VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Linh Ứng Sơn Trà

Chùa Linh Ứng Bãi Bụt

Ngôi chùa mới dựng trên sườn bán đảo Sơn Trà, lưng tựa núi mặt quay ra biển, có pho tượng Quán Thế Âm mà cả thành phố nhìn thấy được từ xa.

Khởi công
2004
ngày 19 tháng Sáu năm Giáp Thân
Khánh thành
2010
ngày 19 tháng Sáu năm Canh Dần
Tượng Quán Thế Âm
67 m
đứng trên đài sen đường kính 35 mét

Từ bờ đông vịnh Đà Nẵng nhìn sang, quý vị thấy một vệt trắng cao dựng đứng trên nền núi xanh của bán đảo Sơn Trà. Tới gần, vệt trắng ấy là một pho tượng Quán Thế Âm cao sáu mươi bảy mét, đứng trên một đài sen rộng, mặt quay ra cửa vịnh. Dưới chân tượng là sân chùa lát đá, hai hàng tượng La Hán bằng đá trắng, và một cụm nhà mái ngói cong dựa lưng vào sườn núi.

Đây là một ngôi chùa mới. Nó không có bia đá mấy trăm năm, không có bộ tượng gỗ truyền đời, không có phả hệ truyền thừa dài. Cái đáng nói ở nơi này nằm ở chỗ khác, đó là cách người ta chọn thế đất, cách đặt một pho tượng lớn vào một thế đất như vậy, và cách một công trình dựng trong sáu năm đã thành ra cột mốc thị giác của cả một thành phố.

Chùa Linh Ứng Sơn Trà
Chùa Linh Ứng Sơn Trà. Ảnh: Khoitran1957, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITên Linh Ứng và cái tên Bãi Bụt

Hai cái tên gắn với nơi này đều đáng dừng lại một chút. Linh Ứng nghĩa là linh nghiệm và ứng nghiệm, tức lời cầu được đáp lại. Bãi Bụt là tên dân gian của khoảnh vịnh nơi chùa đứng, chữ Bụt là cách gọi cổ của người Việt về Đức Phật, có trước cả cách gọi Phật theo âm Hán Việt.

Theo giáo nghĩa

Chùa lấy Quán Thế Âm Bồ Tát làm hình tượng trung tâm, và chữ Linh Ứng ăn khớp với vị này. Theo phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, danh hiệu Quán Thế Âm nghĩa là quán xét tiếng kêu của thế gian, ai gặp nạn mà xưng danh hiệu ngài thì được nghe thấy. Đó chính là nghĩa của chữ ứng, có kêu thì có đáp. Cũng theo phẩm ấy, người đi biển gặp sóng dữ mà niệm danh hiệu ngài thì thoát nạn, nên trong tín ngưỡng của cư dân ven biển miền Trung, Quán Thế Âm là vị được cầu tới trước nhất. Đặt tượng ngài quay mặt ra cửa biển, vì thế, không phải một sắp đặt tùy hứng mà là một cách nói bằng hình khối về đúng đoạn kinh ấy.

Theo sử liệu

Về cái tên Bãi Bụt, tài liệu địa phương chép truyền thuyết rằng vào thời vua Minh Mạng, một pho tượng Phật không rõ từ đâu trôi dạt vào bãi cát nơi này, dân trong vùng lập am thờ, và từ đó bãi mang tên Bãi Bụt. Đây thuộc lớp truyện kể chứ không phải sử biên niên, giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy khoảnh đất này đã được coi là đất thờ tự từ lâu trước khi ngôi chùa hiện nay được dựng.

Chỗ hay hiểu lầm

Đà Nẵng có ba ngôi chùa cùng mang tên Linh Ứng, và đây là chỗ nhầm lẫn phổ biến nhất. Ngôi cổ nhất là Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, còn gọi là Linh Ứng Non Nước, nằm trên ngọn Thủy Sơn, có gốc từ thời Minh Mạng, nhiều tài liệu ghi mốc năm 1825. Ngôi thứ hai là Linh Ứng Bà Nà, dựng năm 1999 trên núi Bà Nà, ở độ cao lớn nhất trong ba nơi. Ngôi thứ ba là Linh Ứng Sơn Trà, tức chùa Bãi Bụt, khởi công năm 2004 và là ngôi rộng nhất. Khi quý vị đọc tài liệu hay hỏi đường mà chỉ nói ba chữ chùa Linh Ứng thì rất dễ tới nhầm nơi, vì cả ba đều nằm trong địa phận Đà Nẵng và cả ba đều đông khách.

