi âm trạch như gốc cây còn dương trạch như cành ngọn, nên việc tìm đất cho mộ tổ được đặt rất nặng. Đáng chú ý là lý do người ta nêu ra. Ít ai nói mình muốn đổi vận; câu thường nghe là làm cho ông bà được yên, là đạo hiếu.

Hai cột không loại trừ nhau. Trong một đám tang Việt, cả hai thường cùng có mặt. Nguồn: giaoducthoidai.vn, dangnho.com, blogphongthuy.com.
Việc làmLý do theo Nho GiáoLý do theo phong thủy
Chọn đất chôn cha mẹTáng cho yên để trọn đạo hiếu, tang chế theo ngũ phụcTìm huyệt tụ khí, xét long mạch và thế đất, để phúc ấm về con cháu
Hướng nhà thờ họGian giữa cho tổ, bài vị theo tả chiêu hữu mụcChọn hướng theo tuổi và cung mệnh của trưởng tộc
Vật trên bàn thờBài vị ghi tên và thứ bậc, không thờ tượngThêm vật khí để trấn, để hóa sát

Chữ Nho trong nhà người Việt

Phúc Lộc Thọ

福祿壽. Lộc vốn là bổng lộc của quan, Thọ là sống lâu, cả hai gắn với hai vì sao trong tín ngưỡng Trung Hoa. Ước vọng dân gian, không phải khái niệm trong Tứ Thư.

Đức Lưu Quang

德流光, treo trên hoành phi phía trên bàn thờ. Đức dày thì ảnh hưởng lan rộng, con cháu được hưởng. Đây đúng là ý Nho gia.

Trung Hiếu

忠孝, hai chữ gốc trong đạo làm người, một hướng ra nước, một hướng vào nhà.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ phải nói thẳng, dù bất lợi cho nghề phong thủy. Nho Giáo chính thống không dạy phong thủy. Không có thiên nào trong Tứ Thư Ngũ Kinh chỉ cách tìm long mạch hay chọn hướng nhà. Chính Khổng Tử tránh địa hạt ấy: Luận Ngữ chép ông coi việc kính quỷ thần mà giữ khoảng cách là khôn, chép rằng ông không bàn chuyện quái dị và quỷ thần, và khi ông ốm nặng, Tử Lộ xin cầu đảo thì ông đáp rằng ta đã cầu từ lâu rồi. Tuân Tử dứt khoát hơn: cầu mưa rồi trời mưa thì cũng như không cầu mà mưa. Phong thủy gốc ở nơi khác, ở thuật số và tín ngưỡng bản địa Trung Hoa, lấy khí làm khái niệm trung tâm, sách nền là Táng thư gán cho Quách Phác đời Tấn. Nói cho đủ thì vài nhà Tống Nho, có cả Chu Hy, từng bàn tới việc chọn đất táng. Nhưng kết luận vẫn đứng: phong thủy không thuộc kinh điển Nho Giáo, nó đến từ ngoài rồi hòa vào đời sống của người theo Nho.

拾伍Những Chỗ Hay Hiểu Lầm

Nho Giáo bị hiểu lệch từ hai phía. Một phía tôn nó thành đạo lý toàn bích của phương Đông. Phía kia đổ cho nó mọi hủ tục còn sót lại. Cả hai đều bỏ qua chỗ khó nhất: phải tách điều kinh sách nói khỏi điều xã hội đã làm nhân danh kinh sách.

Nho Giáo có phải tôn giáo không

Chưa thống nhất, và đây là tranh luận thật trong giới nghiên cứu. Ngay tiếng Trung đã có ba chữ cho ba cách hiểu: Nho gia là trường phái, Nho học là môn học, Nho giáo là tôn giáo. Bên nói không dẫn việc thiếu thần sáng thế và thiếu lời hứa cứu rỗi. Bên nói có dẫn hệ tế tự nhà nước hai nghìn năm và việc Indonesia xếp Khổng giáo vào sáu tôn giáo chính thức.

Khổng Tử lập ra Nho Giáo

Không đúng theo nghĩa lập đạo. Chữ nho vốn chỉ lớp người coi việc lễ và dạy học, có trước ông; ông làm cho lớp người ấy thành một dòng tư tưởng đạo đức. Chính ông tự nói thuật nhi bất tác, tức thuật lại chứ không sáng tác. Ngay chữ Confucianism cũng do phương Tây đặt: các giáo sĩ Dòng Tên La tinh hóa Khổng Phu Tử thành Confucius, và báo tiếng Anh ở Trung Hoa ghi nhận chữ ấy năm 1829.

Nho Giáo trọng nam khinh nữ

Cần tách hai vế. Kinh sách gốc bàn rất ít về phụ nữ, Luận Ngữ chỉ có một câu gây tranh cãi kéo dài tới nay. Nhưng thiết chế thì nghiêng hẳn: khoa cử không nhận nữ, việc tế tự do trưởng nam, quyền thừa tự theo dòng nam. Vậy không nên nói kinh sách vô can, cũng không nên gán mọi tập tục cho một câu trong sách.

Tam tòng tứ đức là lời Khổng Tử

Không tìm thấy trong Luận Ngữ. Tam tòng là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, chép trong các sách lễ đời sau. Tứ đức là công, dung, ngôn, hạnh, được Ban Chiêu đời Hán, sống khoảng năm 45 tới 116, hệ thống lại trong Nữ giới soạn quãng năm 80. Các nguồn Việt ngữ nêu xuất xứ không thống nhất.

Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô

Đây là ngạn ngữ lưu truyền trong dân gian, không phải câu trích từ Tứ Thư Ngũ Kinh. Nó gắn với tục nối dõi và quyền thừa tự theo dòng nam, tức là hệ quả của một thiết chế xã hội chứ không phải một điều răn trong kinh điển.

Nho Giáo là nguyên nhân của mọi hủ tục

Gán quá rộng. Đốt vàng mã không có trong sách gia lễ của nhà nho. Xem ngày, xem hướng, cúng sao thuộc thuật số và Đạo Giáo. Lên đồng và thờ Mẫu là tín ngưỡng bản địa. Ngược lại, phần Nho Giáo góp thật thì cũng nên nhận: ma chay linh đình theo lệ ngũ phục và tâm lý trọng nam đều có gốc trong hệ thứ bậc ấy.

Nơi Của Đạo Này Trên Đất Việt

Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.

Xem bảng chung các nơi tâm linh của cả nước

Hỏi Đáp Nhanh

Nho Giáo là gì

Nho Giáo là hệ tư tưởng khởi từ Khổng Tử, sống từ năm 551 tới 479 trước Công nguyên ở nước Lỗ, lấy quan hệ giữa người với người làm trung tâm. Cốt lõi của nó là Ngũ Thường gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cùng thuyết chính danh về danh phận và bổn phận. Đạo này không có thần sáng thế, không có lễ nhập đạo, nên tới nay giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất nó là tôn giáo hay một truyền thống triết học.

Khổng Tử là ai

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự Trọng Ni, sinh năm 551 trước Công nguyên ở nước Lỗ, nay là Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông. Ông làm quan ở Lỗ rồi rời đi khoảng năm 497, trải mười bốn năm chu du các nước mà không được trọng dụng, về Lỗ dạy học tới khi mất năm 479. Chính ông nói mình thuật lại chứ không sáng tác, nghĩa là không tự nhận đã lập ra một đạo mới.

Tứ Thư Ngũ Kinh gồm những sách nào

Tứ Thư gồm Đại Học, Trung Dung, Luận NgữMạnh Tử, do Chu Hy tách riêng và in kèm chú giải năm 1190. Ngũ Kinh gồm Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh LễKinh Xuân Thu, được nhà Hán lập làm sách nhà nước từ năm 136 trước Công nguyên. Chín bộ ấy là toàn bộ chương trình học của kẻ sĩ trong hai nghìn năm.

Nho Giáo có phải tôn giáo không

Chưa thống nhất, và đây là tranh luận thật trong giới nghiên cứu chứ không phải chuyện chữ nghĩa. Bên nói không chỉ ra rằng đạo này không có thần sáng thế, không có kinh cầu nguyện, không hứa cứu rỗi, và chính Khổng Tử tránh bàn quỷ thần. Bên nói có chỉ ra hệ tế tự nhà nước kéo dài hai nghìn năm, có văn miếu, có lễ hai kỳ xuân thu, và việc Indonesia công nhận Khổng giáo là một trong sáu tôn giáo chính thức.

Văn Miếu thờ ai

Chính giữa điện Đại Thành thờ Khổng Tử, hai bên là Tứ Phối gồm Nhan Hồi, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử, dưới nữa là Thập Nhị Triết và Thất Thập Nhị Hiền. Điểm rất riêng là thờ bài vị chứ không thờ tượng: trên tấm gỗ chỉ ghi tên và chức danh người được thờ. Ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội còn thờ Chu Văn An, và khu Thái Học thờ ba vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông.

Tam cương ngũ thường là gì

Tam cương là ba giềng mối gồm vua với tôi, cha với con, chồng với vợ. Ngũ thường là năm đức thường hằng gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Cách hiểu một chiều, tức bề dưới chỉ việc phục tùng bề trên, là chỗ bị phê phán nặng nhất thời hiện đại; còn trong kinh sách gốc thì mỗi cặp đều có bổn phận hai chiều, người trên phải xứng với danh của mình trước.

Nho Giáo có bao nhiêu tín đồ

Gần như không đếm được, vì phần lớn người chịu ảnh hưởng của Nho Giáo không tự nhận là tín đồ. Pew Research Center trong báo cáo năm 2023 ghi rõ họ không đưa ra ước tính nào cho Trung Quốc. Con số kiểm được chỉ có ở vài nơi: Indonesia ghi nhận 71.999 người theo Khổng giáo vào tháng 5 năm 2022, còn tổng điều tra Hàn Quốc năm 2015 cho khoảng 0,4% dân số, tức là số tự khai chứ không phải số người thực hành lễ nghi Nho gia.

Nho Giáo ảnh hưởng gì tới người Việt

Khoa cử theo kinh điển Nho học ở Việt Nam kéo dài 844 năm, từ khoa thi đầu tiên năm 1075 tới khoa thi Đình cuối cùng năm 1919. Dấu vết còn thấy hằng ngày là nhà thờ họ và gia phả, bàn thờ gia tiên và ngày giỗ tính theo âm lịch, tang lễ theo ngũ phục, cùng những câu quen miệng như tôn sư trọng đạo hay tiên học lễ hậu học văn. Cần phân biệt: nhiều lễ tục Việt như thờ thành hoàng ở đình làng hay tục đốt vàng mã có gốc khác, không phải Nho Giáo.

Đọc Tiếp