VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Dâu

延應寺 · Diên Ứng Tự, Pháp Vân Tự, Cổ Châu Tự

Ngôi chùa đứng ở chỗ Phật giáo từ Ấn Độ đặt chân lên đất Việt rồi nhập vào lớp tín ngưỡng thờ mây mưa sấm chớp của nhà nông châu thổ.

Khởi dựng
năm 187
theo truyền thuyết và tư liệu muộn
Tháp Hoà Phong
3 tầng
hồ sơ di tích ghi cao 15 m, nguồn khác ghi 17 m
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013

Đi hết cánh đồng dâu ở phía nam sông Đuống, quý vị gặp một khoảng sân gạch rộng, và giữa sân là một khối tháp gạch vuông vức, thấp và nặng, không có đường nét bay bổng nào. Đó là tháp Hoà Phong. Sau tháp là ba lớp nhà thấp lợp ngói mũi hài, hai bên hai dãy hành lang chạy vòng, và trong cùng, trên toà thượng điện, một pho tượng nữ sắc nâu sẫm mà người vùng này gọi là bà Dâu, tức Pháp Vân.

Chỗ quý vị đang đứng từng là trung tâm Luy Lâu, lỵ sở quận Giao Chỉ nhiều thế kỷ đầu Công nguyên, một trong những nơi đầu tiên trên đất nước ta có tăng sĩ, có kinh sách và có chùa. Điều đáng nói ở chùa Dâu không nằm ở tuổi chùa mà ở việc khác: tại đây đạo Phật từ Ấn Độ sang đã không đứng riêng, mà nhập vào lớp tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp bản địa, sinh ra một hệ thần không nơi nào khác có.

Chùa Dâu
Chùa Dâu. Ảnh: Bùi Thế Tâm, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Tín Ngưỡng Tứ Pháp

Ngôi chùa này mang nhiều tên cùng lúc, mỗi tên nói một lớp lịch sử. Diên Ứng TựCổ Châu Tự là tên chữ, thuộc lớp văn bản. Pháp Vân Tự gọi theo vị được thờ trong thượng điện. Chùa Dâu là tên dân gian, gọi theo vùng trồng dâu nuôi tằm quanh thành Luy Lâu. Người trong vùng còn gọi là chùa Cả, vì đây là ngôi đứng đầu một hệ thống chùa chứ không đứng lẻ.

Theo giáo nghĩa

Tứ Pháp là bốn vị thần được thờ dưới hình tướng Phật: Pháp Vân là mây, Pháp Vũ là mưa, Pháp Lôi là sấm, Pháp Điện là chớp. Bốn hiện tượng ấy đúng là bốn thứ một xã hội trồng lúa nước phải ngóng suốt cả năm. Chữ pháp đứng trước mỗi tên là chữ nhà Phật, nghĩa là giáo pháp; ghép nó vào mây mưa sấm chớp tức là đem ngôn ngữ đạo Phật khoác lên các vị thần thời tiết đã thờ từ trước. Pháp Vân đứng đầu, thờ ở chùa Dâu; ba vị còn lại thờ ở ba ngôi chùa khác cùng vùng.

Theo sử liệu

Gốc của hệ thần này nằm trong truyện Man Nương, chép trong các tập truyện dân gian và trong mộc bản của chính chùa. Truyện kể một người con gái tên Man Nương theo học đạo với nhà sư Khâu Đà La từ Ấn Độ sang. Một đêm nhà sư bước qua chỗ nàng nằm ngủ, nàng thụ thai, sinh một hài nhi rồi gửi vào thân cây dâu bên đường. Về sau cây dâu ấy đổ xuống sông, trôi về bến Luy Lâu, không ai vớt nổi, cho tới khi Man Nương ra kéo thì cây theo tay bà mà lên. Người ta lấy gỗ cây ấy tạc bốn pho tượng đặt vào bốn ngôi chùa, thành Tứ Pháp. Trong lõi cây còn một khối đá phát sáng, gọi là Thạch Quang Phật.

