Từ bờ đông vịnh Đà Nẵng nhìn sang, quý vị thấy một vệt trắng cao dựng đứng trên nền núi xanh của bán đảo Sơn Trà. Tới gần, vệt trắng ấy là một pho tượng Quán Thế Âm cao sáu mươi bảy mét, đứng trên một đài sen rộng, mặt quay ra cửa vịnh. Dưới chân tượng là sân chùa lát đá, hai hàng tượng La Hán bằng đá trắng, và một cụm nhà mái ngói cong dựa lưng vào sườn núi.
Đây là một ngôi chùa mới. Nó không có bia đá mấy trăm năm, không có bộ tượng gỗ truyền đời, không có phả hệ truyền thừa dài. Cái đáng nói ở nơi này nằm ở chỗ khác: cách người ta chọn thế đất, cách đặt một pho tượng lớn vào một thế đất như vậy, và cách một công trình dựng trong sáu năm đã thành ra cột mốc thị giác của cả một thành phố.

壹Tên Linh Ứng Và Cái Tên Bãi Bụt
Hai cái tên gắn với nơi này đều đáng dừng lại một chút. Linh Ứng nghĩa là linh nghiệm và ứng nghiệm, tức lời cầu được đáp lại. Bãi Bụt là tên dân gian của khoảnh vịnh nơi chùa đứng, chữ Bụt là cách gọi cổ của người Việt về Đức Phật, có trước cả cách gọi Phật theo âm Hán Việt.
Chùa lấy Quán Thế Âm Bồ Tát làm hình tượng trung tâm, và chữ Linh Ứng ăn khớp với vị này. Theo phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, danh hiệu Quán Thế Âm nghĩa là quán xét tiếng kêu của thế gian; ai gặp nạn mà xưng danh hiệu ngài thì được nghe thấy. Đó chính là nghĩa của chữ ứng: có kêu thì có đáp. Cũng theo phẩm ấy, người đi biển gặp sóng dữ mà niệm danh hiệu ngài thì thoát nạn, nên trong tín ngưỡng của cư dân ven biển miền Trung, Quán Thế Âm là vị được cầu tới trước nhất. Đặt tượng ngài quay mặt ra cửa biển, vì thế, không phải một sắp đặt tùy hứng mà là một cách nói bằng hình khối về đúng đoạn kinh ấy.
Về cái tên Bãi Bụt, tài liệu địa phương chép một truyền thuyết: vào thời vua Minh Mạng, một pho tượng Phật không rõ từ đâu trôi dạt vào bãi cát nơi này, dân trong vùng lập am thờ, và từ đó bãi mang tên Bãi Bụt. Đây thuộc lớp truyện kể chứ không phải sử biên niên; giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy khoảnh đất này đã được coi là đất thờ tự từ lâu trước khi ngôi chùa hiện nay được dựng.
Đà Nẵng có ba ngôi chùa cùng mang tên Linh Ứng, và đây là chỗ nhầm lẫn phổ biến nhất. Ngôi cổ nhất là Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, còn gọi là Linh Ứng Non Nước, nằm trên ngọn Thủy Sơn, có gốc từ thời Minh Mạng, nhiều tài liệu ghi mốc năm 1825. Ngôi thứ hai là Linh Ứng Bà Nà, dựng năm 1999 trên núi Bà Nà, ở độ cao lớn nhất trong ba nơi. Ngôi thứ ba là Linh Ứng Sơn Trà, tức chùa Bãi Bụt, khởi công năm 2004 và là ngôi rộng nhất. Khi quý vị đọc tài liệu hay hỏi đường mà chỉ nói ba chữ chùa Linh Ứng thì rất dễ tới nhầm nơi, vì cả ba đều nằm trong địa phận Đà Nẵng và cả ba đều đông khách.
貳Sáu Năm Dựng Chùa
Lịch sử của nơi này ngắn, và không có lý do gì phải kéo dài nó ra. Chùa do Hòa thượng Thích Thiện Nguyện đứng ra khai sơn, khởi công năm 2004 và khánh thành năm 2010, tức sáu năm từ nhát cuốc đầu tới ngày mở cửa. Điều đáng ghi là cả hai mốc ấy đều rơi đúng vào ngày 19 tháng Sáu âm lịch, ngày vía Quán Thế Âm thành đạo, một sự chọn ngày có chủ ý chứ không ngẫu nhiên.
- Đời Minh MạngTruyền thuyết Bãi BụtTài liệu địa phương chép chuyện một pho tượng Phật trôi dạt vào bãi cát nơi này, dân lập am thờ và đặt tên bãi là Bãi Bụt. Đây là lớp truyện kể, không phải ghi chép biên niên.