IISáu năm dựng chùa

Lịch sử của nơi này ngắn, và không có lý do gì phải kéo dài nó ra. Chùa do cố Hòa thượng Thích Thiện Nguyện (1946 - 2016) đứng ra khai sơn và tự phác thảo tổng thể theo truyền thống chùa Việt, khởi công năm 2004 và khánh thành năm 2010, tức sáu năm từ nhát cuốc đầu tới ngày mở cửa. Điều đáng ghi là cả hai mốc ấy đều rơi đúng vào ngày 19 tháng Sáu âm lịch, ngày vía Quán Thế Âm thành đạo, một sự chọn ngày có chủ ý chứ không ngẫu nhiên.

  • Đời Minh MạngTruyền thuyết Bãi Bụt
    Tài liệu địa phương chép chuyện một pho tượng Phật trôi dạt vào bãi cát nơi này, dân lập am thờ và đặt tên bãi là Bãi Bụt. Đây là lớp truyện kể, không phải ghi chép biên niên.
  • 1825Chùa Linh Ứng đầu tiên của Đà Nẵng
    Ngôi Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, ngôi cổ nhất trong ba chùa cùng tên, được nhiều tài liệu ghi mốc vào năm này, thời Minh Mạng. Cái tên Linh Ứng ở Đà Nẵng bắt đầu từ đó.
  • 1999Chùa Linh Ứng Bà Nà
    Ngôi thứ hai mang tên Linh Ứng được dựng trên núi Bà Nà, ở độ cao lớn nhất trong ba nơi.
  • 2004Khởi công chùa Linh Ứng Sơn Trà
    Lễ đặt đá tiến hành ngày 19 tháng Sáu âm lịch năm Giáp Thân. Ngày dương lịch tương ứng được các nguồn ghi khác nhau, trang giới thiệu của nhà chùa ghi ngày 4 tháng 7, một số trang du lịch Sơn Trà ghi ngày 4 tháng 8, còn một số bài giới thiệu khác ghi ngày 19 tháng 6 năm 2004.
  • 2010Khánh thành
    Chùa khánh thành ngày 30 tháng 7 năm 2010, nhằm ngày 19 tháng Sáu năm Canh Dần, đúng ngày vía Quán Thế Âm thành đạo, trùng với ngày âm lịch của lễ khởi công sáu năm trước.
Chỗ hay hiểu lầm

Vì là chùa mới nên nơi này chưa nằm trong danh mục di tích được xếp hạng, và điều đó không hạ thấp giá trị của nó. Xếp hạng di tích là một việc thuộc về niên đại và tính nguyên gốc của hiện vật, một công trình dựng năm 2004 chưa thuộc phạm vi ấy. Quý vị nào tìm tư liệu về nơi này nên biết trước điều đó, để khỏi mất công tra trong các danh mục di tích.

IIITổng thể, chánh điện và pho tượng

Khuôn viên chùa rộng khoảng 20 hecta, trải trên một sườn dốc, nên toàn bộ tổng thể được kê thành nhiều cấp nền nối nhau bằng bậc đá. Lối bố cục là lối chùa Phật giáo Bắc Tông quen thuộc, đi từ ngoài vào là cổng tam quan, sân trước, chánh điện, rồi các khu nhà phụ ở phía sau và hai bên. Cái khác nằm ở chỗ toàn bộ trục ấy được đặt nghiêng theo sườn núi, và điểm nhấn lớn nhất, pho tượng Quán Thế Âm, lại không nằm trên trục chính mà đứng lệch về một bên, ở cấp nền cao hơn.

Cổng tam quan

Hai tầng ba gian, làm theo lối cổ Việt với mái đao cong và ngói ống. Đây là hạng mục giữ nhiều chi tiết truyền thống nhất trong toàn bộ tổng thể.

