Từ triền đê sông Hồng nhìn xuống, quý vị thấy trước hết một khối gỗ nâu sẫm nhô lên trên nền tre và ruộng: gác chuông chùa Keo, ba tầng chồng lên nhau, mười hai mái cong hất lên bốn phía, tất cả ghép bằng mộng gỗ mà không có một cây đinh sắt nào. Bên dưới là hồ nước, là sân gạch, là hai dãy hành lang dài chạy song song, và giữa chúng là một trục nhà nối tiếp nhau chìm dần vào trong.
Điều làm chùa Keo khác với phần lớn chùa cổ Bắc Bộ không phải quy mô mà là độ nguyên vẹn. Rất nhiều ngôi chùa mang niên đại xa hơn nhưng bộ khung đã thay nhiều lần. Ở đây, phần lớn cấu kiện gỗ vẫn thuộc lần dựng thời Lê Trung Hưng, hoàn thành năm 1632, nên cả khu chùa gần như một tập hồ sơ nghề mộc thế kỷ 17 còn đứng nguyên tại chỗ.

壹Tiền Phật Hậu Thánh Và Thiền Sư Không Lộ
Chùa Keo không chỉ thờ Phật. Đi hết khu thờ Phật ở phía trước, quý vị còn phải đi tiếp qua một khu nữa ở phía sau, và khu ấy thờ một con người: Thiền sư Không Lộ. Lối bố trí đó gọi là tiền Phật hậu Thánh, tức Phật ở trước, Thánh ở sau.
Trong lối thờ này, khu trước theo đúng nghi thức Phật giáo Bắc tông, có Tam bảo, có hệ tượng Phật. Khu sau thờ một vị được dân tôn là Thánh, thường là một nhà sư có công lớn với dân với nước và sau khi mất được thần hoá. Hai phần không tách rời mà nối nhau trên một trục, người lễ đi từ ngoài vào là đi từ phần đạo sang phần thánh. Đây là dấu của việc Phật giáo Việt Nam đã hoà với tín ngưỡng thờ người có công vốn có sẵn trong làng xã, thay vì giữ riêng một hệ thờ tự thuần túy nhà chùa.
Dương Không Lộ, theo các nguồn công khai, sống trong khoảng năm 1016 tới năm 1094, người vùng Giao Thuỷ, xuất thân nghề chài rồi đi tu. Thần tích chép ông chữa khỏi bệnh cho vua nhà Lý nên được phong Quốc sư; các nguồn ghi không thống nhất là vua nào, nơi ghi Lý Thánh Tông, nơi ghi Lý Nhân Tông, và chúng tôi ghi cả hai thay vì chọn bừa. Năm 1061, ông dựng ngôi chùa ở ven sông Hồng, đặt tên Nghiêm Quang Tự. Tới năm 1167 chùa được đổi tên thành Thần Quang Tự, tên chữ dùng cho tới nay. Ông cũng được nghề đúc đồng ở nhiều làng Bắc Bộ tôn làm tổ nghề.
Chỗ dễ nhầm nhất về nơi này: có hai ngôi chùa Keo, không phải một. Trận lụt lớn của sông Hồng, các nguồn ghi vào khoảng các năm 1588 và 1611, đã vùi ngôi chùa Nghiêm Quang gốc. Dân làng chia làm hai ngả, một nhóm sang bờ tả lập làng Dũng Nhuệ, một nhóm ở lại bờ hữu lập làng Hành Cung, về sau là Hành Thiện. Hai bên đều dựng lại chùa, cùng mang tên Thần Quang Tự và cùng thờ Thiền sư Không Lộ. Người ta phân biệt bằng cách gọi Keo trên là ngôi bên tả, thuộc tỉnh Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên; và Keo dưới hay Keo Hành Thiện là ngôi bên hữu, thuộc tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Bài này viết về ngôi Keo trên, tức chùa Keo Thái Bình cũ. Ngôi Keo Hành Thiện cũng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, theo quyết định năm 2016, và là một di tích riêng.
貳Từ Nghiêm Quang Tới Thần Quang
Lịch sử chùa Keo gồm hai chặng tách hẳn nhau: chặng chùa gốc thời Lý bên bờ sông, và chặng chùa dựng lại thời Lê sau khi chùa gốc mất. Cái quý còn tới hôm nay thuộc chặng thứ hai.
