VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Dâu

Diên Ứng Tự, Pháp Vân Tự, Cổ Châu Tự, Thiền Định Tự, chùa Cả, chùa Bà Dâu

Ngôi chùa đứng ở chỗ Phật giáo từ Ấn Độ đặt chân lên đất Việt rồi nhập vào lớp tín ngưỡng thờ mây mưa sấm chớp của nhà nông châu thổ.

Khởi dựng
năm 187
theo truyền thuyết và tư liệu muộn, hồ sơ di tích ghi đầu thế kỷ 2
Tháp Hòa Phong
3 tầng
hồ sơ di tích ghi cao 15 m, nguồn khác ghi 17 m
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2013

Đi hết cánh đồng dâu ở phía nam sông Đuống, quý vị gặp một khoảng sân gạch rộng, và giữa sân là một khối tháp gạch trần vuông vức, thấp và nặng, không có đường nét bay bổng nào. Đó là tháp Hòa Phong. Sau tháp là ba lớp nhà thấp lợp ngói mũi hài, hai bên hai dãy hành lang chạy vòng, và trong cùng, trên tòa thượng điện, một pho tượng nữ sắc nâu sẫm uy nghi mà người vùng này gọi là bà Dâu, tức Pháp Vân.

Chỗ quý vị đang đứng từng là trung tâm Luy Lâu, lỵ sở quận Giao Chỉ nhiều thế kỷ đầu Công nguyên, một trong những nơi đầu tiên trên đất nước ta có tăng sĩ, có kinh sách và có chùa. Điều đáng nói ở chùa Dâu không chỉ nằm ở tuổi chùa mà ở chỗ tại đây đạo Phật từ Ấn Độ sang đã không đứng riêng, mà nhập vào lớp tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp bản địa, sinh ra một hệ thần không nơi nào khác có.

Chùa Dâu
Chùa Dâu. Ảnh: Bùi Thế Tâm, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITên gọi và tín ngưỡng Tứ Pháp

Ngôi chùa này mang nhiều tên cùng lúc, mỗi tên nói một lớp lịch sử. Diên Ứng Tự, Thiền Định Tự và Cổ Châu Tự là tên chữ thuộc lớp văn bản. Pháp Vân Tự gọi theo vị được thờ chính trong thượng điện. Chùa Dâu (hay chùa Bà Dâu) là tên dân gian, gọi theo vùng trồng dâu nuôi tằm cổ truyền quanh thành Luy Lâu. Người trong vùng còn gọi là chùa Cả, vì đây là ngôi đứng đầu một hệ thống chùa Tứ Pháp chứ không đứng lẻ.

Theo giáo nghĩa

Tứ Pháp là bốn vị nữ thần nông nghiệp được thờ dưới hình tướng Phật gồm Pháp Vân (bà Dâu, thần Mây), Pháp Vũ (bà Đậu, thần Mưa), Pháp Lôi (bà Tướng, thần Sấm) và Pháp Điện (bà Dàn, thần Chớp). Bốn hiện tượng ấy đúng là bốn thứ một xã hội trồng lúa nước phải ngóng suốt cả năm. Chữ Pháp đứng trước mỗi tên là chữ nhà Phật, nghĩa là giáo pháp, ghép nó vào mây mưa sấm chớp tức là đem ngôn ngữ đạo Phật khoác lên các vị thần thời tiết đã thờ từ trước. Pháp Vân đứng đầu, thờ ở chùa Dâu (Diên Ứng Tự), còn ba vị kia thờ ở ba ngôi chùa khác cùng vùng Dâu gồm chùa Đậu (Thành Đạo Tự, từng có thời gian thờ chung tại chùa Dâu), chùa Tướng (Phi Tướng Tự) và chùa Dàn (Phương Quan Tự), cùng với chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự) ở Mẫn Xá thờ Phật Mẫu Man Nương.

Theo sử liệu

Gốc của hệ thần này nằm trong truyện Man Nương, chép trong Lĩnh Nam chích quái, Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục và trong bộ mộc bản của chính chùa. Truyện kể người con gái tên Man Nương quê ở Mẫn Xá theo học đạo với nhà sư Khâu Đà La (Ksudra) từ Ấn Độ sang. Một đêm nhà sư bước qua chỗ nàng nằm ngủ, nàng thụ thai, sinh một bé gái vào ngày mùng 8 tháng Tư rồi nhà sư đem gửi vào thân cây dâu cổ thụ. Về sau cây dâu ấy đổ xuống sông trôi về bến Luy Lâu, không ai vớt nổi, cho tới khi Man Nương ra lấy dải yếm kéo thì cây theo tay bà mà lên bờ. Thái thú Sĩ Nhiếp cho thợ lấy gỗ cây dâu ấy tạc bốn pho tượng đặt vào bốn ngôi chùa, thành hệ Tứ Pháp. Trong lõi cây còn một khối đá phát sáng, được rước về thờ tại chùa Dâu và gọi là Thạch Quang Phật.