Chánh điện

Mái lợp ngói ống, bờ nóc trang trí rồng chầu. Trong điện, giữa là tượng Đức Phật Thích Ca, bên phải là Quán Thế Âm, bên trái là Địa Tạng. Hai bên vách đặt tượng Tứ Đại Thiên Vương, phía trước có bốn vị Thần Long Hộ Pháp.

Mười tám tượng La Hán

Tạc từ đá trắng nguyên khối, xếp thành hai hàng dọc lối vào sân chùa. Mỗi pho một dáng, một nét mặt, một cử chỉ tay khác nhau, theo lối tả mười tám vị La Hán của mỹ thuật Phật Giáo Bắc Tông.

Tượng Quán Thế Âm

Dự kiến ban đầu cao 32 mét nhưng khi hoàn thành đạt 67 mét, thân tượng đường kính khoảng 17 mét, đứng trên đài sen đường kính 35 mét, trên mão có tượng Phật A Di Đà cao 2 mét, do điêu khắc gia Thụy Lam cùng các nghệ nhân thực hiện. Tượng quay mặt ra cửa vịnh, một tay bắt ấn tam muội, tay kia cầm bình nước cam lộ.

Tháp xá lợi

Tháp mái ngói dựng trong khuôn viên. Số tầng được các nguồn ghi khác nhau, chỗ ghi chín tầng mặt bằng lục giác, chỗ ghi mười bảy tầng, thư viện nêu cả hai chứ không chọn một.

Khu nhà tu học và vườn tượng

Gồm nhà hậu tổ, giảng đường, tăng xá, thư viện, nhà khách và khu phương trượng (nay là nhà lưu niệm cố Hòa thượng khai sơn), cùng vườn Lâm Tỳ Ni, vườn Lộc Uyển và tượng Phật Niết Bàn đặt ở phía sau và hai bên chánh điện.

Bên trong pho tượng

Pho tượng không đặc mà rỗng lòng, bên trong chia thành nhiều tầng, mỗi tầng là một gian thờ nhỏ đặt các pho tượng Phật và Bồ Tát với dáng vẻ khác nhau. Đây là chỗ các nguồn ghi lệch nhau rõ nhất. Phần lớn tài liệu du lịch ghi 17 tầng với 21 pho tượng mỗi tầng (tổng cộng 357 pho tượng), nhưng trang giới thiệu chính thức của nhà chùa lại ghi 12 tầng, trong đó tầng trệt thờ Phật A Di Đà, Quán Thế Âm và Địa Tạng, từ tầng hai trở lên thờ 12 hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, còn tầng trên cùng thờ 7 vị Phật quá khứ. Thư viện nêu cả hai con số và không chọn bừa một con số nào, vì chưa có tư liệu nào đủ dứt khoát để loại con số kia.

Một chỗ vênh khác cần nói thẳng là độ cao. Rất nhiều trang chép rằng chùa nằm ở độ cao 693 mét so với mực nước biển. Con số ấy trùng với vùng đỉnh của bán đảo Sơn Trà chứ không ứng với chỗ ngôi chùa đứng, vốn ở một sườn thấp nhìn thẳng xuống mặt vịnh. Thư viện ghi lại con số ấy để quý vị biết mà đối chiếu khi đọc tài liệu, chứ không dùng nó như một số đo của chùa.

Vì sao pho tượng lớn đến thế

Kích thước 67 mét thường được nhắc như một kỷ lục, nhưng cách đọc ấy bỏ sót phần đáng nói hơn. Pho tượng được tính toán để nhìn thấy từ xa, từ bờ tây vịnh Đà Nẵng, từ mặt biển và từ các con đường ven bờ. Trong mỹ thuật Phật Giáo, tượng lớn đặt nơi cao vốn thuộc một truyền thống lâu đời, từ các pho tượng khắc vách đá ở Trung Á và Đông Á, có chức năng làm dấu mốc cho cả một vùng chứ không chỉ để chiêm bái ở cự ly gần. Đặt trong truyền thống ấy thì con số 67 mét không phải một cuộc đua, mà là kích thước tối thiểu để pho tượng làm được cái việc người ta giao cho nó.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tài liệu của nhà chùa. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Đây là một trong số ít nơi ở Việt Nam có đủ cả hai vế của công thức tựa sơn hướng thủy theo đúng nghĩa đen. Lưng chùa dựa vào khối núi của bán đảo Sơn Trà, mặt chùa mở thẳng ra Biển Đông. Trong sách vở, khối núi sau lưng gọi là huyền vũ hay hậu chẩm, giữ vai trò chỗ dựa, còn mặt nước trước mặt gọi là chu tước, giữ vai trò minh đường. Phần lớn các thế đất chỉ có một trong hai vế, phải lấy thứ khác thay vào, còn ở đây cả hai đều có sẵn và đều lớn.