Truyện ấy không phải sử. Nhưng nó là bản ghi rõ nhất về một cuộc gặp: một nhà sư Ấn Độ mang đạo mới tới, một người phụ nữ bản địa đứng ra làm mẹ, và bốn vị thần thời tiết của nhà nông được đưa vào chùa dưới danh nghĩa Phật. Ở phần lớn nơi khác, đạo Phật hoặc thay tín ngưỡng cũ hoặc để nó tồn tại bên cạnh. Ở vùng Dâu thì hai bên nhập làm một, và tên gọi Phật Mẫu Man Nương nói đúng chỗ nhập ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay nhầm: nhiều người tưởng Tứ Pháp là bốn vị Phật trong kinh điển nhà Phật. Không phải. Kinh điển Phật giáo Ấn Độ không có bốn vị này. Đây là hệ thần hình thành trên đất Việt, mượn danh xưng Phật để gọi các thần mây mưa sấm chớp bản địa. Cũng vì thế mà lễ chính của chùa không phải lễ Phật đản mà là lễ cầu mưa.

Niên Đại Và Chỗ Nguồn Vênh Nhau

Chùa Dâu vẫn được gọi là ngôi chùa xưa nhất nước ta, với niên đại khởi dựng năm 187 và hoàn thành năm 226. Quý vị nên biết rõ con số ấy đến từ đâu.

Theo sử liệu

Niên đại 187 không có trong bộ sử biên niên đương thời nào. Nó đến từ lớp truyền thuyết vùng Dâu và từ tư liệu chép muộn, trong đó có mộc bản của chính chùa, mà lớp mộc bản cổ nhất còn giữ được cũng chỉ thuộc thời Lê Trung Hưng, tức sau sự kiện được chép hơn một nghìn bốn trăm năm. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý ghi thận trọng hơn: chùa dựng vào đầu thế kỷ thứ hai, thời Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Châu. Một số bài phổ thông lại ghi khoảng thế kỷ thứ nhất tới thứ hai. Ba cách ghi ấy vênh nhau, chúng tôi ghi cả ba thay vì chọn bừa một con số.

Về hiện vật thì tình hình khác hẳn. Toàn bộ kiến trúc đang đứng trên mặt đất hôm nay thuộc thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, tức thế kỷ 17 tới thế kỷ 19; hồ sơ di tích ghi rõ tháp Hoà Phong là tháp gạch thời Lê Trung Hưng, hệ thống tượng mang nghệ thuật Lê Nguyễn. Không một cấu kiện nào trên mặt đất chứng được cho niên đại thế kỷ thứ hai.

Bằng chứng khảo cổ cho vùng đất thì có thật, nhưng là bằng chứng cho thành Luy Lâu chứ không phải cho ngôi chùa. Các đợt khai quật thành cổ Luy Lâu do Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp với Đại học Đông Á của Nhật Bản tiến hành từ năm 2012, tới đợt thứ bảy cuối năm 2022, thu được gạch ngói trải dài từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên trở về sau, cùng dấu vết kiến trúc lớn có trước cả tường thành. Nghĩa là vùng đất này có người ở và xây cất quy mô từ đầu Công nguyên, điều ấy khảo cổ xác nhận; còn ngôi chùa cụ thể này dựng năm nào thì khảo cổ chưa xác nhận được.

