VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Trấn Quốc

鎮國寺 · Khai Quốc Tự, An Quốc Tự, Trấn Bắc

Ngôi chùa được coi là cổ nhất đất Thăng Long, đứng trên một gò đất bốn bề là nước, đã một lần dời chỗ và bốn lần mang tên khác nhau.

Khởi dựng
541 tới 547
đời Lý Nam Đế, tên đầu là Khai Quốc
Dời vào gò Kim Ngư
1615
do bãi sông Hồng bị lở
Bảo tháp
11 tầng
lục độ đài sen, cao 15 mét, dựng năm 1998

Đi hết đoạn đường Thanh Niên kẹp giữa hai mặt nước, quý vị rẽ vào một lối nhỏ và bước lên dải đất nhô ra hồ Tây. Trước mắt là một tòa tháp mười một tầng màu gạch đỏ, cạnh đó là gốc bồ đề tán xòe kín một góc sân, phía sau là mái ngói của ba nếp nhà nối liền nhau. Cả ngôi chùa gói trong hơn ba nghìn mét vuông đất, ba mặt là nước hồ, chỉ còn một dải hẹp nối vào bờ.

Hà Nội có nhiều chùa rộng hơn Trấn Quốc, đông người hơn Trấn Quốc. Nhưng đây là ngôi chùa được coi là cổ nhất của đất Thăng Long, và nó cổ theo một cách riêng: chùa không đứng yên một chỗ suốt mười lăm thế kỷ mà đã một lần dời chỗ, đã bốn lần mang những cái tên khác nhau, mỗi cái tên ứng với một cách nhìn của thời ấy về vai trò của ngôi chùa.

Chùa Trấn Quốc
Chùa Trấn Quốc. Ảnh: Rolfmueller, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Bốn Cái Tên Của Một Ngôi Chùa

Ít ngôi chùa nào ở Việt Nam thay tên nhiều như nơi này, và cả bốn cái tên đều có một chữ chung là quốc hoặc một chữ mang ý trấn giữ. Tên đầu là Khai Quốc, nghĩa là mở nước. Tên thứ hai là An Quốc, nghĩa là làm cho nước yên. Tên thứ ba là Trấn Quốc, nghĩa là giữ nước. Tên thứ tư, đặt muộn nhất, là Trấn Bắc, nghĩa là giữ phương Bắc. Người đời sau chỉ quen dùng tên thứ ba.

Theo giáo nghĩa

Một ngôi chùa mang chữ quốc trong tên không phải chuyện lạ trong nhà Phật. Phật Giáo Bắc Tông có hẳn một dòng kinh gọi là kinh hộ quốc, dạy rằng nơi nào Chánh Pháp được giữ gìn thì nơi ấy dân yên, và việc một triều đình dựng chùa, cúng ruộng, cấp bạc trùng tu không chỉ là việc mộ đạo mà còn được hiểu là việc lo cho vận nước. Chữ trấn ở đây vì thế không mang nghĩa binh bị. Nó mang nghĩa trấn tĩnh, tức là làm cho lắng xuống và yên lại; cái được trấn không phải kẻ địch bên ngoài mà là sự loạn động của lòng người. Đặt tên như vậy, người xưa gửi vào ngôi chùa một trách nhiệm rộng hơn phạm vi một xóm làng.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, mạch đổi tên như sau. Chùa dựng đời Lý Nam Đế với tên Khai Quốc, trên bãi sông Hồng thuộc làng Yên Hoa. Sang thế kỷ mười lăm chùa mang tên An Quốc; phần lớn tài liệu ghi việc này thuộc đời Lê Thái Tông, khoảng các năm 1434 tới 1442, nhưng có tài liệu lại ghi đời Lê Thánh Tông, và đây là một chỗ các nguồn không thống nhất. Tên Trấn Quốc xuất hiện đời Lê Hy Tông, tức khoảng 1680 tới 1705; riêng một số bài lại chép năm 1628, sớm hơn hẳn, nên quý vị đọc thấy hai mốc khác nhau thì không phải do nhầm. Năm 1842, vua Thiệu Trị đổi tên thành Trấn Bắc, nhưng dân quanh vùng vẫn gọi tên cũ, và tên cũ sống tới hôm nay.

