Từ triền đê sông Hồng nhìn xuống, quý vị thấy trước hết một khối gỗ nâu sẫm nhô lên trên nền tre và đồng ruộng. Đó là gác chuông chùa Keo với ba tầng chồng lên nhau, mười hai mái cong hất lên bốn phía, tất cả ghép bằng mộng gỗ mà không dùng một cây đinh sắt nào. Bên dưới là hồ nước phẳng lặng, là sân gạch rộng, là hai dãy hành lang dài chạy song song, và giữa chúng là một trục nhà nối tiếp nhau chìm dần vào trong.
Điều làm chùa Keo khác với phần lớn chùa cổ Bắc Bộ không chỉ ở quy mô mà ở độ nguyên vẹn. Rất nhiều ngôi chùa mang niên đại xa hơn nhưng bộ khung đã thay đổi qua nhiều lần làm mới. Ở đây, phần lớn cấu kiện gỗ lim vẫn thuộc lần dựng thời Lê Trung Hưng, hoàn thành tháng 11 năm Nhâm Thân (1632), nên cả khu chùa gần như một tập hồ sơ sống về nghề mộc thế kỷ mười bảy còn đứng nguyên tại chỗ.

ITiền Phật hậu Thánh và Thiền sư Không Lộ
Chùa Keo không chỉ thờ Phật. Đi hết khu thờ Phật ở phía trước, quý vị còn đi tiếp qua một khu điện thờ sâu hơn ở phía sau, và khu ấy thờ một nhân vật lịch sử có thật là Thiền sư Dương Không Lộ. Lối bố trí đó gọi là tiền Phật hậu Thánh, tức Phật ở trước, Thánh ở sau.
Trong lối thờ này, khu trước theo đúng nghi thức Phật giáo Bắc tông, có Tam bảo và hệ thống tượng Phật, Bồ Tát, La Hán. Khu sau thờ một vị được dân tôn là Đức Thánh, thường là một bậc cao tăng có công lớn với dân với nước và sau khi viên tịch được thần hóa. Hai phần không tách rời mà nối tiếp nhau trên một trục dọc, người đi lễ bước từ ngoài vào là đi từ không gian Phật đạo sang không gian Thánh từ. Đây là dấu ấn tiêu biểu của Phật giáo cổ truyền vùng châu thổ Bắc Bộ khi dung hợp với tín ngưỡng thờ danh nhân và thần thành hoàng trong làng xã.
Dương Không Lộ, theo các nguồn tư liệu và thần tích, sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thân (1016) và viên tịch ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất (1094), quê ở vùng Hải Thanh (Giao Thủy), xuất thân nghề chài lưới rồi xuất gia tu Phật cùng các bậc cao tăng thời Lý như Giác Hải, Từ Đạo Hạnh. Thần tích chép ngài từng chữa khỏi bệnh lạ cho vua nhà Lý nên được phong làm Quốc sư, các nguồn ghi không thống nhất là vua Lý Thánh Tông hay vua Lý Nhân Tông nên thư viện ghi nhận cả hai để quý vị đối chiếu. Năm 1061, ngài dựng chùa Nghiêm Quang ở hương Giao Thủy ven sông Hồng. Tới năm 1167, vua Lý Anh Tông ban sắc đổi tên chùa thành Thần Quang Tự, tên chữ dùng cho tới ngày nay. Ngài cũng được nhân dân nhiều làng nghề đúc đồng ở Bắc Bộ suy tôn làm Tổ nghề đúc đồng.
