Đi hết đoạn đường Thanh Niên kẹp giữa hai mặt nước, quý vị rẽ vào một lối nhỏ và bước lên dải đất nhô ra hồ Tây. Trước mắt là một tòa tháp mười một tầng màu gạch đỏ, cạnh đó là gốc bồ đề tán xòe kín một góc sân, phía sau là mái ngói của ba nếp nhà nối liền nhau. Cả ngôi chùa gói trong hơn ba nghìn mét vuông đất, ba mặt là nước hồ, chỉ còn một dải đường hẹp nối vào bờ.
Hà Nội có nhiều chùa rộng hơn Trấn Quốc, đông người hơn Trấn Quốc. Nhưng đây là ngôi chùa được coi là cổ nhất của đất Thăng Long, và nó cổ theo một cách riêng vì chùa không đứng yên một chỗ suốt mười lăm thế kỷ mà đã một lần dời chỗ, đã bốn lần mang những cái tên khác nhau, mỗi cái tên ứng với một cách nhìn của thời ấy về vai trò của ngôi chùa.

IBốn cái tên của một ngôi chùa
Ít ngôi chùa nào ở Việt Nam thay tên nhiều như nơi này, và cả bốn cái tên đều có một chữ chung là quốc hoặc một chữ mang ý trấn giữ. Tên đầu là Khai Quốc, nghĩa là mở nước. Tên thứ hai là An Quốc, nghĩa là làm cho nước yên. Tên thứ ba là Trấn Quốc, nghĩa là giữ nước. Tên thứ tư, đặt muộn nhất, là Trấn Bắc, nghĩa là giữ phương Bắc. Người đời sau chỉ quen dùng tên thứ ba.
Một ngôi chùa mang chữ quốc trong tên không phải chuyện lạ trong nhà Phật. Phật giáo Bắc tông có hẳn một dòng kinh gọi là kinh hộ quốc, dạy rằng nơi nào Chánh Pháp được giữ gìn thì nơi ấy dân yên, và việc một triều đình dựng chùa, cúng ruộng, cấp bạc trùng tu không chỉ là việc mộ đạo mà còn được hiểu là việc lo cho vận nước. Chữ trấn ở đây vì thế không mang nghĩa binh bị. Nó mang nghĩa trấn tĩnh, tức là làm cho lắng xuống và yên lại, cái được trấn không phải kẻ địch bên ngoài mà là sự loạn động của lòng người. Đặt tên như vậy, người xưa gửi vào ngôi chùa một trách nhiệm rộng hơn phạm vi một xóm làng.
Trên phương diện khảo được, mạch đổi tên như sau. Chùa dựng đời Lý Nam Đế (khoảng 541 tới 547) với tên Khai Quốc, trên bãi sông Hồng thuộc thôn Yến Duyên, phường Yên Hoa (nay thuộc khu vực phường Yên Phụ). Sang thế kỷ mười lăm chùa mang tên An Quốc, phần lớn tài liệu ghi việc này thuộc đời Lê Thái Tông (1434 tới 1442), nhưng có tài liệu lại ghi đời Lê Thánh Tông, và đây là một chỗ các nguồn không thống nhất. Tên Trấn Quốc xuất hiện đời Lê Hy Tông (khoảng 1680 tới 1705), riêng một số bài lại chép năm 1628 đời Lê Thần Tông, sớm hơn hẳn, nên quý vị đọc thấy hai mốc khác nhau thì không phải do nhầm. Năm 1842, vua Thiệu Trị ra Bắc tuần thú đã đổi tên chùa thành Trấn Bắc, nhưng dân quanh vùng vẫn gọi tên cũ, và tên Trấn Quốc sống tới hôm nay.