Từ Bãi Sông Hồng Vào Gò Kim Ngư

Chuyện đáng kể nhất trong lịch sử ngôi chùa này là chuyện dời chỗ. Chùa vốn dựng ngoài bãi sông Hồng; nước sông năm này qua năm khác ăn vào bờ, tới đầu thế kỷ mười bảy thì bãi lở tới sát chân chùa, dân làng phải khiêng chùa vào bên trong hồ Tây, đặt lên gò Kim Ngư, tức gò Cá Vàng. Từ đó ngôi chùa có được cái thế đứng giữa nước mà quý vị thấy hôm nay.

  • 541 tới 547Dựng chùa Khai Quốc
    Chùa dựng đời Lý Nam Đế trên bãi sông Hồng thuộc làng Yên Hoa, mang tên Khai Quốc. Các nguồn ghi mốc khởi dựng khác nhau, chỗ ghi 541, chỗ ghi 544.
  • 1434 tới 1442Đổi tên An Quốc
    Chùa mang tên An Quốc, phần lớn tài liệu xếp việc này vào đời Lê Thái Tông.
  • 1615Dời vào gò Kim Ngư
    Bãi sông lở nặng, dân làng dời chùa vào gò Kim Ngư giữa hồ Tây. Một số tài liệu ghi năm 1616 và gắn với đời Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định.
  • 1639Trùng tu lớn và dựng bia
    Đời Lê Thần Tông, chùa được trùng tu quy mô. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn văn bia ghi lại công việc ấy; tấm bia này tới nay vẫn được coi là tấm quý nhất trong chùa.
  • 1680 tới 1705Mang tên Trấn Quốc
    Đời Lê Hy Tông, chùa mang tên Trấn Quốc, cái tên được dùng lâu nhất và còn giữ tới nay.
  • 1842Đổi tên Trấn Bắc
    Vua Thiệu Trị ra Bắc, ban tiền tu bổ và đặt tên Trấn Bắc. Trước đó, năm 1821, vua Minh Mạng từng ban hai mươi lạng bạc để sửa chùa.
  • 1962Xếp hạng di tích quốc gia
    Chùa được xếp hạng di tích theo Quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962. Một số tài liệu lại ghi mốc xếp hạng là năm 1989, đây là chỗ các nguồn chưa khớp nhau.
  • 1998Dựng bảo tháp lục độ đài sen
    Tòa bảo tháp mười một tầng cao 15 mét được dựng đối diện gốc bồ đề. Có tài liệu ghi công việc kéo dài tới năm 2003 mới xong.
Chỗ hay hiểu lầm

Con số 541 hay 544 mà quý vị thấy ghi khắp nơi không đến từ một văn bia đương thời nào. Đó là niên đại rút ra từ các bộ sử và tư liệu soạn muộn hơn nhiều thế kỷ, rồi được dùng lại. Giới nghiên cứu tới nay vẫn còn bàn: có ý kiến cho rằng ngôi chùa đời Lý Nam Đế và ngôi chùa trên gò Kim Ngư hôm nay chỉ nối nhau bằng tên gọi và ký ức chứ không nối nhau bằng vật liệu hay nền móng. Chúng tôi ghi con số ấy như một mốc được truyền lại, không ghi như một sự kiện đã được kiểm chứng bằng khảo cổ.

Kiến Trúc, Bia Đá Và Cây Bồ Đề

Toàn khu chùa rộng hơn ba nghìn mét vuông, dựng theo lối quen của chùa Bắc Bộ. Ba nếp nhà chính gồm tiền đường, nhà thiêu hươngthượng điện nối nhau thành hình chữ Công, hai bên có dãy hành lang ôm lấy, phía sau là gác chuông, nhà tổ và nhà bia. Điều đáng để ý là tiền đường quay về hướng Tây, tức quay ra mặt hồ, chứ không quay ra lối vào.

Tiền đường

Nếp nhà ngoài cùng, quay hướng Tây ra mặt hồ Tây. Hướng này theo lệ nhà Phật, vì phương Tây là phương của cõi Cực Lạc trong tín ngưỡng Tịnh Độ.

Nhà thiêu hương và thượng điện

Hai nếp nhà trong, nối với tiền đường thành hình chữ Công. Thượng điện là nơi đặt các pho tượng chính; không gian hẹp và tối hơn ngoài, theo đúng nhịp dẫn người từ sáng vào tối của chùa cổ.

Gác chuông và nhà tổ

Gác chuông ba gian dựng trên trục sau của chùa. Nhà tổ thờ các vị sư từng trụ trì, giữ mạch truyền thừa của chốn này.