Chỗ dễ nhầm nhất về địa danh này là có hai ngôi chùa Keo cùng gốc chứ không phải một. Trận đại hồng thủy của sông Hồng năm Tân Hợi (1611) đã làm sạt lở và cuốn trôi ngôi chùa cổ ở hương Giao Thủy. Dân làng Keo (Giao Thủy) chia làm hai ngả di cư, một bộ phận sang bờ tả sông Hồng lập làng Dũng Nhuệ (huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ, nay là xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên), một bộ phận ở lại bờ hữu lập làng Hành Cung (về sau đổi là làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Cả hai làng mới đều dựng lại chùa, cùng lấy tên chữ là Thần Quang Tự và cùng thờ Phật cùng Thiền sư Không Lộ. Dân gian phân biệt bằng cách gọi chùa Keo trên là ngôi bên tả ngạn (tỉnh Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên), và chùa Keo dưới hay chùa Keo Hành Thiện là ngôi bên hữu ngạn (nay thuộc tỉnh Ninh Bình, được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016). Bài viết này khảo cứu về ngôi chùa Keo trên.
IITừ Nghiêm Quang tới Thần Quang
Lịch sử chùa Keo gồm hai chặng rõ rệt, chặng đầu là ngôi chùa gốc thời Lý ở hương Giao Thủy ven sông Hồng, và chặng thứ hai là ngôi đại danh lam thời Lê Trung Hưng dựng lại trên đất Dũng Nhuệ sau khi chùa gốc bị nước lũ cuốn trôi. Quần thể kiến trúc gỗ quý giá còn lại tới hôm nay thuộc chặng thứ hai này.
- 1061Dựng chùa Nghiêm QuangThiền sư Dương Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại hương Giao Thủy ven sông Hồng dưới triều Lý Thánh Tông. Đây là gốc chung của cả hai ngôi chùa Keo về sau.
- 1167Đổi tên Thần Quang TựĐời vua Lý Anh Tông, chùa được sắc phong đổi tên thành Thần Quang Tự, tên chữ vẫn giữ cho tới nay ở cả hai ngôi chùa Keo.
- 1611Lụt lớn sông Hồng cuốn chùa cổTrận lụt lớn năm Tân Hợi (1611, một số nguồn nhắc cả đợt lụt năm 1588) làm vỡ đê sông Hồng, cuốn trôi ngôi chùa cổ. Cư dân làng Keo chia làm hai nhánh sang bờ tả (lập làng Dũng Nhuệ) và bờ hữu (lập làng Hành Thiện).
- 1630Khởi công dựng lại chùa KeoSau 19 năm chuẩn bị gỗ đá (1611 tới 1630), Tuấn Thọ hầu Hoàng Nhân Dũng cùng phu nhân là bà Lại Thị Ngọc Lễ (cháu nội chúa Trịnh Tráng) vận động chúa Trịnh cúng 100 cây gỗ lim, giao cho Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ chỉ huy thiết kế cùng 42 hiệp thợ mộc khởi công vào tháng 7 âm lịch năm Canh Ngọ (1630).
- 1632Hoàn thành đại công trình sau 28 thángTháng 11 âm lịch năm Nhâm Thân (1632), quần thể chùa Keo hoàn thành sau 28 tháng thi công theo lối nội Công ngoại Quốc, bộ khung gỗ lim hoàn toàn ghép mộng. Về sau chùa trải qua các đợt tu bổ vào các năm 1689, 1707, 1941, 1957 và 2004.
- 1686 và 1796Đúc hệ thống đại hồng chungQuả chuông đồng lớn ở tầng một gác chuông được đúc năm 1686 thời Lê Hy Tông (cao 1,30 mét, đường kính 1 mét), hai quả chuông ở tầng hai và tầng ba được đúc năm 1796 thời Tây Sơn (cao 0,62 mét, đường kính 0,69 mét).
- 1962 và 2012Di tích quốc gia đặc biệtChùa được xếp hạng Di tích cấp quốc gia tháng 4 năm 1962, và được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2012.
- 2017 và 2021Di sản lễ hội và hai Bảo vật quốc giaTháng 10 năm 2017, Lễ hội chùa Keo được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cùng năm 2017, bộ cánh cửa chạm rồng ở Tam quan nội được công nhận là Bảo vật quốc gia, tiếp đó năm 2021 chiếc hương án gỗ thế kỷ 17 tại tòa Ống muống được công nhận là Bảo vật quốc gia thứ hai của chùa.