- 1825Chùa Linh Ứng đầu tiên của Đà NẵngNgôi Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, ngôi cổ nhất trong ba chùa cùng tên, được nhiều tài liệu ghi mốc vào năm này, thời Minh Mạng. Cái tên Linh Ứng ở Đà Nẵng bắt đầu từ đó.
- 1999Chùa Linh Ứng Bà NàNgôi thứ hai mang tên Linh Ứng được dựng trên núi Bà Nà, ở độ cao lớn nhất trong ba nơi.
- 2004Khởi công chùa Linh Ứng Sơn TràLễ đặt đá tiến hành ngày 19 tháng Sáu năm Giáp Thân. Ngày dương lịch tương ứng được các nguồn ghi khác nhau, chỗ ghi ngày 4 tháng 7, chỗ ghi ngày 4 tháng 8 năm 2004.
- 2010Khánh thànhChùa khánh thành ngày 30 tháng 7 năm 2010, nhằm ngày 19 tháng Sáu năm Canh Dần, đúng ngày vía Quán Thế Âm thành đạo, trùng với ngày âm lịch của lễ khởi công sáu năm trước.
Vì là chùa mới nên nơi này chưa nằm trong danh mục di tích được xếp hạng, và điều đó không hạ thấp giá trị của nó. Xếp hạng di tích là một việc thuộc về niên đại và tính nguyên gốc của hiện vật; một công trình dựng năm 2004 chưa thuộc phạm vi ấy. Quý vị nào tìm tư liệu về nơi này nên biết trước điều đó, để khỏi mất công tra trong các danh mục di tích.
參Tổng Thể, Chánh Điện Và Pho Tượng
Khuôn viên chùa rộng khoảng 20 hecta, trải trên một sườn dốc, nên toàn bộ tổng thể được kê thành nhiều cấp nền nối nhau bằng bậc đá. Lối bố cục là lối chùa Bắc Tông quen thuộc, đi từ ngoài vào là cổng tam quan, sân trước, chánh điện, rồi các khu nhà phụ ở phía sau và hai bên. Cái khác nằm ở chỗ toàn bộ trục ấy được đặt nghiêng theo sườn núi, và điểm nhấn lớn nhất, pho tượng Quán Thế Âm, lại không nằm trên trục chính mà đứng lệch về một bên, ở cấp nền cao hơn.
Hai tầng ba gian, làm theo lối cổ Việt với mái đao cong và ngói ống. Đây là hạng mục giữ nhiều chi tiết truyền thống nhất trong toàn bộ tổng thể.
Mái lợp ngói ống, bờ nóc trang trí rồng chầu. Trong điện, giữa là tượng Đức Phật Thích Ca, bên phải là Quán Thế Âm, bên trái là Địa Tạng; hai bên vách đặt tượng Tứ Đại Thiên Vương.
Tạc từ đá trắng nguyên khối, xếp thành hai hàng dọc lối vào sân chùa. Mỗi pho một dáng, một nét mặt, một cử chỉ tay khác nhau, theo lối tả mười tám vị La Hán của mỹ thuật Phật Giáo Bắc Tông.
Cao 67 mét, thân tượng đường kính khoảng 17 mét, đứng trên đài sen đường kính 35 mét. Tượng quay mặt ra cửa vịnh, tay trái bắt ấn, tay phải cầm bình cam lộ.
Tháp mái ngói dựng trong khuôn viên. Số tầng được các nguồn ghi khác nhau, chỗ ghi chín tầng mặt bằng lục giác, chỗ ghi mười bảy tầng; chúng tôi nêu cả hai chứ không chọn một.
Gồm nhà tổ, giảng đường, tăng đường, thư viện và nhà khách, đặt ở phía sau và hai bên chánh điện. Đây là phần chùa dành cho việc tu học thường ngày chứ không dành cho khách.
Bên trong pho tượng
Pho tượng không đặc mà rỗng lòng, bên trong chia thành nhiều tầng, mỗi tầng là một gian thờ nhỏ đặt các pho tượng Phật với dáng vẻ khác nhau. Đây là chỗ các nguồn ghi lệch nhau rõ nhất: phần lớn tài liệu ghi 17 tầng với 21 pho tượng mỗi tầng, nhưng trang giới thiệu của chính nhà chùa lại ghi 12 tầng. Chúng tôi nêu cả hai con số và không chọn bừa một con số nào, vì chưa có tư liệu nào đủ dứt khoát để loại con số kia.