Truyện ấy không phải sử biên niên. Nhưng nó là bản ghi rõ nhất về một cuộc gặp lịch sử khi một nhà sư Ấn Độ mang đạo mới tới, một người phụ nữ bản địa đứng ra làm mẹ, và bốn vị thần thời tiết của nhà nông được đưa vào chùa dưới danh nghĩa Phật. Ở phần lớn nơi khác, đạo Phật hoặc thay tín ngưỡng cũ hoặc để nó tồn tại bên cạnh. Ở vùng Dâu thì hai bên nhập làm một, và danh hiệu Phật Mẫu Man Nương nói đúng chỗ hội nhập ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay nhầm là nhiều người tưởng Tứ Pháp là bốn vị Phật trong kinh điển Phật giáo Ấn Độ. Thực ra kinh điển Ấn Độ không có bốn vị này. Đây là hệ thống thờ tự hình thành ngay trên đất Việt vùng Luy Lâu, dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ thần mây mưa sấm chớp và tục thờ đá (Thạch Quang Phật) của cư dân nông nghiệp bản địa. Cũng vì thế mà hội chính của chùa trùng với ngày Phật Đản mùng 8 tháng Tư nhưng cốt lõi lại là lễ rước cầu mưa.

IINiên đại và chỗ nguồn vênh nhau

Chùa Dâu vẫn được tôn xưng là ngôi chùa xưa bậc nhất nước ta, với niên đại khởi dựng năm 187 và hoàn thành năm 226. Quý vị nên biết rõ con số ấy đến từ đâu và giới khảo cổ, di sản ghi nhận như thế nào.

Theo sử liệu

Niên đại khởi dựng năm 187 và hoàn thành năm 226 đến từ truyền thuyết vùng Dâu và các ván khắc mộc bản lưu tại chùa, mà lớp mộc bản cổ nhất còn giữ được được san khắc vào thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 18). Hồ sơ Di tích quốc gia đặc biệt của Cục Di sản Văn hóa ghi thận trọng hơn rằng chùa được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ hai, thời Sĩ Nhiếp (187 tới 226) làm thái thú Giao Châu. Một số bài viết phổ thông lại ghi khoảng thế kỷ thứ nhất tới thứ hai. Thư viện nêu rõ cả các cách ghi ấy để quý vị thấy mạch nguồn tư liệu.

Về kiến trúc hiện tồn thì niên đại xác định được rất rõ. Toàn bộ các hạng mục đang đứng trên mặt đất hôm nay thuộc thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn (thế kỷ 17 tới thế kỷ 19), cùng một số dấu tích cấu kiện, thềm bậc đá thời Trần - Mạc. Hồ sơ di tích ghi nhận tháp Hòa Phong hiện nay được xây lại bằng gạch vào thời Lê Trung Hưng, còn hệ thống tượng pháp mang phong cách điêu khắc thời Lê - Nguyễn. Không còn cấu kiện gỗ hay gạch nào trên mặt đất mang niên đại thế kỷ thứ hai.

Bằng chứng khảo cổ học cho vùng đất thì rất phong phú, nhưng là bằng chứng cho đô thị cổ Luy Lâu kề bên. Các đợt khai quật thành cổ Luy Lâu do Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp với Đại học Đông Á (Nhật Bản) tiến hành từ năm 2012 tới cuối năm 2022 đã phát hiện hệ thống di vật gạch ngói, khuôn đúc trống đồng và dấu vết kiến trúc quy mô lớn kéo dài từ thế kỷ thứ nhất, thứ hai sau Công nguyên qua thời Lục조, Tùy - Đường. Điều đó xác nhận Luy Lâu thực sự là trung tâm đô thị, hành chính và Phật giáo lớn ngay từ đầu Công nguyên, làm nền tảng lịch sử cho sự ra đời của chùa Dâu.