IIIBộ khung gỗ và gác chuông
Chùa dựng theo bố cục nội Công ngoại Quốc, trong đó cụm điện thờ Phật và cụm đền thờ Thánh nối tiếp nhau trên trục chính Bắc - Nam, bao quanh bởi hai dãy hành lang Đông - Tây dài hun hút khép thành khung chữ Quốc bên ngoài. Quy mô tổng thể và số gian hiện còn được các nguồn thống kê có độ chênh nhẹ, thư viện ghi rõ các con số để quý vị tiện tra cứu.
Theo văn bia và sử liệu, khi mới hoàn thành năm 1632, khu chùa rộng khoảng 28 mẫu Bắc Bộ (tức khoảng 108.000 mét vuông), gồm 21 công trình với 154 gian (có nguồn ghi 157 gian). Trải qua gần bốn thế kỷ với mưa bão, hiện trạng khu di tích có diện tích khoảng 58.000 mét vuông (riêng khu nội tự khoảng 41.500 mét vuông). Về số lượng công trình hiện tồn, các tài liệu chuyên ngành ghi nhận 17 công trình với 128 gian (một số bài báo tính 16 công trình với 126 gian, hoặc tính riêng 12 tòa kiến trúc chính trên trục dọc với 102 gian). Chiều cao gác chuông cũng được ghi là 11,04 mét (thường làm tròn là 11 mét).
Hai lớp cổng mở đầu trục thần đạo. Tại gian giữa Tam quan nội có bộ cánh cửa gỗ lim chạm rồng (cao 2,2 mét, rộng 1,3 mét, dày 7 phân), khi khép lại tạo thành bức phù điêu lưỡng long mẫu tử chầu nguyệt tuyệt mỹ. Bản gốc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (tại chùa lắp bản phục chế nguyên mẫu) và đã được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2017.
Nằm phía trước theo trục dọc, gồm ba tòa nối nhau thành hình chữ Công là Chùa Ông Hộ (Tiền đường), tòa Ống muống (Thiêu hương) và tòa Tam bảo (Thượng điện Phật), nơi bài trí hệ thống tượng Phật, Bồ Tát, Thập Bát La Hán, Tuyết Sơn, Thập Điện Diêm Vương cùng hàng trăm đồ thờ thời Lê.
Nằm phía sau khu thờ Phật, gồm bốn tòa kiến trúc nối nhau là tòa Giá Roi, tòa Thiêu hương, tòa Phụ Quốc và Thượng điện (Cung cấm) đặt tượng thờ Đức Thánh Dương Không Lộ tạc bằng gỗ trầm hương. Hai bên còn có nhà khách, tăng xá và khu nhà tổ.
Đứng ở điểm cuối trục dọc, cao 11,04 mét trên nền đá tảng và gạch vuông vức, gồm ba tầng với mười hai mái đao cong vút được nâng đỡ bởi bộ khung gỗ lim và hệ thống 124 bộ đấu củng (con sơn) ghép hoàn toàn bằng mộng gỗ không dùng đinh sắt. Tầng một treo chiếc khánh đá cổ cao 1,20 mét (rộng 1,67 mét), tầng một treo đại hồng chung đúc năm 1686, tầng hai và tầng ba treo hai quả chuông đúc năm 1796.
Hai dãy hành lang dài hàng chục gian chạy dọc hai sườn Đông và Tây, nối từ ngang Tam quan nội tới tận khu vực Gác chuông phía sau, khép toàn bộ nội tự thành hình chữ Quốc và làm nơi nghỉ chân, chuẩn bị đồ tế lễ trong mùa hội.