- 1061Dựng chùa Nghiêm QuangThiền sư Dương Không Lộ dựng chùa ở ven sông Hồng, thời Lý. Đây là gốc chung của cả hai ngôi chùa Keo về sau.
- 1167Đổi tên Thần Quang TựChùa mang tên chữ Thần Quang Tự, tên vẫn dùng cho tới nay ở cả hai ngôi Keo.
- 1588 và 1611Nước sông Hồng vùi chùa cũCác đợt vỡ đê và lụt lớn, nguồn ghi vào hai năm này, làm ngôi chùa gốc không còn. Dân chia hai ngả sang hai bờ, mỗi bên lập làng mới.
- 1630Khởi công dựng lạiNgôi chùa Keo bên bờ tả được khởi dựng ở vị trí hiện nay, do dân làng và những người hưng công đứng ra lo liệu.
- 1632Hoàn thànhChùa dựng xong sau hai năm, theo lối nội công ngoại quốc, bộ khung gỗ hoàn toàn ghép mộng. Đây là niên đại của phần lớn cấu kiện còn lại hôm nay.
- 1686Đúc chuông đồng lớnQuả chuông đồng lớn trên gác chuông, các nguồn ghi cao 1,30 mét, đường kính 1 mét.
- 1796Đúc hai chuông nhỏHai quả chuông nhỏ hơn, mỗi quả cao 0,62 mét, đường kính 0,69 mét, treo cùng trên gác chuông.
- 2012Di tích quốc gia đặc biệtQuần thể chùa Keo được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Bộ cánh cửa chạm rồng được công nhận bảo vật quốc gia năm 2017, hương án gỗ thế kỷ 17 được công nhận năm 2021.
參Bộ Khung Gỗ Và Gác Chuông
Chùa dựng theo lối nội công ngoại quốc: các toà chính bên trong xếp thành hình chữ công, hai dãy hành lang dài và các nhà phía sau khép lại thành khung vuông bao quanh. Quy mô các nguồn ghi vênh nhau khá rõ, nên chúng tôi ghi cả các con số thay vì chọn một.
Về quy mô gốc, có nguồn ghi khu chùa xưa rộng hai mươi tám mẫu, tức khoảng 108.000 mét vuông, gồm 21 dãy với 154 gian. Về hiện trạng, các con số ghi khác nhau: một nguồn ghi còn 16 toà, 126 gian, tổng diện tích gần 58.000 mét vuông; một nguồn khác ghi 17 công trình với 128 gian trên khoảng 58.000 mét vuông; nguồn thứ ba ghi 12 toà chính với 102 gian kiến trúc chính trên khoảng 41.500 mét vuông. Chênh lệch đến từ chỗ mỗi nguồn tính khác nhau về phạm vi khuôn viên và về cách đếm toà nhà phụ. Chiều cao gác chuông cũng vậy, nơi ghi tròn 11 mét, nơi ghi 11,04 mét.
Hai lớp cổng nối nhau. Giữa tam quan nội là bộ cánh cửa gỗ chạm rồng, khi khép lại thành bức phù điêu lưỡng long mẫu tử chầu nguyệt, được công nhận bảo vật quốc gia năm 2017.
Gồm chùa ông Hộ, toà thiêu hương và thượng điện nối nhau trên một trục. Đây là phần tiền Phật của bố cục, nơi đặt hệ tượng Phật và hàng trăm đồ thờ thời Lê.
Nằm phía sau khu thờ Phật, gồm giá roi, toà thiêu hương, phụ quốc và thượng điện thờ Thiền sư Không Lộ. Đây là phần hậu Thánh, nơi hành lễ chính trong hai mùa hội.
Toà đứng cuối trục, cao khoảng 11 mét, ba tầng, mười hai mái, dựng trên nền gạch vuông. Toàn bộ khung ghép bằng mộng gỗ, không dùng đinh. Tầng một treo khánh đá cao 1,20 mét; các tầng trên treo quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 và hai quả nhỏ đúc năm 1796.
Hai dãy chạy dọc hai bên sân, nối tam quan với khu sau, khép khuôn viên thành hình chữ quốc và che mưa nắng cho người đi lễ suốt chiều dài khu chùa.
Hương án gỗ thế kỷ 17, kích thước dài 227 phân, rộng 156 phân, cao 153 phân, chạm rồng và hàng trăm bông sen, được công nhận bảo vật quốc gia năm 2021. Trong khuôn viên còn một giếng cổ xếp thành bằng ba mươi sáu cối đá.