IITừ bãi sông Hồng vào gò Kim Ngư
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, chùa Khai Quốc là một trung tâm Phật giáo lớn của kinh thành. Nơi đây từng là chốn tu học của Khuông Việt đại sư (Ngô Chân Lưu) dưới sự chỉ dạy của Thiền sư Văn Phong thuộc thế hệ thứ tư dòng thiền Vô Ngôn Thông, và sang thời Lý, Linh Nhân Hoàng thái hậu Ỷ Lan cũng nhiều lần mở tiệc chay và hội đàm kinh nghĩa với các bậc chân tu tại chùa. Biến cố đáng kể nhất trong lịch sử ngôi chùa là chuyện dời chỗ. Chùa vốn dựng ngoài bãi sông Hồng, nước sông năm này qua năm khác ăn vào bờ, tới năm 1615 đời Lê Kính Tông thì bãi lở tới sát chân chùa. Dân làng phải dời chùa vào bên trong đê Yên Phụ, đặt lên gò đảo Kim Ngư (tức đảo Cá Vàng) giữa hồ Tây, vốn là nền cũ của cung Thúy Hoa thời Lý và điện Hàn Nguyên (hay Hàm Nguyên) thời Trần. Ít lâu sau, vào đầu thời Lê Thần Tông, dân hai phường Yên Phụ và Yên Quang đắp con đê Cố Ngự (đường Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên) nối đảo Kim Ngư với bờ, ngăn hồ Tây với hồ Trúc Bạch.
- 541 tới 547Dựng chùa Khai QuốcChùa dựng đời Lý Nam Đế trên bãi sông Hồng thuộc phường Yên Hoa, mang tên Khai Quốc. Các nguồn ghi mốc khởi dựng khác nhau, chỗ ghi 541, chỗ ghi 544.
- 1434 tới 1442Đổi tên An QuốcChùa mang tên An Quốc, phần lớn tài liệu xếp việc này vào đời Lê Thái Tông.
- 1615Dời vào đảo Kim NgưBãi sông Hồng sạt lở sát chân chùa, dân làng dời chùa vào trong đê Yên Phụ, dựng trên đảo Kim Ngư giữa hồ Tây (nền cũ cung Thúy Hoa thời Lý và điện Hàn Nguyên thời Trần). Một số tài liệu ghi năm 1616 niên hiệu Hoằng Định đời Lê Kính Tông.
- 1639Trùng tu lớn và dựng biaSau các đợt sửa chữa năm 1624 và 1628, chùa được chúa Trịnh Tráng và vua Lê Thần Tông cho trùng tu quy mô năm 1639, dựng hậu đường, gác chuông và hành lang tả hữu. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính (khoa Đinh Sửu 1637) soạn văn bia ghi lại công việc ấy.
- 1680 tới 1705Mang tên Trấn QuốcĐời Lê Hy Tông, chùa mang tên Trấn Quốc, cái tên được dùng lâu nhất và còn giữ tới nay.
- 1813 tới 1815Trùng tu và đúc chuông thời Gia LongChùa được đại trùng tu từ năm 1813 và hoàn thành năm Ất Hợi (1815, niên hiệu Gia Long thứ 14), đúc đại hồng chung, tô tượng và dựng tấm bia đá do Tiến sĩ Phạm Quý Thích (Phạm Lập Trai) soạn văn.
- 1842Đổi tên Trấn BắcVua Thiệu Trị ra Bắc ngự giá thăm chùa, ban một đồng tiền vàng lớn cùng hai trăm quan tiền (có nguồn ghi 299 quan tiền) để tu bổ và đổi tên thành Trấn Bắc. Trước đó, năm 1821, vua Minh Mạng từng ban hai mươi lạng bạc sửa chùa.
- 1962Xếp hạng di tích quốc giaChùa được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962 (một số bài báo ghi nhầm thành năm 1989).
- 1998Dựng bảo tháp Lục Độ Đài SenHòa thượng Kim Cương Tử (Viện chủ Tổ đình Trấn Quốc) cho khởi dựng tòa bảo tháp mười một tầng cao 15 mét đối diện gốc bồ đề, hoàn thiện vào năm 2003.
Con số 541 hay 544 mà quý vị thấy ghi khắp nơi không đến từ một văn bia đương thời nào. Đó là niên đại rút ra từ các bộ sử và tư liệu soạn muộn hơn nhiều thế kỷ, rồi được dùng lại. Giới nghiên cứu tới nay vẫn còn bàn rằng ngôi chùa đời Lý Nam Đế và ngôi chùa trên đảo Kim Ngư hôm nay nối nhau bằng tên gọi, pháp mạch và ký ức lịch sử hơn là bằng vật liệu hay nền móng gốc. Thư viện ghi con số ấy như một mốc truyền thống được lưu truyền, không ghi như một niên đại đã được kiểm chứng bằng khảo cổ học tại chỗ.