  • Đầu thế kỷ 2 (187 tới 226)Khởi dựng tại trung tâm Luy Lâu
    Thời Sĩ Nhiếp cai trị Giao Châu, Luy Lâu là trung tâm giao thương và Phật giáo lớn. Truyền thuyết vùng Dâu và mộc bản ghi chùa khởi dựng năm 187, hoàn thành năm 226.
  • Thế kỷ 6Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi trụ tích
    Năm 580, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) từ Ấn Độ qua Trung Hoa tới chùa Pháp Vân (chùa Dâu) dịch kinh và truyền bá thiền học, mở đầu dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi tại Việt Nam.
  • 1313Mạc Đĩnh Chi đại trùng tu
    Đời vua Trần Anh Tông, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi được cử về xây dựng lại chùa Dâu với quy mô lớn gồm chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp.
  • Thế kỷ 17 tới 18Trùng tu lớn thời Lê Trung Hưng
    Chùa được tu bổ nhiều lần dưới thời các vua Lê - chúa Trịnh (có bia đá năm 1738 và chuông đồng đúc năm 1793 thời Tây Sơn), định hình bố cục nội Công ngoại Quốc và tháp Hòa Phong gạch trần như hiện nay.
  • 1962 và 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Chùa được xếp hạng Di tích cấp quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962, và được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2013.
  • 2017Tượng Tứ Pháp thành Bảo vật quốc gia
    Nhóm tượng Phật Tứ Pháp vùng Dâu (gồm tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017.
  • 2024Mộc bản chùa Dâu thành Bảo vật quốc gia
    Bộ mộc bản chùa Dâu gồm 107 ván khắc gỗ thị có niên đại từ năm 1752 tới năm 1859 được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 2024 (lễ công bố tổ chức ngày 13 tháng 5 năm 2024).

IIIBố cục và tháp Hòa Phong

Theo hồ sơ của Cục Di sản Văn hóa, chùa Dâu quay mặt về hướng tây và dựng theo lối nội Công ngoại Quốc. Phía ngoài cùng là Tiền thất (Bái vọng đường) gồm 7 gian 2 chái. Cụm kiến trúc chính ở trung tâm gồm ba tòa Tiền đường, Thiêu hương (Ống muống) và Thượng điện nối nhau thành hình chữ Công, bao quanh bởi hai dãy hành lang tả hữu và tòa Hậu đường phía sau khép lại thành khung chữ Quốc. Điểm khác biệt lớn nhất của chùa Dâu là ngay giữa sân trước Tiền đường có ngọn tháp Hòa Phong xây bằng gạch trần đứng sừng sững trên trục chính.

Tháp Hòa Phong

Khối tháp gạch trần vuông vức giữa sân, hiện còn ba tầng, cạnh đáy 6,75 mét, cao khoảng 15 mét (có nguồn ghi gần 17 mét). Tầng hai phía tây gắn biển đá xanh khắc ba chữ Hòa Phong tháp. Trong lòng tháp đặt bốn pho tượng Tứ Thiên Vương cao 1,6 mét ở bốn góc, treo quả chuông đồng đúc năm 1793 và chiếc khánh đồng đúc năm 1817. Trước bậc tam cấp cửa tây có đôi sóc đá thời Lê Trung Hưng, bên phải có tượng cừu đá, bên trái có tấm bia đá dựng năm 1738.

Tiền thất và Tiền đường

Tòa Tiền thất (Bái vọng đường) ngoài cùng có 7 gian 2 chái. Qua sân tháp Hòa Phong là tòa Tiền đường 7 gian 2 chái, phía trước còn lưu giữ bậc thềm chạm rồng đá mang phong cách thời Trần, bên trong đặt tượng Hộ Pháp, Đức Ông, Thánh Hiền và Bát Bộ Kim Cương.

Thiêu hương, Thượng điện và Hậu đường

Nối sau Tiền đường là nhà Thiêu hương (Ống muống) gồm 3 gian thờ Cửu Long, Thập Điện Diêm Vương cùng bàn thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Thái tử Kỳ Đà. Trong cùng của chữ Công là Thượng điện gồm 1 gian 2 chái với bốn góc đao cong và bộ vì kiểu giá chiêng mang phong cách thời Trần - Mạc, nơi tôn trí pho tượng Đại Thánh Pháp Vân Phật (bà Dâu) cao gần 2 mét cùng Kim Đồng, Ngọc Nữ, Bà Trắng, Bà Đỏ và hòm gỗ sơn son thờ khối đá Thạch Quang Phật. Phía sau cùng là tòa Hậu đường 9 gian 2 dĩ.