Điều đáng dừng lại lâu nhất là cách ghép gỗ. Toàn bộ gác chuông ba tầng, mười hai mái, với hệ đấu củng chồng lên nhau và gần một trăm chi tiết chạm hình đầu voi, được giữ đứng chỉ bằng mộng và chốt gỗ. Không có đinh sắt, không có bản mã kim loại. Kết cấu kiểu ấy chịu được gió bão đồng bằng suốt gần bốn trăm năm vì nó không cứng: các mối mộng cho phép khung nhúc nhích trong giới hạn rồi trở lại, thay vì gãy. Đây là chỗ để thấy nghề mộc cổ truyền của người Việt không chỉ khéo về chạm mà còn chắc về tính toán lực.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa nằm sát bờ tả sông Hồng, trên vùng đất bãi thấp của châu thổ. Trong phép xem đất, đây là thế thuần Thuỷ: không núi, không gò lớn, chỉ có nước và đất bồi. Nước là thứ tụ khí, nhưng nước lớn quá thì lại cuốn khí đi, và lịch sử ngôi chùa gốc bị lụt vùi chính là bằng chứng của mặt thứ hai ấy. Người dựng lại chùa năm 1630 đã phải giải bài toán ngược với thông thường: không phải tìm nước, mà tìm chỗ đủ xa nước.
Cách họ giải đọc được ngay trên mặt bằng. Chùa lùi vào trong đê, lấy con đê sông Hồng làm chỗ chắn ở phía sông. Trong phép cũ, một dải đất cao chạy dài trước mặt nước dữ đóng đúng vai án sơn nhân tạo, tức bức chắn giữ cho khí không bị nước xối thẳng vào. Trước khu chùa lại đào hồ, và hồ ấy làm hai việc cùng lúc: về mặt thực dụng, nó chứa nước khi ngập; về mặt phong thuỷ, nó là minh đường tụ thuỷ, một mặt nước tĩnh đặt ngay trước cửa để khí dừng lại và soi bóng công trình.
Về trục và hướng, cả khu chùa dàn trên một trục dài chạy về phía nam và đông nam, hướng mà chùa chiền Bắc Bộ chuộng nhất vì đón nắng ấm và tránh gió lạnh mùa đông. Trục ấy có một đặc điểm hiếm: nó kết bằng gác chuông chứ không kết bằng nhà thờ tổ. Người đi lễ bước từ tam quan, qua sân, qua khu thờ Phật, sang khu thờ Thánh, rồi tận cùng gặp một toà gỗ ba tầng vươn lên. Đọc theo lối cũ thì đó là bố cục thấp dần vào rồi vút lên ở cuối: khí được dẫn men theo mặt đất suốt chiều dài trục, tới điểm cuối thì có chỗ để bốc lên. Tiếng chuông trên tầng cao ấy phát ra từ đúng điểm kết của trục, toả ngược lại phía mà người vừa đi qua.
Còn một lớp nữa theo ngũ hành. Đất bãi ven sông thuộc Thuỷ và Thổ, hai hành nặng và ẩm. Vật liệu dựng chùa lại gần như thuần Mộc, mà Thuỷ sinh Mộc, Mộc lại hút bớt cái ẩm của Thổ. Trên gác chuông treo chuông đồng và khánh đá, tức Kim và Thổ đặt ở điểm cao nhất, chỗ khô thoáng nhất của cả khu. Đọc như vậy thì cách phân bố vật liệu theo chiều cao ở chùa Keo không nghịch với đất, mà thuận theo nó.
伍Hai Mùa Hội Trong Năm
Chùa Keo có hai mùa hội, một vào đầu xuân và một vào giữa thu, và hai mùa mang hai tính chất khác nhau. Hội xuân gọn, thiên về lễ và trò chơi. Hội thu là hội lớn, gắn với ngày kỵ của Đức Thánh.