Một chỗ vênh khác cần nói thẳng là độ cao. Rất nhiều trang chép rằng chùa nằm ở độ cao 693 mét so với mực nước biển. Con số ấy trùng với vùng đỉnh của bán đảo Sơn Trà chứ không ứng với chỗ ngôi chùa đứng, vốn ở một sườn thấp nhìn thẳng xuống mặt vịnh. Chúng tôi ghi lại con số ấy để quý vị biết mà đối chiếu khi đọc tài liệu, chứ không dùng nó như một số đo của chùa.
Vì sao pho tượng lớn đến thế
Kích thước 67 mét thường được nhắc như một kỷ lục, nhưng cách đọc ấy bỏ sót phần đáng nói hơn. Pho tượng được tính toán để nhìn thấy từ xa: từ bờ tây vịnh Đà Nẵng, từ mặt biển, từ các con đường ven bờ. Trong mỹ thuật Phật Giáo, tượng lớn đặt nơi cao vốn thuộc một truyền thống lâu đời, từ các pho tượng khắc vách đá ở Trung Á và Đông Á; chức năng của chúng là làm dấu mốc cho cả một vùng chứ không chỉ để chiêm bái ở cự ly gần. Đặt trong truyền thống ấy thì con số 67 mét không phải một cuộc đua, mà là kích thước tối thiểu để pho tượng làm được cái việc người ta giao cho nó.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tài liệu của nhà chùa. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Đây là một trong số ít nơi ở Việt Nam có đủ cả hai vế của công thức tựa sơn hướng thủy theo đúng nghĩa đen. Lưng chùa dựa vào khối núi của bán đảo Sơn Trà, mặt chùa mở thẳng ra Biển Đông. Trong sách vở, khối núi sau lưng gọi là huyền vũ hay hậu chẩm, giữ vai trò chỗ dựa; mặt nước trước mặt gọi là chu tước, giữ vai trò minh đường. Phần lớn các thế đất chỉ có một trong hai vế, phải lấy thứ khác thay vào; ở đây cả hai đều có sẵn và đều lớn.
Điều thứ hai đáng đọc là vai trò bình phong của bán đảo. Sơn Trà nhô ra che chắn phía đông bắc của vịnh Đà Nẵng, và người đi biển vùng này từ lâu đã biết công dụng chắn gió của nó. Phong thủy gọi một khối cao che cho vùng đất phía trong là sa, tức núi hộ vệ. Ngôi chùa nằm ngay trên khối sa ấy, tức nằm ở chỗ đang làm việc che chắn cho cả một vùng, chứ không nằm ở phía được che. Cách đặt này khác hẳn lối thường thấy là tìm chỗ khuất gió mà dựng.
Điều thứ ba là hướng của pho tượng. Chùa nhìn ra vịnh, nhưng pho tượng Quán Thế Âm thì quay mặt ra cửa biển, tức quay về phía nước sâu và phía gió tới. Trong lối đọc cổ truyền, một hình tượng đặt quay mặt về nơi hiểm là hình tượng nhận việc trấn giữ chứ không phải nhận việc thụ hưởng. Ý ấy trùng khít với nghĩa của phẩm Phổ Môn đã dẫn ở phần trên, nơi Quán Thế Âm là vị được người đi biển cầu tới; hai lớp nghĩa, một của phong thủy và một của kinh điển, gặp nhau ở cùng một hướng mặt.
Cuối cùng là thế nền bậc thang. Vì dốc, toàn bộ chùa phải kê thành nhiều cấp nền. Phong thủy gọi lối này là tầng tầng thăng tiến, người đi lên phải qua từng cấp một chứ không nhìn thấy hết ngay từ cổng. Về mặt thị giác, cách ấy giữ cho pho tượng lớn không lộ ra quá sớm; về mặt phép xem đất, mỗi cấp nền là một chỗ khí phải dừng lại trước khi lên tiếp, và khí dừng nhiều lần thì được coi là khí tụ. Chúng tôi ghi những điều này như một cách đọc, không phải như ý đồ đã được người dựng chùa nói ra thành lời.