Hai dãy hành lang

Hai dãy nhà chạy dọc hai bên sườn chùa, mỗi bên hơn hai mươi gian nối Tiền thất với Hậu đường thành khung chữ Quốc, nơi bài trí hệ thống tượng Thập Bát La Hán với từng dáng vẻ sinh động.

Tượng cừu đá cổ

Đặt bên phải tháp Hòa Phong, pho tượng cừu đá dài 1,33 mét, cao 0,8 mét (tương truyền cùng một cặp với pho cừu đá ở lăng Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á), được nhiều nhà nghiên cứu coi là hiện vật điêu khắc đá cổ nhất còn lại tại chùa, phản ánh dấu ấn giao lưu văn hóa Ấn Độ - Trung Hoa thời Luy Lâu.

Bộ mộc bản gỗ thị

Bộ 107 ván khắc trên gỗ thị (hầu hết khắc hai mặt) lưu giữ tại chùa, san khắc từ năm 1752 tới năm 1859, gồm 13 bộ sách như Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, Âm chất văn, Mục Liên, Kim Cương, Di Đà và các bản sớ điệp cầu mưa, cầu tạnh.

Việc đặt tháp Hòa Phong ngay giữa sân, trên trục nhìn từ Tiền thất vào Tiền đường và Thượng điện, là một dấu ấn bố cục rất cổ. Ở phần lớn chùa Bắc Bộ các thế kỷ sau, tháp thường được đưa ra vườn tháp bên hông hoặc phía sau để trục chính thông suốt. Ở chùa Dâu, ngọn tháp vẫn đứng ở trung tâm sân trước, gợi nhớ cấu trúc chùa tháp thời cổ đại khi bảo tháp còn giữ vị trí trung tâm của không gian hành lễ.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm hay bị hiểu lầm là nhiều người cho rằng tháp Hòa Phong hiện nay nguyên là ngọn tháp chín tầng thời Trần còn sót lại ba tầng dưới. Theo hồ sơ di tích của Cục Di sản Văn hóa, khối tháp gạch đang đứng được xây dựng lại vào thời Lê Trung Hưng trên nền tháp cũ, dù ký ức dân gian vẫn gắn nó với công trình tháp chín tầng do Mạc Đĩnh Chi kiến tạo năm 1313. Chiều cao của tháp cũng được ghi nhận khác nhau, hồ sơ di tích ghi khoảng 15 mét trong khi một số bài viết ghi gần 17 mét.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm trên dải đất cao ráo giữa vùng Dâu ở phía nam sông Đuống, bên dòng sông Dâu cổ nối sông Đuống với vùng Luy Lâu. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi cao làm hậu chẩm thì chỗ dựa được thay bằng thế đất gò nổi cao hơn ruộng trũng chung quanh và bằng các mạch sông cổ bao bọc. Thành cổ Luy Lâu được chọn làm lỵ sở Giao Chỉ chính vì thế đất gò cao ráo, có sông Dâu và sông Đuống làm hào dẫn thủy tự nhiên cho thuyền bè giao thương. Ngôi chùa dựng ngay cạnh trung tâm ấy nên thừa hưởng trọn vẹn khí mạch của cả vùng đô thị cổ.

Xét theo ngũ hành, vùng đất này thuộc thế Thủy Thổ tương giao, nước sông bao quanh là Thủy, gò đất nổi giữa đồng bằng là Thổ. Thổ gặp Thủy bồi đắp thành phù sa nuôi sống nghề trồng dâu chăn tằm và trồng lúa nước. Bốn vị trong hệ Tứ Pháp lại đúng là bốn hiện tượng mây, mưa, sấm, chớp chi phối mùa màng. Đọc theo lối xưa thì vị thần được thờ tương ứng khít khao với tính chất của thổ nhưỡng, và đại lễ lớn nhất của chùa là lễ cầu mưa. Sự ăn khớp ấy trong phép xem đất gọi là đắc vị.