| Thời điểm âm lịch | Hội | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 4 tháng Giêng | Hội xuân | Lễ khai chỉ mở cửa đền Thánh, dâng hương, cùng các trò dân gian như thi têm trầu cánh phượng, thi bắt vịt, thi nấu cơm. |
| Trung tuần tháng Chín, thường là ngày 13 tới 15 | Hội thu | Hội lớn nhất trong năm, gắn với ngày kỵ Thiền sư Không Lộ. Có rước kiệu, tế lễ và các nghi thức diễn lại tích Đức Thánh. |
| Trong hội thu | Múa ếch vồ và bơi trải | Diễn xướng nhắc lại gốc nghề chài của Đức Thánh, cùng lệ bơi trải và múa trải cạn trên sân chùa. |
| Trong hội thu | Múa rối và hầu Thánh | Các trò diễn hầu Thánh theo lệ cũ của vùng, giữ phần dân gian trong một khuôn khổ nhà chùa. |
| Rằm và mùng một hằng tháng | Ngày lễ thường | Dân trong vùng tới lễ Phật ở khu trước rồi lễ Thánh ở khu sau, theo đúng thứ tự tiền Phật hậu Thánh. |
Điểm đáng chú ý ở hội chùa Keo là phần diễn xướng gắn với nghề sông nước. Bơi trải, múa trải cạn, múa ếch vồ đều nhắc lại gốc chài lưới của Đức Thánh và của chính vùng đất này. Một ngôi chùa mà hội lớn nhất trong năm lại xoay quanh sông và thuyền, ấy là chỗ để thấy phần hậu Thánh không phải cái đuôi thêm vào, mà là phần sống động nhất trong đời sống tín ngưỡng của làng.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Duy Nhất cũ, huyện Vũ Thư cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Chùa thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư cũ, tỉnh Hưng Yên, nằm sát bờ tả sông Hồng. Từ Hà Nội đi theo hướng thành phố Thái Bình cũ, rồi rẽ về phía đê sông.
- Toạ độ
- 20.4247, 106.3517
Vài lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà trong, lễ Phật ở khu trước rồi mới sang lễ Thánh ở khu sau theo đúng thứ tự. Bộ cánh cửa chạm rồng ở tam quan nội và hương án gỗ là bảo vật quốc gia, xin quý vị không chạm tay, không tựa người. Gác chuông là kết cấu gỗ gần bốn trăm năm, việc lên tầng trên tuỳ lệ từng lúc và xin hỏi người trông coi. Sân gạch và bậc gỗ trơn khi mưa, quý vị đi chậm.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Keo thờ ai
Chùa thờ Phật ở khu phía trước theo lối Phật giáo Bắc tông, và thờ Thiền sư Không Lộ ở khu phía sau. Lối bố trí ấy gọi là tiền Phật hậu Thánh. Thiền sư Dương Không Lộ theo các nguồn sống khoảng năm 1016 tới 1094, được thần tích chép là chữa khỏi bệnh cho vua nhà Lý nên được phong Quốc sư.
Vì sao có hai chùa Keo và bài này viết về ngôi nào
Vì lụt sông Hồng đã vùi ngôi chùa gốc, dân chia hai ngả sang hai bờ và mỗi bên dựng lại một chùa cùng tên Thần Quang Tự. Keo trên thuộc tỉnh Thái Bình cũ, nay là tỉnh Hưng Yên; Keo dưới hay Keo Hành Thiện thuộc tỉnh Nam Định cũ, nay là tỉnh Ninh Bình. Bài này viết về ngôi Keo trên.
Gác chuông chùa Keo có gì đặc biệt
Gác chuông cao khoảng 11 mét, ba tầng và mười hai mái, toàn bộ khung gỗ ghép bằng mộng và chốt, không dùng một cây đinh sắt nào. Trên gác treo khánh đá cao 1,20 mét, quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 và hai quả chuông nhỏ đúc năm 1796. Đây là công trình gỗ tiêu biểu nhất của chùa.
Chùa Keo dựng năm nào và còn nguyên vẹn đến đâu
Ngôi chùa hiện nay khởi công năm 1630 và hoàn thành năm 1632, sau khi chùa gốc thời Lý bị lụt vùi. Phần lớn cấu kiện gỗ vẫn thuộc lần dựng ấy, nên đây được coi là ngôi chùa gỗ thời Lê còn nguyên vẹn bậc nhất nước ta. Quy mô hiện trạng các nguồn ghi vênh nhau, từ 41.500 tới gần 58.000 mét vuông.
Hội chùa Keo mở vào những ngày nào
Hai mùa trong năm. Hội xuân mở mùng bốn tháng Giêng âm lịch, có lễ khai chỉ và các trò dân gian. Hội thu mở vào trung tuần tháng Chín âm lịch, các nguồn thường nêu ba ngày 13, 14 và 15, gắn với ngày kỵ Đức Thánh, có rước kiệu, bơi trải và múa trải cạn.