  • Thế kỷ 2Luy Lâu thành trung tâm Phật giáo
    Lỵ sở Giao Chỉ, nơi tăng sĩ và thương nhân từ Ấn Độ tới. Hồ sơ di tích đặt việc dựng chùa vào đầu thế kỷ này, thời Sĩ Nhiếp.
  • 187Niên đại theo truyền thuyết
    Con số được nhắc nhiều nhất, cùng với năm hoàn thành 226. Nguồn là truyền thuyết vùng Dâu và tư liệu chép muộn, không phải sử biên niên đương thời.
  • 1313Mạc Đĩnh Chi trùng tu
    Đời Trần Anh Tông, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho dựng lại quy mô lớn, tương truyền gồm chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp.
  • Thế kỷ 17Định hình bộ khung hiện còn
    Thời Lê Trung Hưng, chùa được dựng lại và bộ khung kiến trúc còn thấy hôm nay hình thành, trong đó có tháp Hoà Phong bằng gạch.
  • Thế kỷ 19Trùng tu thời Nguyễn
    Nhiều hạng mục và phần lớn hệ thống tượng pháp mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, tiếp nối lớp Lê Trung Hưng.
  • 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013.
  • 2017Tượng Tứ Pháp thành bảo vật quốc gia
    Nhóm tượng Tứ Pháp vùng Dâu được công nhận là bảo vật quốc gia.
  • 2024Mộc bản thành bảo vật quốc gia
    Bộ mộc bản chùa Dâu gồm 107 ván khắc, san khắc trải từ thời Lê Trung Hưng qua Tây Sơn tới thời Nguyễn, được công nhận bảo vật quốc gia; lễ công bố tổ chức ngày 13 tháng 5 năm 2024.

Bố Cục Và Tháp Hoà Phong

Chùa dựng theo lối nội công ngoại quốc, tức các toà nhà chính bên trong xếp thành hình chữ công, còn hai dãy hành lang và các nhà phía sau khép lại thành một khung vuông bao quanh. Đây là bố cục quen của chùa Bắc Bộ thời Lê Nguyễn, nhưng ở chùa Dâu nó có một điểm không giống ai: ngay giữa sân, chắn trước cửa thượng điện, là một ngọn tháp gạch.

Tháp Hoà Phong

Khối tháp gạch vuông giữa sân, hiện còn ba tầng. Hồ sơ di tích ghi cao 15 mét, cạnh chân tháp 6,75 mét, xây thời Lê Trung Hưng; nguồn khác ghi khoảng 17 mét và coi đây là dấu tích ngọn tháp chín tầng thời Trần. Trong lòng tháp đặt tượng Tứ Thiên Vương, có chuông và khánh treo.

Tiền đường

Toà ngoài cùng của khu thờ chính, bảy gian hai chái, nơi đặt các ban thờ đầu tiên người vào lễ gặp.

Thượng điện

Toà trong cùng, chín gian hai chái, đặt pho tượng Pháp Vân sắc nâu sẫm, hai bên có tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ. Đây là trung tâm thờ tự của cả ngôi chùa.

Hai dãy hành lang

Hai dãy chạy dọc hai bên sân, mỗi dãy hai mươi hai gian, đặt hệ thống tượng mười tám vị La Hán. Chính hai dãy này khép khu chùa thành hình chữ quốc bên ngoài.

Cừu đá

Tượng cừu bằng đá trong khuôn viên, thường được nhắc như hiện vật niên đại rất sớm và như dấu vết giao lưu văn hoá ngoại lai tại Luy Lâu. Niên đại cụ thể của pho tượng này các nguồn ghi không thống nhất.

Mộc bản

Bộ 107 ván khắc gỗ giữ tại chùa, gồm truyền thuyết Phật Tứ Pháp, hạnh tích các vị Phật, kinh sách và văn bản nghi lễ, phân thành mười ba bộ. Đây là bản gốc duy nhất, không có bản thứ hai.

Việc đặt tháp ngay giữa sân, chắn trục nhìn từ cổng vào thượng điện, là một lựa chọn cần chú ý. Ở phần lớn chùa Bắc Bộ về sau, tháp được đưa ra vườn tháp bên hông để trục chính thông suốt. Ở chùa Dâu tháp vẫn đứng giữa, giữ cách bố trí của lớp chùa xưa, khi tháp còn là chủ thể thờ tự chứ chưa lui xuống thành mộ tháp. Cái vướng mắt ấy chính là dấu của một lớp niên đại cũ hơn.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm hay bị hiểu sai: tháp Hoà Phong không phải phần còn nguyên vẹn của ngọn tháp chín tầng thời Trần. Theo hồ sơ di tích, khối tháp đang đứng là công trình gạch xây lại thời Lê Trung Hưng, dù truyền thuyết địa phương vẫn gắn nó với lần dựng tháp năm 1313. Chiều cao cũng vậy: nguồn ghi 15 mét, nguồn ghi 17 mét.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm trên dải đất cao giữa vùng Dâu, phía nam sông Đuống, gọn trong tam giác châu do sông Hồng và sông Đuống bồi ra. Trong phép xem đất, vùng châu thổ không có núi để làm hậu chẩm; chỗ dựa được thay bằng thế đất nổi cao hơn ruộng chung quanh và bằng các dòng nước bao lấy. Luy Lâu được chọn làm lỵ sở đúng vì thế: đất gò cao, sông lớn bao ngoài làm hào tự nhiên, thuyền bè ra vào được. Ngôi chùa mọc lên trong lòng một trung tâm như vậy thì thừa hưởng luôn thế đất của cả thành.