Vườn tháp và nhà bia

Khu tháp mộ của chư vị tăng, phần lớn thuộc thế kỷ mười tám và mười chín. Nhà bia giữ mười bốn tấm bia đá ghi các lần trùng tu cùng thơ văn của nhiều danh sĩ.

Bảo tháp lục độ đài sen

Tháp mười một tầng, cao 15 mét, dựng năm 1998. Mỗi tầng mở sáu ô cửa vòm, mỗi ô đặt một pho tượng A Di Đà bằng đá quý, cộng lại 66 pho; trên đỉnh là một tòa cửu phẩm liên hoa cũng bằng đá quý.

Tấm bia năm 1639 và cây bồ đề

Trong mười bốn tấm bia của chùa, tấm được nhắc tới nhiều nhất là bia dựng năm 1639, do trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn văn. Bia ghi việc trùng tu đời Lê Thần Tông, và giá trị của nó không chỉ ở chữ nghĩa: đây là một trong những chứng cứ vật chất sớm nhất còn lại cho biết ngôi chùa đã đứng trên gò Kim Ngư từ bao giờ. Bên cạnh tấm ấy, chùa còn giữ một tấm bia năm 1815 do danh sĩ Phạm Quý Thích soạn.

Ở sân trước, gần chân bảo tháp, là gốc bồ đề mà nhiều người tới chùa đều dừng lại. Cây được chiết từ gốc bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng bên Ấn Độ, tức nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, và được đưa sang trồng tại đây năm 1959. Trong chùa còn một pho tượng đáng chú ý khác là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng, được nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật xếp vào hàng những pho tượng Niết Bàn đẹp nhất Việt Nam.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong sử sách. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là cái tên của mảnh đất. Chùa đứng trên gò Kim Ngư, nghĩa là Cá Vàng. Trong phép xem đất của đồng bằng, một gò nổi lên giữa mặt nước được gọi là thủy trung huyệt, tức chỗ đất kết nằm giữa nước. Người xưa quý thế ấy vì nước bao quanh thì khí không có đường tản ra ngoài, phải quẩn lại trên gò. Việc dân làng chọn đúng gò này chứ không chọn một bờ đất nào khác trên hồ, theo cách nhìn ấy, không phải chuyện tiện tay.

Thứ hai là chuyện dời chùa. Chùa cũ dựng ngoài bãi sông Hồng, chỗ nước chảy xiết và bờ lở dần. Trong phong thủy, nước có hai mặt đối nhau: nước tụ thì sinh, nước chảy xiết cắt vào đất thì phá. Bãi sông bị ăn mòn là hình ảnh rất rõ của mặt thứ hai. Dời từ chỗ nước chảy sang chỗ nước đứng, xét về nghĩa phong thủy, là dời từ thế bị bào mòn sang thế được ôm giữ. Đây cũng là chỗ mà kinh nghiệm sống và phép xem đất trùng khớp với nhau, vì cái lý thực tế của việc tránh sạt lở và cái lý của sách vở dẫn tới cùng một quyết định.

Thứ ba là hướng. Tiền đường quay về phía Tây, tức quay ra mặt hồ rộng, còn lối vào lại nằm ở phía đối diện. Người đến chùa vì thế đi vòng, chứ không đi thẳng một mạch từ cổng vào chính điện. Lối đi vòng ấy trong phép xem đất được coi là có lợi, vì khí đi thẳng thì đi nhanh và không đọng, khí phải uốn thì chậm lại và tụ. Về nghĩa nhà Phật thì hướng Tây là phương Cực Lạc; hai lớp ý nghĩa này chồng lên nhau ở cùng một hướng nhà, và đó là điều làm cho cách bố trí ở đây thành ra chặt chẽ.

Cuối cùng là minh đường, tức khoảng trống trước mặt nơi thờ tự. Ở đây minh đường không phải một mảnh sân mà là cả mặt hồ Tây, rộng và bằng, không có gì chắn. Sách vở gọi thế này là minh đường quảng đại, chỗ đủ rộng để khí dừng lại trước khi vào nhà. Đặt cạnh nhau, ba thứ là gò đất giữa nước, hướng nhà quay ra hồ và mặt nước làm minh đường tạo thành một thế mà theo lối đọc cổ truyền là đầy đủ. Chúng tôi ghi điều này như một cách đọc, không phải như ý đồ đã được người dời chùa nói ra thành lời.