Đặt tại tòa Ống muống là chiếc hương án gỗ thế kỷ 17 (dài 227 phân, rộng 156 phân, cao 153 phân, công nhận Bảo vật quốc gia năm 2021), chạm kiểu chân quỳ dạ cá với hơn một nghìn họa tiết rồng chầu, mây lửa và 555 bông sen, đặc biệt có hệ thống bánh xe ẩn dưới chân đế để di chuyển nhẹ nhàng. Phía đông gác chuông còn có giếng nước cổ xếp thành bằng 33 hoặc 36 chiếc cối đá thủng của dân làng.
Đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc của chùa Keo nằm ở kỹ thuật ghép mộng gỗ và hệ đấu củng. Toàn bộ gác chuông ba tầng mười hai mái cùng gần một trăm bảy mươi chi tiết chạm đầu voi, đao rồng đều liên kết với nhau thuần túy bằng mộng và chốt gỗ lim, không dùng một chiếc đinh sắt hay bản mã kim loại nào. Kết cấu đàn hồi ấy giúp tòa tháp gỗ đứng vững trước gió bão vùng châu thổ ven biển suốt gần bốn thế kỷ vì các khớp mộng cho phép bộ khung hơi nhún và tự cân bằng khi chịu lực gió lớn thay vì gãy cứng.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa nằm sát bờ tả sông Hồng, trên vùng đất bãi bồi của châu thổ. Trong phép xem đất, đây là thế thuần Thủy, không có núi cao, không có gò đá, chỉ có sông lớn và đất phù sa. Nước vốn là yếu tố dẫn khí và tụ khí, nhưng nước sông Hồng mùa lũ lại quá mạnh, và biến cố ngôi chùa cổ năm 1611 bị lũ cuốn trôi chính là hệ quả trực tiếp của thủy xung. Những người chọn đất dựng lại chùa năm 1630 tại làng Dũng Nhuệ đã phải giải bài toán giữ lấy mạch thủy của sông cái mà tránh được sức tàn phá của dòng nước xiết.
Cách hóa giải thể hiện ngay trên mặt bằng tổng thể. Khu chùa lùi vào phía trong đê, lấy triền đê sông Hồng làm bức thành che chắn phía trước. Trong phép xem đất, dải đê cao chạy dài đóng vai trò tiền án nhân tạo, ngăn không cho thủy khí hung hãn xói thẳng vào nội tự. Ngay trước Tam quan ngoại và sau Gác chuông, người xưa cho đào ba hồ nước lớn vừa để lấy đất tôn nền chùa, vừa tạo minh đường tụ thủy. Mặt hồ phẳng lặng giữ cho khí trường lắng xuống, soi bóng Tam quan và điều hòa độ ẩm cho toàn bộ quần thể gỗ lim bên trong.
Về trục và hướng, toàn bộ 17 công trình trải dài trên một trục Bắc - Nam chếch Đông Nam, hướng về phía sông Hồng để đón gió mát mùa hạ và tránh gió bấc mùa đông. Trục kiến trúc ấy có một điểm rất khác thường là kết thúc bằng Gác chuông cao vút ở cuối trục thay vì đặt gác chuông ở phía trước như nhiều ngôi chùa khác. Khách hành hương đi từ Tam quan ngoại, qua Tam quan nội, qua khu thờ Phật rồi tới khu thờ Thánh toàn là những nếp nhà một tầng mái thấp trầm mặc, để rồi ở điểm tận cùng của trục thần đạo, Gác chuông ba tầng mười hai mái đột ngột vươn cao hơn 11 mét lên bầu trời. Đọc theo phong thủy cổ truyền, đó là thế tiền thấp hậu cao, kết huyệt vươn đỉnh, dẫn khí đi là là qua các lớp điện thờ rồi tụ lại và bốc vọt lên ở tòa lầu chuông cuối chùa.