Xét theo ngũ hành, chỗ này thuộc thế Thuỷ Thổ tương giao: nước sông bao quanh là Thuỷ, gò đất nổi giữa đồng là Thổ. Thổ gặp Thuỷ thành phù sa, mà phù sa là chỗ sinh của nghề nông. Bốn vị trong hệ Tứ Pháp lại đúng là bốn hiện tượng chi phối mùa màng. Đọc theo lối cũ thì thần được thờ trùng với hành của đất, và lễ lớn nhất của chùa là lễ cầu mưa. Sự trùng khớp ấy trong phép cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ.

Về hướng, khu thờ chính quay mặt về phía nam, lưng dựa phía bắc, là hướng chùa chiền Bắc Bộ chuộng nhất vì đón nắng ấm và tránh gió lạnh mùa đông. Sân trước rộng và bằng, không bị chắn, làm thành một minh đường đúng nghĩa. Riêng ngọn tháp gạch đặt giữa minh đường ấy thì đọc được theo hai cách. Cách thứ nhất theo phép trấn: khối gạch nặng và thấp đứng chắn giữa, giữ cho khí không xổ thẳng ra ngoài mà phải vòng quanh, giống vai trò bình phong trong nhà ở cổ truyền. Cách thứ hai theo trục thờ tự: tháp là mốc đánh dấu tâm của khu đất, mọi lối đi trong chùa đều vòng qua nó.

Cuối cùng là bố cục vùng. Bốn ngôi chùa thờ bốn vị Tứ Pháp nằm rải trong cùng một vùng, cộng thêm ngôi chùa thờ Phật Mẫu Man Nương, làm thành một cụm chứ không phải các điểm rời. Ngày hội, kiệu từ những chùa kia rước về chùa Dâu rồi lại trở về chỗ cũ. Đọc theo con mắt phong thuỷ thì cả vùng Dâu được bố trí như một hệ có tâm và có vệ tinh, chùa Dâu giữ vị trí trung cung. Đó là lý do người trong vùng gọi nơi đây là chùa Cả.

Hội Chùa Dâu Và Lệ Rước Tứ Pháp

Hội chùa Dâu là hội cầu mưa, và đó là điều cần nhớ trước tiên. Hội mở vào tháng tư âm lịch, đúng lúc vụ chiêm đang cần nước, chứ không mở vào dịp đầu xuân như phần lớn hội chùa Bắc Bộ. Ngày chính là mùng tám tháng tư, các ngày trước đó dành cho phần rước.

Trình tự hội vùng Dâu. Nghi lễ rước Phật Tứ Pháp từng gián đoạn gần ba mươi năm và được phục dựng trở lại trong những mùa hội gần đây. Nguồn: Báo Nhân Dân, bài về lễ hội vùng Dâu phục dựng nghi lễ rước Phật Tứ Pháp..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Mùng 6 và mùng 7 tháng TưRước Tứ Pháp về chùa DâuCác làng rước kiệu bốn vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện từ các chùa trong vùng về tụ tại chùa Dâu.
Mùng 8 tháng TưNgày hội chínhLễ chính tại chùa Dâu, có tế lễ, dâng hương và các trò diễn dân gian của các làng trong vùng.
Mùng 8 tháng TưLễ mẹ đuổi conKiệu các vị Tứ Pháp chạy vòng quanh khu chùa ba vòng, sau đó kiệu Phật Mẫu Man Nương vào an vị bên trong.
Mùng 8 tháng TưTrò cướp nướcHai kiệu đua nhau ra chỗ lấy nước. Theo lệ vùng, nếu Pháp Vũ về trước thì năm ấy được mùa, nếu Pháp Lôi về trước thì lúa dễ bị sâu bệnh.
Sau ngày chínhRước hoàn cungCác kiệu được rước trở về chùa gốc của mỗi vị, khép lại vòng hội của cả vùng.