Lễ Và Lệ Trong Năm

Trấn Quốc là ngôi chùa đang hành đạo, thuộc Bắc Tông, nên giữ đủ các ngày lễ chung của dòng này, tất cả đều tính theo âm lịch. Chùa không có một lễ hội riêng mang tên mình như các đền làng, mà nhịp trong năm đi theo lịch lễ chung của nhà Phật.

Các ngày lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông mà chùa giữ theo lệ.
Ngày âm lịchLễNội dung
Đêm giao thừa và mùng một TếtLễ đầu nămĐêm chuyển năm và ngày đầu năm là lúc chùa đông nhất, nhiều người Hà Nội giữ lệ tới đây trước khi đi các chùa khác.
Rằm tháng GiêngThượng NguyênLễ cầu an đầu năm, một trong ba ngày rằm lớn của năm.
Rằm tháng TưPhật ĐảnKỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có lễ tắm Phật.
Rằm tháng BảyVu LanLễ báo hiếu và cầu siêu, kèm lễ Trung Nguyên theo lệ dân gian.
Rằm tháng MườiHạ NguyênLễ cuối trong ba ngày nguyên của năm, mang ý tạ ơn và cầu an.

Ngoài những ngày trên, chùa đông vào các ngày rằm và mùng một hằng tháng. Vì nằm ngay trên trục đường đi bộ quanh hồ, nơi này có một lớp khách riêng: người tới lễ và người chỉ đi ngang rồi ghé vào. Nhà chùa vì thế phân định khá rõ khu vực thờ tự với khu vực sân vườn, và quý vị nên để ý ranh giới ấy.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội
Đường tới
Chùa nằm trên đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, phía đông nam hồ Tây, sát ranh hồ Trúc Bạch. Đi bộ được từ đền Quán Thánh theo dọc đường Thanh Niên.
Toạ độ
21.0479, 105.8378
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải một điểm ngắm cảnh. Lệ của chùa: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày theo chỉ dẫn khi vào các nếp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không chạm tay vào tượng, bia đá và các pho tượng đá quý trong bảo tháp. Việc thắp nhang xin theo hướng dẫn tại chỗ vì nhà chùa hạn chế khói. Không trèo lên bệ tháp và không đặt lễ vật lên bia.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Trấn Quốc có phải chùa cổ nhất Hà Nội không

Chùa được coi là cổ nhất của đất Thăng Long, tính theo mốc khởi dựng đời Lý Nam Đế trong khoảng các năm 541 tới 547. Cần lưu ý rằng mốc ấy rút từ tư liệu soạn muộn chứ không từ văn bia đương thời, và ngôi chùa hiện nay đứng ở một chỗ khác với chỗ dựng ban đầu.

Vì sao chùa lại đổi tên nhiều lần như vậy

Chùa lần lượt mang bốn tên: Khai Quốc khi mới dựng, An Quốc vào thế kỷ mười lăm, Trấn Quốc từ đời Lê Hy Tông, và Trấn Bắc do vua Thiệu Trị đặt năm 1842. Mỗi lần đổi tên gắn với một lần triều đình can dự vào việc chùa. Dân quanh vùng chỉ quen dùng tên Trấn Quốc nên tên ấy sống lâu nhất.

Chùa dời từ đâu vào gò Kim Ngư và vào năm nào

Chùa vốn dựng trên bãi sông Hồng thuộc làng Yên Hoa. Bãi sông lở dần, tới đầu thế kỷ mười bảy thì dân làng dời chùa vào gò Kim Ngư, tức gò Cá Vàng, giữa hồ Tây. Phần lớn tài liệu ghi năm 1615, một số ghi năm 1616 và gắn việc này với đời Lê Kính Tông.

Bảo tháp lục độ đài sen có gì bên trong

Tháp cao 15 mét, gồm mười một tầng, dựng năm 1998, đứng đối diện gốc bồ đề. Mỗi tầng mở sáu ô cửa vòm, mỗi ô đặt một pho tượng A Di Đà bằng đá quý, cộng lại 66 pho. Trên đỉnh tháp là một tòa cửu phẩm liên hoa cũng tạc bằng đá quý.

Cây bồ đề trong sân chùa có gốc từ đâu

Cây được chiết từ gốc bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng bên Ấn Độ, nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, rồi đưa sang trồng ở chùa năm 1959. Trong nhà Phật, cây bồ đề không chỉ là cây bóng mát mà là vật nhắc lại nơi chốn của sự giác ngộ, nên các chùa lớn thường trồng một gốc ở sân trước.

Đọc Tiếp