Điều thứ hai đáng đọc là vai trò bình phong của bán đảo. Sơn Trà nhô ra che chắn phía đông bắc của vịnh Đà Nẵng, và người đi biển vùng này từ lâu đã biết công dụng chắn gió của nó. Phong thủy gọi một khối cao che cho vùng đất phía trong là sa, tức núi hộ vệ. Ngôi chùa nằm ngay trên khối sa ấy, tức nằm ở chỗ đang làm việc che chắn cho cả một vùng, chứ không nằm ở phía được che. Cách đặt này khác hẳn lối thường thấy là tìm chỗ khuất gió mà dựng.

Điều thứ ba là hướng của pho tượng. Chùa nhìn ra vịnh, nhưng pho tượng Quán Thế Âm thì quay mặt ra cửa biển, tức quay về phía nước sâu và phía gió tới. Trong lối đọc cổ truyền, một hình tượng đặt quay mặt về nơi hiểm là hình tượng nhận việc trấn giữ chứ không phải nhận việc thụ hưởng. Ý ấy trùng khít với nghĩa của phẩm Phổ Môn đã dẫn ở phần trên, nơi Quán Thế Âm là vị được người đi biển cầu tới, nên hai lớp nghĩa, một của phong thủy và một của kinh điển, gặp nhau ở cùng một hướng mặt.

Cuối cùng là thế nền bậc thang. Vì dốc, toàn bộ chùa phải kê thành nhiều cấp nền. Phong thủy gọi lối này là tầng tầng thăng tiến, người đi lên phải qua từng cấp một chứ không nhìn thấy hết ngay từ cổng. Về mặt thị giác, cách ấy giữ cho pho tượng lớn không lộ ra quá sớm, còn về mặt phép xem đất, mỗi cấp nền là một chỗ khí phải dừng lại trước khi lên tiếp, và khí dừng nhiều lần thì được coi là khí tụ. Thư viện ghi những điều này như một cách đọc, không phải như ý đồ đã được người dựng chùa nói ra thành lời.

VLễ và lệ trong năm

Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, giữ đủ lịch lễ chung của dòng này theo âm lịch. Vì lấy Quán Thế Âm làm hình tượng trung tâm nên ba ngày vía của vị Bồ Tát này được coi trọng hơn ở đây so với nhiều chùa khác.

Ba ngày mười chín là lịch vía Quán Thế Âm, ba ngày còn lại thuộc lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông.
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngThượng NguyênLễ cầu an đầu năm, một trong ba ngày rằm lớn của năm.
19 tháng HaiVía Quán Thế Âm đản sinhNgày vía đầu tiên trong ba ngày vía của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Rằm tháng TưPhật ĐảnKỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có lễ tắm Phật tại chánh điện.
19 tháng SáuVía Quán Thế Âm thành đạoNgày vía quan trọng nhất đối với riêng chùa này, vì cả lễ khởi công lẫn lễ khánh thành đều chọn đúng ngày ấy.
Rằm tháng BảyVu LanLễ báo hiếu và cầu siêu, kèm lễ Trung Nguyên theo lệ dân gian.
19 tháng ChínVía Quán Thế Âm xuất giaNgày vía thứ ba, khép lại ba mốc trong năm dành riêng cho vị Bồ Tát được thờ ở đây.