Về hướng, hồ sơ di tích ghi nhận toàn bộ khu chùa quay mặt về hướng tây, hướng của cõi Tây phương Cực Lạc trong nhà Phật và cũng là hướng nhìn về phía thành cổ Luy Lâu. Khoảng sân gạch rộng và bằng phẳng giữa Tiền thất và Tiền đường tạo thành một minh đường nội tự thoáng đãng. Riêng ngọn tháp Hòa Phong đặt ngay giữa minh đường ấy có thể đọc theo hai lớp nghĩa. Lớp thứ nhất theo phép trấn và bình phong, khối gạch trần nặng và vững chãi đứng chắn ở trung tâm giữ cho luồng khí từ cửa ngoài không xộc thẳng vào Tiền đường mà phải chia ra hai bên tả hữu rồi mới tụ lại, giống vai trò bức bình phong trong kiến trúc cổ truyền. Lớp thứ hai theo trục tâm linh, ngọn tháp là cột mốc định tâm của toàn bộ khu đất, nơi mọi bước chân hành hương đều đi vòng quanh chiêm bái.

Cuối cùng là bố cục vùng. Bốn ngôi chùa thờ bốn vị Tứ Pháp nằm rải trong cùng một dải đất dọc theo sông Dâu cổ, cộng thêm chùa Tổ ở Mẫn Xá thờ Phật Mẫu Man Nương, hợp thành một mạng lưới tâm linh hoàn chỉnh. Vào ngày hội mùng 8 tháng Tư, kiệu của các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều rước về tụ hội tại chùa Dâu để chầu chị Cả Pháp Vân rồi mới hoàn cung. Đọc theo con mắt phong thủy thì cả vùng Dâu vận hành như một tinh bàn có tâm và có vệ tinh, trong đó chùa Dâu giữ vị trí trung cung, đúng như tên gọi dân gian là chùa Cả.

VHội chùa Dâu và lệ rước Tứ Pháp

Hội chùa Dâu là hội Phật Đản cổ truyền gắn liền với lễ cầu mưa của cư dân nông nghiệp, mở vào đầu tháng Tư âm lịch ngay trước vụ mùa chứ không mở vào tháng Giêng như phần lớn hội xuân Bắc Bộ. Ngày hội chính là mùng 8 tháng Tư âm lịch (ngày sinh của Man Nương và ngày Phật thành đạo trong truyền thuyết Tứ Pháp), quy tụ nhân dân mười hai làng thuộc tổng Khương Tự xưa cùng khách thập phương.

Trình tự lễ hội vùng Dâu. Nghi lễ rước Phật Tứ Pháp quy mô liên làng từng gián đoạn gần ba mươi năm và đã được phục dựng trang trọng trong những mùa hội gần đây. Nguồn: Báo Nhân Dân và Cổng thông tin tỉnh Bắc Ninh..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Mùng 6 và mùng 7 tháng TưKhai hội và chuẩn bị rướcCác chùa trong hệ thống Tứ Pháp vùng Dâu mở cửa làm lễ mộc dục (lau rửa tượng thờ) và chuẩn bị đồ lộ bộ, cờ quạt, kiệu bát cống.
Mùng 8 tháng TưRước Phật Tứ Pháp tụ hộiĐoàn rước kiệu từ các chùa Pháp Vũ (chùa Đậu), Pháp Lôi (chùa Tướng), Pháp Điện (chùa Dàn) và chùa Tổ (thờ Phật Mẫu Man Nương) trẩy về hội tụ tại sân chùa Dâu.
Mùng 8 tháng TưTế lễ và múa gậy, múa rồngNghi thức dâng hương, đọc văn chúc cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, kèm các màn múa gậy (tưởng nhớ tích Khâu Đà La trao gậy thần cho Man Nương) và múa lân rồng.
Mùng 8 tháng TưLễ mẹ đuổi con và trò cướp nướcKiệu các vị Tứ Pháp chạy vòng quanh sân chùa trong tiếng trống chiêng rộn rã, cùng tục đua kiệu giữa Pháp Vũ và Pháp Lôi. Theo lệ vùng, nếu kiệu Pháp Vũ (thần Mưa) về trước thì năm ấy mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
Chiều mùng 8 và mùng 9 tháng TưRước hoàn cungCác đoàn kiệu làm lễ bái biệt tại chùa Dâu rồi rước trở về bản tự của mỗi làng, khép lại kỳ hội lớn của cả vùng Dâu - Luy Lâu.