IIIKiến trúc, bia đá và cây bồ đề
Toàn khu chùa rộng hơn ba nghìn mét vuông, dựng theo lối nội Công ngoại Quốc quen thuộc của chùa Bắc Bộ. Ba nếp nhà chính gồm tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối nhau thành hình chữ Công, hai bên có dãy hành lang tả hữu ôm lấy, phía sau là gác chuông, nhà tổ và nhà bia. Điều đáng để ý là tiền đường quay về hướng Tây, tức quay ra mặt hồ Tây, chứ không quay thẳng ra trục đường Thanh Niên.
Nếp nhà ngoài cùng quay hướng Tây ra mặt hồ Tây, hướng của cõi Cực Lạc trong tín ngưỡng Tịnh Độ. Đây cũng là nơi đặt hệ thống tượng thờ phong phú, nổi bật có pho tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ sơn son thếp vàng.
Hai nếp nhà trong nối với tiền đường thành hình chữ Công. Thượng điện là nơi đặt các pho tượng Tam Thế, A Di Đà, Quan Âm cùng bộ tượng Thập Điện Diêm Vương với không gian trầm mặc và thâm nghiêm.
Phía sau thượng điện là gác chuông ba gian mái chồng diêm nằm trên trục chính. Bên phải gác chuông là nhà tổ thờ chư vị Tổ sư trụ trì qua các thời kỳ, bên trái là nhà bia.
Vườn tháp cổ phía sau lưu giữ nhiều bảo tháp mộ của chư vị cao tăng từ thế kỷ mười tám (niên hiệu Vĩnh Hựu, Cảnh Hưng) tới thế kỷ hai mươi. Nhà bia giữ mười bốn tấm bia đá ghi các lần trùng tu cùng thơ văn của nhiều danh sĩ.
Tháp mười một tầng, cao 15 mét, diện tích đáy 10,5 mét vuông, do Hòa thượng Kim Cương Tử dựng năm 1998. Mỗi tầng mở sáu ô cửa vòm, mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý trắng (tổng cộng 66 pho), đỉnh tháp đặt đài sen chín tầng (Cửu phẩm liên hoa) bằng đá quý.
Tấm bia năm 1639 và cây bồ đề Ấn Độ
Trong mười bốn tấm bia của chùa, tấm được nhắc tới nhiều nhất là bia dựng năm 1639 (niên hiệu Dương Hòa thứ 5 đời Lê Thần Tông), do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn văn. Bia ghi việc dân làng dời chùa từ bãi sông Hồng vào đảo Kim Ngư năm 1615 và đợt trùng tu lớn năm 1639. Đây là chứng cứ vật chất sớm nhất còn lại xác nhận thời điểm ngôi chùa đứng trên gò đảo giữa hồ Tây. Bên cạnh tấm bia ấy, chùa còn giữ tấm bia năm 1815 (Gia Long thứ 14) do Tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn, ghi lại đợt đại trùng tu kéo dài từ năm 1813 tới năm 1815.
Ở sân trước, đối diện bảo tháp Lục Độ Đài Sen, là gốc bồ đề cành lá sum suê mà khách hành hương thường dừng lại chiêm bái. Cây được chiết từ cây bồ đề đại thụ tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) ở Ấn Độ, nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, do Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad trao tặng nhân chuyến thăm Hà Nội ngày 24 tháng 3 năm 1959. Trong tiền đường còn có pho tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ sơn son thếp vàng có từ thời Lê Trung Hưng, được nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật đánh giá là một trong những pho tượng Niết Bàn đẹp bậc nhất Việt Nam.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong sử sách. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết là cái tên của mảnh đất. Chùa đứng trên gò đảo Kim Ngư, nghĩa là Cá Vàng. Trong phép xem đất của vùng đồng bằng, một gò nổi lên giữa mặt nước được gọi là thủy trung huyệt, tức chỗ đất kết nằm giữa nước. Người xưa quý thế ấy vì nước bao quanh thì khí không có đường tản ra ngoài, phải quẩn lại trên gò. Việc các triều Lý, Trần từng dựng cung Thúy Hoa, điện Hàn Nguyên tại đây rồi dân làng chọn đúng gò này để dời chùa vào năm 1615, theo cách nhìn ấy, không phải chuyện ngẫu nhiên.