Trò cướp nước để lộ rõ nhất gốc gác của cả ngôi chùa. Một đám rước nhà chùa kết bằng cuộc đua lấy nước, rồi lấy kết quả ấy đoán mùa màng, thì không còn là nghi thức nhà Phật thuần tuý. Đó là lễ cầu mưa của nhà nông, được giữ nguyên và đưa vào khuôn khổ nhà chùa.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Dâu, xã Thanh Khương cũ, nay thuộc phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Chùa nằm ở xã Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội chừng ba mươi cây số về phía đông. Đi cùng tuyến có thể ghé thêm các chùa Tứ Pháp khác trong vùng Dâu.
Toạ độ
21.0472, 106.0206
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà nhà trong, đi vòng chứ không trèo qua bậc tháp Hoà Phong, không chạm tay vào tượng Tứ Pháp và các ván mộc bản. Hai dãy hành lang đặt tượng La Hán là chỗ hẹp, quý vị đi một chiều để khỏi vướng người khác. Việc chụp ảnh trong thượng điện tuỳ lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi trước khi giơ máy. Mùa hội tháng tư có nhiều đám rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Dâu thờ ai

Trung tâm thờ tự là pho tượng Pháp Vân, tức bà Dâu, vị đứng đầu trong hệ Tứ Pháp gồm Pháp Vân là mây, Pháp Vũ là mưa, Pháp Lôi là sấm và Pháp Điện là chớp. Chùa vẫn thờ Phật theo lối Phật giáo Bắc tông, nhưng ban thờ được người trong vùng coi trọng nhất là ban Pháp Vân.

Chùa Dâu có thật sự là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam không

Đây là danh xưng được dùng rộng rãi, dựa trên niên đại khởi dựng năm 187 chép trong truyền thuyết vùng Dâu và tư liệu muộn. Hồ sơ di tích ghi thận trọng hơn là đầu thế kỷ thứ hai. Toàn bộ kiến trúc đang đứng hôm nay thuộc thời Lê Trung Hưng và Nguyễn, nên không có cấu kiện nào chứng được cho niên đại xa như vậy.

Tứ Pháp có phải là bốn vị Phật trong kinh điển không

Không. Kinh điển Phật giáo Ấn Độ không có bốn vị này. Tứ Pháp là hệ thần hình thành ngay trên đất Việt, lấy danh xưng nhà Phật đặt cho các thần mây mưa sấm chớp vốn được nhà nông bản địa thờ từ trước. Đây chính là dấu của cuộc gặp giữa đạo Phật ngoại nhập và tín ngưỡng nông nghiệp tại chỗ.

Tháp Hoà Phong cao bao nhiêu và có mấy tầng

Tháp hiện còn ba tầng. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý ghi cao 15 mét với cạnh chân tháp 6,75 mét, xây bằng gạch thời Lê Trung Hưng; một số nguồn phổ thông ghi khoảng 17 mét và gắn tháp với ngọn tháp chín tầng tương truyền dựng năm 1313. Hai con số ấy vênh nhau nên chúng tôi ghi cả hai.

Hội chùa Dâu mở vào ngày nào và có gì đặc biệt

Hội mở vào tháng tư âm lịch, ngày chính là mùng tám. Đây là hội cầu mưa chứ không phải hội xuân. Đặc sắc nhất là lễ rước bốn vị Tứ Pháp từ các chùa trong vùng về chùa Dâu, lễ mẹ đuổi con và trò cướp nước, trong đó kết quả cuộc đua lấy nước được dùng để đoán mùa màng năm ấy.

Đọc Tiếp