伍Lễ Và Lệ Trong Năm
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, giữ đủ lịch lễ chung của dòng này theo âm lịch. Vì lấy Quán Thế Âm làm hình tượng trung tâm nên ba ngày vía của vị Bồ Tát này được coi trọng hơn ở đây so với nhiều chùa khác.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Thượng Nguyên | Lễ cầu an đầu năm, một trong ba ngày rằm lớn của năm. |
| 19 tháng Hai | Vía Quán Thế Âm đản sinh | Ngày vía đầu tiên trong ba ngày vía của Bồ Tát Quán Thế Âm. |
| Rằm tháng Tư | Phật Đản | Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có lễ tắm Phật tại chánh điện. |
| 19 tháng Sáu | Vía Quán Thế Âm thành đạo | Ngày vía quan trọng nhất đối với riêng chùa này, vì cả lễ khởi công lẫn lễ khánh thành đều chọn đúng ngày ấy. |
| Rằm tháng Bảy | Vu Lan | Lễ báo hiếu và cầu siêu, kèm lễ Trung Nguyên theo lệ dân gian. |
| 19 tháng Chín | Vía Quán Thế Âm xuất gia | Ngày vía thứ ba, khép lại ba mốc trong năm dành riêng cho vị Bồ Tát được thờ ở đây. |
Cần phân biệt một điều: Lễ hội Quán Thế Âm quy mô lớn của Đà Nẵng, tổ chức vào dịp 19 tháng Hai âm lịch, diễn ra ở khu vực Ngũ Hành Sơn chứ không ở Sơn Trà. Nhiều người đọc tin về lễ hội ấy rồi tìm tới Bãi Bụt, và đó là một nhầm lẫn nữa sinh ra từ việc ba ngôi chùa cùng mang một tên.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Bãi Bụt, bán đảo Sơn Trà, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, Đà Nẵng
- Đường tới
- Chùa ở Bãi Bụt, trên sườn phía tây nam bán đảo Sơn Trà, thuộc phường Thọ Quang, cách trung tâm Đà Nẵng chừng mười cây số về phía đông bắc. Đường lên chạy men bờ vịnh rồi dốc dần vào sườn núi.
- Toạ độ
- 16.1006, 108.2778
Đây là nơi thờ tự và là chỗ chư tăng tu học, dù khách vãng cảnh rất đông. Lệ của chùa: ăn mặc kín đáo, che vai và đầu gối, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ. Không trèo lên đài sen dưới chân tượng, không tựa vào các pho La Hán bằng đá. Khu nhà tổ, tăng đường và thư viện phía sau là khu nội tự, xin quý vị không đi vào nếu không được mời.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Linh Ứng Sơn Trà xây năm nào
Chùa khởi công năm 2004, đúng ngày 19 tháng Sáu năm Giáp Thân, và khánh thành ngày 30 tháng 7 năm 2010, nhằm ngày 19 tháng Sáu năm Canh Dần. Cả hai mốc đều rơi vào ngày vía Quán Thế Âm thành đạo. Ngày dương lịch của lễ khởi công được các nguồn ghi khác nhau, chỗ ghi mùng 4 tháng 7, chỗ ghi mùng 4 tháng 8.
Đà Nẵng có mấy chùa Linh Ứng và khác nhau ra sao
Có ba ngôi. Linh Ứng Ngũ Hành Sơn trên ngọn Thủy Sơn là ngôi cổ nhất, nhiều tài liệu ghi mốc năm 1825. Linh Ứng Bà Nà dựng năm 1999, ở độ cao lớn nhất. Linh Ứng Sơn Trà, tức chùa Bãi Bụt, khởi công năm 2004, rộng nhất và là nơi có pho tượng Quán Thế Âm cao 67 mét.
Tượng Quán Thế Âm ở đây cao bao nhiêu và có gì bên trong
Tượng cao 67 mét, thân tượng đường kính khoảng 17 mét, đứng trên đài sen đường kính 35 mét, quay mặt ra cửa vịnh. Lòng tượng rỗng, chia thành nhiều tầng thờ. Số tầng được ghi lệch nhau giữa các nguồn: phần lớn tài liệu ghi mười bảy tầng với hai mươi mốt pho tượng mỗi tầng, riêng trang của nhà chùa ghi mười hai tầng.
Chánh điện chùa thờ những vị nào
Giữa chánh điện là tượng Đức Phật Thích Ca. Bên phải là Bồ Tát Quán Thế Âm, bên trái là Bồ Tát Địa Tạng. Hai bên vách đặt tượng Tứ Đại Thiên Vương, tức bốn vị hộ pháp giữ bốn phương. Đây là cách bài trí quen thuộc của chánh điện chùa Bắc Tông.
Vì sao khoảnh vịnh này gọi là Bãi Bụt
Chữ Bụt là cách gọi cổ của người Việt về Đức Phật, có trước cách gọi theo âm Hán Việt. Tài liệu địa phương chép truyền thuyết rằng vào thời Minh Mạng, một pho tượng Phật trôi dạt vào bãi cát nơi này, dân lập am thờ và đặt tên bãi như vậy. Đây thuộc lớp truyện kể chứ không phải ghi chép biên niên.