Thứ hai là chuyện dời chùa. Chùa cũ dựng ngoài bãi sông Hồng, chỗ nước chảy xiết và bờ lở dần. Trong phong thủy, nước có hai mặt đối nhau là nước tụ thì sinh, còn nước chảy xiết cắt vào đất (phản cung, cát cước) thì phá. Bãi sông bị ăn mòn là hình ảnh rất rõ của mặt thứ hai. Dời từ chỗ nước chảy xiết sang chỗ nước hồ phẳng lặng, xét về nghĩa phong thủy, là dời từ thế bị bào mòn sang thế được ôm giữ. Đây cũng là chỗ mà kinh nghiệm sống và phép xem đất trùng khớp với nhau, vì cái lý thực tế của việc tránh sạt lở và cái lý của sách vở dẫn tới cùng một quyết định.
Thứ ba là hướng. Tiền đường quay về phía Tây, tức quay ra mặt hồ Tây rộng mở, còn lối vào từ đường Thanh Niên lại đi từ phía đông vào rồi rẽ ngang. Người đến chùa vì thế đi vòng qua sân trước, chứ không đi thẳng một mạch từ cổng đường lớn đâm vào chính điện. Lối đi uốn khúc ấy trong phép xem đất được coi là có lợi, vì khí đi thẳng thì gấp và không đọng, khí phải uốn thì chậm lại và tụ. Về nghĩa nhà Phật thì hướng Tây là phương của cõi Cực Lạc, hai lớp ý nghĩa này chồng lên nhau ở cùng một hướng nhà và làm cho cách bố trí ở đây trở nên chặt chẽ.
Cuối cùng là minh đường, tức khoảng trống trước mặt nơi thờ tự. Ở đây minh đường không chỉ là mảnh sân gạch mà mở rộng ra cả mặt hồ Tây mênh mông, bằng phẳng, không có vật cản. Sách xưa gọi thế này là minh đường quảng đại, chỗ đủ rộng để thủy khí quy tụ trước khi vào nhà. Đặt cạnh nhau, ba yếu tố gồm gò đất giữa nước, hướng nhà quay về Tây và mặt hồ làm minh đường tạo thành một cục thế hoàn chỉnh theo lối đọc cổ truyền. Thư viện ghi điều này như một cách đọc hình thế, không phải như ý đồ đã được người dời chùa chép thành lời.
VLễ và lệ trong năm
Trấn Quốc là ngôi chùa đang hành đạo, thuộc Phật giáo Bắc tông, nên giữ đủ các ngày lễ chung của dòng này, tất cả đều tính theo âm lịch. Chùa không có một lễ hội dân gian riêng mang tên mình như các đền làng, mà nhịp lễ tiết trong năm đi theo lịch hành trì chung của nhà Phật.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Đêm giao thừa và mùng một Tết | Lễ đầu năm | Đêm chuyển năm và ngày đầu năm là lúc chùa đông nhất, nhiều người Hà Nội giữ lệ tới đây lễ Phật đầu xuân. |
| Rằm tháng Giêng | Thượng Nguyên | Lễ cầu an đầu năm, một trong ba ngày rằm lớn của năm. |
| Rằm tháng Tư | Phật Đản | Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có nghi thức tắm Phật trang nghiêm. |
| Rằm tháng Bảy | Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ và cầu siêu tiên tổ, kèm lễ xá tội vong nhân theo lệ tháng Bảy. |
| Rằm tháng Mười | Hạ Nguyên | Lễ cuối trong ba ngày Tam nguyên của năm, mang ý tạ ơn và cầu an. |
Ngoài những ngày trên, chùa rất đông vào các ngày rằm và mùng một hằng tháng. Vì nằm ngay trên trục đường đi bộ quanh hồ Tây, nơi này có hai lớp khách gồm người tới lễ Phật và du khách vãng cảnh. Nhà chùa vì thế phân định khá rõ khu vực nội tự thờ phụng với khu vực sân vườn bên ngoài, và quý vị nên lưu ý ranh giới ấy khi tham quan.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Thanh Niên, phường Yên Phụ cũ, quận Tây Hồ cũ, Hà Nội
- Đường tới
- Chùa nằm trên đảo Kim Ngư cạnh đường Thanh Niên, phía đông nam hồ Tây, sát ranh hồ Trúc Bạch (khu vực phường Yên Phụ, quận Tây Hồ cũ, Hà Nội). Quý vị có thể đi bộ từ đền Quán Thánh dọc theo đường Thanh Niên là tới.