Xét thêm một lớp theo ngũ hành, đất bãi ven sông thuộc Thủy và Thổ, hai hành nặng và ẩm. Toàn bộ bộ khung chùa lại dựng thuần bằng gỗ lim thuộc hành Mộc, theo lý Thủy sinh Mộc và Mộc khắc chế bớt tính trệ ẩm của Thổ. Trên tầng cao nhất của Gác chuông lại treo chuông đồng (hành Kim) và khánh đá (hành Thổ) ở vị trí khô thoáng nhất, nơi tiếng chuông ngân vang truyền đi khắp vùng đồng bằng. Sự phân bổ vật liệu theo chiều cao và theo ngũ hành ở chùa Keo vì thế hài hòa tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng ven sông.
VHai mùa hội trong năm
Chùa Keo có hai mùa hội lớn trong năm là hội xuân và hội thu (được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tháng 10 năm 2017). Hội xuân diễn ra gọn trong ngày mùng 4 Tết mang sắc thái du xuân và trò chơi dân gian, còn hội thu tháng Chín âm lịch là đại lễ chính kéo dài nhiều ngày để tưởng niệm Thiền sư Dương Không Lộ.
| Thời điểm âm lịch | Hội | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 4 tháng Giêng | Hội xuân chùa Keo | Lễ khai chỉ mở cửa đền Thánh đầu năm, dâng hương lễ Phật và lễ Thánh, cùng các trò thi dân gian sôi nổi như thi chạy giải, thi bắt vịt dưới hồ và thi nấu cơm cần. |
| Ngày 13 tới 15 tháng Chín (hiện mở rộng từ mùng 10 tới 15) | Đại lễ Hội thu | Kỳ hội lớn nhất trong năm. Ngày 13 kỷ niệm ngày sinh Đức Thánh (14/9 âm lịch), ngày 14 tưởng niệm ngày ngài viên tịch (3/6 âm lịch), ngày 15 kỷ niệm ngày ngài đắc đạo và được triều đình sắc phong. |
| Trong hội thu | Rước kiệu Đức Thánh và múa ếch vồ | Đoàn rước kiệu Long Đình, kiệu Bát Cống cùng thuyền rồng trang nghiêm, kèm điệu múa ếch vồ cổ truyền và múa trải cạn tái hiện cuộc đời gắn với sông nước của Thiền sư Không Lộ. |
| Trong hội thu | Thi bơi trải trên sông và chầu Thánh | Các đội trải thi bơi thuyền truyền thống nhắc lại nghề chài lưới thuở hàn vi của Đức Thánh, buổi tối có nghi thức chầu Thánh, hát văn và diễn xướng dân gian tại khu đền Thánh. |
| Rằm và mùng một hằng tháng | Ngày tuần tiết thường lệ | Nhân dân trong vùng tới dâng hương theo đúng trình tự vào khu Tiền Phật lễ Phật trước, sau đó sang khu Hậu Thánh lễ Đức Thánh Không Lộ. |
Điểm đặc sắc nhất của hội chùa Keo là các nghi thức diễn xướng gắn chặt với văn hóa sông nước và nghề chài lưới. Từ lễ rước thuyền rồng, thi bơi trải trên sông cho tới điệu múa trải cạn (chèo thuyền trên cạn) và múa ếch vồ ngay tại sân đền Thánh đều nhắc lại xuất thân ngư phủ của Quốc sư Dương Không Lộ. Giữa một ngôi cổ tự Phật giáo, phần hội dân gian ở khu Hậu Thánh vẫn giữ nguyên sức sống của cư dân vùng bãi bồi ven sông Hồng suốt gần một thiên niên kỷ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Vũ Tiên (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ), tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Chùa nằm ở xã Vũ Tiên (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ), tỉnh Hưng Yên, sát bờ tả sông Hồng. Từ Hà Nội hoặc trung tâm Hưng Yên đi theo hướng thành phố Thái Bình cũ, rồi rẽ về phía triền đê sông Hồng là tới.