Cần phân biệt một điều là Lễ hội Quán Thế Âm quy mô lớn của Đà Nẵng, tổ chức vào dịp 19 tháng Hai âm lịch, diễn ra ở khu vực Ngũ Hành Sơn chứ không ở Sơn Trà. Nhiều người đọc tin về lễ hội ấy rồi tìm tới Bãi Bụt, và đó là một nhầm lẫn nữa sinh ra từ việc ba ngôi chùa cùng mang một tên.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bãi Bụt, bán đảo Sơn Trà, phường Sơn Trà (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà cũ), Đà Nẵng
Đường tới
Chùa ở Bãi Bụt, trên sườn nam bán đảo Sơn Trà, thuộc phường Sơn Trà (trước tháng 7 năm 2025 là phường Thọ Quang, quận Sơn Trà cũ), cách trung tâm Đà Nẵng chừng mười cây số về phía đông bắc. Đường lên theo trục Hoàng Sa chạy men bờ vịnh rồi dốc dần vào sườn núi.
Toạ độ
16.1002, 108.2784
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự và là chỗ chư tăng tu học, dù khách vãng cảnh rất đông. Lệ của chùa là ăn mặc kín đáo, che vai và đầu gối, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ. Không trèo lên đài sen dưới chân tượng, không tựa vào các pho La Hán bằng đá. Khu nhà tổ, tăng đường và thư viện phía sau là khu nội tự, xin quý vị không đi vào nếu không được mời.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Linh Ứng Sơn Trà

Contribute photos, information or video for Linh Ung Pagoda, Son Tra

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Linh Ứng Sơn Trà xây năm nào

Chùa khởi công năm 2004, đúng ngày 19 tháng Sáu âm lịch năm Giáp Thân, và khánh thành ngày 30 tháng 7 năm 2010, nhằm ngày 19 tháng Sáu năm Canh Dần. Cả hai mốc đều rơi vào ngày vía Quán Thế Âm thành đạo. Ngày dương lịch của lễ khởi công được các nguồn ghi khác nhau, trang giới thiệu của nhà chùa ghi mùng 4 tháng 7, một số chuyên trang du lịch ghi mùng 4 tháng 8, có bài lại ghi ngày 19 tháng 6 năm 2004.

Đà Nẵng có mấy chùa Linh Ứng và khác nhau ra sao

Có ba ngôi. Linh Ứng Ngũ Hành Sơn trên ngọn Thủy Sơn là ngôi cổ nhất, nhiều tài liệu ghi mốc năm 1825. Linh Ứng Bà Nà dựng năm 1999, ở độ cao lớn nhất. Linh Ứng Sơn Trà, tức chùa Bãi Bụt, khởi công năm 2004, rộng nhất và là nơi có pho tượng Quán Thế Âm cao 67 mét.

Tượng Quán Thế Âm ở đây cao bao nhiêu và có gì bên trong

Tượng cao 67 mét, thân tượng đường kính khoảng 17 mét, đứng trên đài sen đường kính 35 mét, quay mặt ra cửa vịnh. Lòng tượng rỗng, chia thành nhiều tầng thờ. Số tầng được ghi lệch nhau giữa các nguồn, phần lớn tài liệu du lịch ghi mười bảy tầng với hai mươi mốt pho tượng mỗi tầng (tổng cộng 357 tượng), riêng trang chính thức của nhà chùa ghi mười hai tầng (tầng trệt thờ A Di Đà, Quán Thế Âm, Địa Tạng, từ tầng hai trở lên thờ mười hai hóa thân Quán Thế Âm, tầng trên cùng thờ bảy vị Phật quá khứ).

Chánh điện chùa thờ những vị nào

Giữa chánh điện là tượng Đức Phật Thích Ca. Bên phải là Bồ Tát Quán Thế Âm, bên trái là Bồ Tát Địa Tạng. Hai bên vách đặt tượng Tứ Đại Thiên Vương và phía trước có bốn vị Thần Long Hộ Pháp. Đây là cách bài trí quen thuộc của chánh điện chùa Bắc Tông.

Vì sao khoảnh vịnh này gọi là Bãi Bụt

Chữ Bụt là cách gọi cổ của người Việt về Đức Phật, có trước cách gọi theo âm Hán Việt. Tài liệu địa phương chép truyền thuyết rằng vào thời Minh Mạng, một pho tượng Phật trôi dạt vào bãi cát nơi này, dân lập am thờ và đặt tên bãi như vậy. Đây thuộc lớp truyện kể chứ không phải ghi chép biên niên.

›Đọc Tiếp