- Toạ độ
- 21.0479, 105.8368
Đây là chốn tổ đình đang sinh hoạt tôn giáo chứ không phải một điểm ngắm cảnh thuần túy. Lệ của chùa quy định khách tới viếng cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ nón và tháo giày dép theo chỉ dẫn khi bước vào các nếp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở khu vực thượng điện, không chạm tay vào tượng cổ, bia đá và các pho tượng đá quý ở bảo tháp. Việc thắp hương xin thực hiện tại lư hương ngoài sân theo hướng dẫn để tránh khói hương làm hại tượng gỗ cổ bên trong. Quý vị không trèo lên bệ tháp và không đặt tiền lẻ hay lễ vật lên bia đá.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Trấn Quốc
Contribute photos, information or video for Tran Quoc PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Trấn Quốc có phải chùa cổ nhất Hà Nội không
Chùa được coi là cổ nhất của đất Thăng Long, tính theo mốc khởi dựng chùa Khai Quốc đời Lý Nam Đế trong khoảng các năm 541 tới 547. Cần lưu ý rằng mốc ấy rút từ thư tịch biên soạn về sau chứ không từ văn bia thế kỷ thứ sáu, và ngôi chùa hiện nay đã được dời từ bãi sông Hồng vào đảo Kim Ngư giữa hồ Tây từ năm 1615.
Vì sao chùa lại đổi tên nhiều lần như vậy
Chùa lần lượt mang bốn tên gồm Khai Quốc khi mới dựng thời Lý Nam Đế, An Quốc vào thế kỷ mười lăm, Trấn Quốc từ đời Lê Hy Tông, và Trấn Bắc do vua Thiệu Trị đặt năm 1842. Mỗi lần đổi tên gắn với một lần triều đình tu bổ hoặc ngự thăm chùa. Dân quanh vùng vẫn quen gọi tên Trấn Quốc nên tên ấy sống lâu nhất.
Chùa dời từ đâu vào đảo Kim Ngư và vào năm nào
Chùa vốn dựng trên bãi sông Hồng thuộc thôn Yến Duyên, phường Yên Hoa. Do bờ sông sạt lở sát chân chùa, vào năm 1615 (một số tài liệu ghi 1616, niên hiệu Hoằng Định đời Lê Kính Tông), dân làng đã dời chùa vào trong đê Yên Phụ, dựng trên gò đảo Kim Ngư (đảo Cá Vàng) giữa hồ Tây, nơi từng là nền cũ cung Thúy Hoa thời Lý và điện Hàn Nguyên thời Trần.
Bảo tháp Lục Độ Đài Sen có gì bên trong
Tháp cao 15 mét, gồm mười một tầng, diện tích đáy 10,5 mét vuông, do Hòa thượng Kim Cương Tử dựng năm 1998 đối diện gốc bồ đề. Mỗi tầng mở sáu ô cửa vòm, mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý trắng, tổng cộng 66 pho tượng. Trên đỉnh tháp là đài sen chín tầng (Cửu phẩm liên hoa) cũng tạc bằng đá quý.
Cây bồ đề trong sân chùa có nguồn gốc từ đâu
Cây được chiết từ cây bồ đề đại thụ tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) ở Ấn Độ, nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, và được Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad trao tặng nhân chuyến thăm Hà Nội ngày 24 tháng 3 năm 1959.