- Toạ độ
- 20.3606, 106.2979
Khi tới viếng chùa Keo, quý vị lưu ý ăn mặc kín đáo, bỏ mũ nón khi vào nội tự, và giữ đúng lệ cổ là vào lễ Phật ở khu Tiền Phật phía trước rồi mới bước sang lễ Đức Thánh Không Lộ ở khu Hậu Thánh phía sau. Bộ cánh cửa chạm rồng ở Tam quan nội và chiếc hương án gỗ ở tòa Ống muống là hai Bảo vật quốc gia có niên đại thế kỷ 17, xin quý vị không chạm tay hay tỳ người vào hiện vật. Gác chuông là công trình kết cấu mộng gỗ gần bốn trăm năm tuổi nên việc bước lên tầng trên cần tuân theo hướng dẫn của ban quản lý di tích. Sân gạch cổ và các bậc cửa gỗ lim khá cao và trơn khi trời mưa ẩm, quý vị nên bước chậm rãi.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Keo
Contribute photos, information or video for Keo PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Keo thờ ai
Chùa bố trí theo lối tiền Phật hậu Thánh, khu phía trước thờ Phật, Bồ Tát và La Hán theo truyền thống Bắc tông, còn khu đền phía sau thờ Quốc sư Dương Không Lộ (1016 tới 1094), vị thiền sư thời Lý xuất thân nghề chài lưới, có công chữa bệnh cho vua Lý và dựng chùa Nghiêm Quang năm 1061.
Vì sao có hai ngôi chùa Keo và bài này viết về ngôi nào
Năm 1611, trận lụt lớn của sông Hồng cuốn trôi ngôi chùa Thần Quang cổ ở hương Giao Thủy. Dân làng Keo chia làm hai ngả di cư sang hai bờ sông và đều dựng lại chùa mang tên Thần Quang Tự. Chùa Keo trên nằm ở bờ tả thuộc xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ), còn chùa Keo dưới (chùa Keo Hành Thiện) nằm ở bờ hữu thuộc tỉnh Ninh Bình (tỉnh Nam Định cũ). Bài viết này nói về ngôi chùa Keo trên.
Gác chuông chùa Keo có gì đặc biệt
Gác chuông cao 11,04 mét, gồm ba tầng với mười hai mái đao cong vút, được nâng đỡ bởi bộ khung gỗ lim và 124 bộ đấu củng ghép hoàn toàn bằng mộng gỗ mà không dùng một cây đinh sắt nào. Tầng một treo chiếc khánh đá cao 1,20 mét và quả đại hồng chung đúc năm 1686, tầng hai và tầng ba treo hai quả chuông đồng đúc năm 1796.
Chùa Keo hiện nay được dựng năm nào và do ai hưng công
Ngôi chùa hiện nay được khởi công vào tháng 7 âm lịch năm Canh Ngọ (1630) và hoàn thành vào tháng 11 âm lịch năm Nhâm Thân (1632) sau 28 tháng thi công, do Tuấn Thọ hầu Hoàng Nhân Dũng cùng phu nhân Lại Thị Ngọc Lễ vận động chúa Trịnh Tráng cúng 100 cây gỗ lim, và Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ chỉ huy 42 hiệp thợ mộc kiến tạo.
Chùa Keo có những Bảo vật quốc gia và mùa lễ hội nào
Chùa lưu giữ hai Bảo vật quốc gia gồm Bộ cánh cửa gỗ chạm rồng ở Tam quan nội (công nhận năm 2017) và Chiếc hương án gỗ thế kỷ 17 có bánh xe ẩn ở tòa Ống muống (công nhận năm 2021). Chùa có hai mùa hội chính là Hội xuân vào ngày mùng 4 tháng Giêng và Hội thu vào trung tuần tháng Chín âm lịch (trọng tâm từ ngày 13 tới 15 tháng Chín).