Các nghi thức rước kiệu, múa gậy tích trượng và đua kiệu cướp nước tại sân chùa Dâu cho thấy rõ bản sắc của Phật giáo Luy Lâu. Một đại lễ Phật Đản mùng 8 tháng Tư kết hợp trọn vẹn với nghi thức cầu mưa và dự đoán thời tiết nông lịch chính là di sản sống động của cuộc hội nhập giữa Phật giáo Ấn Độ và văn minh lúa nước sông Hồng từ hai thiên niên kỷ trước.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu phố Khương Tự, phường Trí Quả (phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành cũ), tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Chùa nằm ở khu phố Khương Tự, phường Trí Quả (phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành cũ), tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội chừng ba mươi cây số về phía đông. Đi cùng tuyến có thể ghé thăm thành cổ Luy Lâu, chùa Tổ (Mẫn Xá), chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn và lăng Sĩ Nhiếp trong cùng vùng Dâu.
Toạ độ
21.0359, 106.0425
Khi tới nơi

Vài lệ cần lưu ý khi tới viếng chùa Dâu là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ nón khi bước vào các tòa điện thờ, đi vòng qua chứ không trèo lên bậc cửa tháp Hòa Phong, không chạm tay vào hệ thống tượng cổ Tứ Pháp, tượng cừu đá và các ván mộc bản. Hai dãy hành lang trưng bày tượng Thập Bát La Hán có lối đi hẹp, quý vị nên đi nhẹ nhàng theo một chiều để tránh vướng người khác. Việc chụp ảnh trong Thượng điện cần tuân theo quy định của ban quản lý di tích và không bật đèn chớp chiếu thẳng vào tượng sơn thếp cổ. Vào dịp hội mùng 8 tháng Tư âm lịch có nhiều đoàn rước kiệu chạy qua sân chùa, quý vị đứng dạt sang hai bên hành lang để nhường đường cho kiệu Phật.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Dâu

Contribute photos, information or video for Dau Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Dâu thờ ai

Trung tâm thờ tự trong Thượng điện là pho tượng Đại Thánh Pháp Vân Phật (bà Dâu, thần Mây), vị đứng đầu trong hệ Tứ Pháp gồm Pháp Vân (Mây), Pháp Vũ (Mưa), Pháp Lôi (Sấm) và Pháp Điện (Chớp), cùng hòm gỗ sơn son lưu giữ khối đá Thạch Quang Phật. Chùa vẫn bài trí hệ thống tượng Phật, Bồ Tát và Thập Bát La Hán theo truyền thống Bắc tông, cùng bàn thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở nhà Thiêu hương.

Chùa Dâu có thật sự là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam không

Chùa Dâu được tôn xưng rộng rãi là ngôi chùa cổ bậc nhất Việt Nam, gắn với trung tâm Phật giáo Luy Lâu đầu Công nguyên. Truyền thuyết và mộc bản tại chùa chép niên đại khởi dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, trong khi hồ sơ di tích của Cục Di sản Văn hóa ghi chùa dựng vào đầu thế kỷ thứ hai thời Sĩ Nhiếp. Về mặt kiến trúc hiện tồn trên mặt đất, các hạng mục hiện nay thuộc thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn (thế kỷ 17 tới 19) cùng một số dấu tích thời Trần - Mạc.

Tứ Pháp có phải là bốn vị Phật trong kinh điển Ấn Độ không

Không. Kinh điển Phật giáo Ấn Độ không có bốn vị này. Tứ Pháp là hệ thống thờ tự bản địa hình thành ngay tại vùng Luy Lâu - Giao Chỉ khi Phật giáo Ấn Độ dung hợp với tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên mây, mưa, sấm, chớp và tục thờ đá (Thạch Quang Phật) của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Tháp Hòa Phong cao bao nhiêu và có những hiện vật gì

Tháp Hòa Phong đứng giữa sân chùa, xây bằng gạch trần thời Lê Trung Hưng, hiện còn ba tầng với cạnh đáy 6,75 mét và chiều cao khoảng 15 mét (một số nguồn ghi gần 17 mét). Tầng hai phía tây gắn biển đá khắc chữ Hòa Phong tháp, trong lòng tháp có tượng Tứ Thiên Vương, chuông đồng đúc năm 1793 và khánh đồng đúc năm 1817. Quanh chân tháp có đôi sóc đá, tượng cừu đá cổ (dài 1,33 mét) và bia đá dựng năm 1738.

Chùa Dâu hiện lưu giữ những Bảo vật quốc gia nào

Chùa Dâu gắn với hai Bảo vật quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận gồm Nhóm tượng Phật Tứ Pháp vùng Dâu (công nhận tháng 12 năm 2017) và Bộ mộc bản chùa Dâu gồm 107 ván khắc trên gỗ thị có niên đại từ năm 1752 tới năm 1859 (công nhận tháng 1 năm 2024).

›Đọc Tiếp