壹Đọc Nhanh Trong Năm Câu
Cao Đài là tôn giáo do người Việt lập ra trên đất Việt trong thế kỷ hai mươi, không du nhập từ nơi khác. Cần nói điều đó trước tiên, vì phần lớn những trang viết về đạo này thường mở đầu bằng cái lạ chứ ít khi bằng sự thật giản dị ấy.
Một. Tên đầy đủ của đạo là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nghĩa là nền đại đạo mở kỳ phổ độ thứ ba. Cao Đài 高臺 nghĩa đen là cái đài cao, ở đây là danh xưng gọi Đấng tối cao, rồi thành tên thường ngày của cả nền đạo.
Hai. Đạo hình thành ở Nam Kỳ trong hai năm 1925 và 1926, nộp Tờ Khai Đạo cho chính quyền ngày 7 tháng 10 năm 1926, rồi làm đại lễ khai đạo tại chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh vào tháng 10 năm Bính Dần, tức tháng 11 năm 1926.
Ba. Hạt nhân giáo lý nằm ở tám chữ quy nguyên Tam Giáo, phục nhất Ngũ Chi. Cao Đài không tự nhận là đạo mới dựng lên thay các đạo cũ, mà nhận mình là kỳ phổ độ thứ ba nối tiếp hai kỳ trước, trong đó Đức Chí Tôn trực tiếp dạy đạo qua đàn cơ chứ không giao quyền cho một giáo chủ hữu hình.
Bốn. Vật thờ là Thiên Nhãn, con mắt trái, đặt chính giữa Quả Càn Khôn. Người tín đồ cúng bốn thời trong ngày, giữ ngũ giới cấm và ăn chay theo kỳ.
Năm. Cao Đài không phải một khối duy nhất. Có nhiều hội thánh và chi phái, mỗi bên có tòa thánh và tổ chức riêng, trong đó Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là nơi đông tín đồ nhất.
貳Nam Kỳ Những Năm 1920
Một tôn giáo không mọc lên giữa chỗ trống. Muốn hiểu vì sao Cao Đài ra đời đúng giữa thập niên 1920 và đúng ở đồng bằng Nam Bộ, phải nhìn ba lớp bối cảnh chồng lên nhau.
Một xứ thuộc địa có khe hở pháp lý
Nam Kỳ khi ấy là đất thuộc địa trực trị, khác Trung Kỳ và Bắc Kỳ vốn theo chế độ bảo hộ. Luật pháp Pháp áp dụng ở đây thẳng hơn, trong đó có luật hội đoàn năm 1901 cho phép lập hội và khai báo hoạt động tương đối dễ. Đó là lý do nhóm tiền khai không phải xin phép mà chỉ nộp một tờ khai báo.
Hai mạch cầu cơ gặp nhau
Mạch thứ nhất đến từ phương Tây. Thông linh học, tiếng Pháp là spiritisme, thịnh ở Pháp từ nửa sau thế kỷ mười chín rồi theo sách báo vào Sài Gòn. Trong giới công chức người Việt biết chữ Pháp, trò xây bàn thành sinh hoạt quen thuộc: nhiều người đặt tay lên một cái bàn nhỏ, bàn gõ chân theo bảng chữ cái.
Mạch thứ hai vốn có sẵn trong đất. Nam Kỳ đã có các đàn thuộc dòng Minh Sư, Minh Lý, Minh Đường, gốc từ truyền thống tam giáo hợp nhất của người Hoa và người Việt, dùng đại ngọc cơ mà tiếp điển; ông Ngô Văn Chiêu vào đạo qua mạch này chứ không qua trò xây bàn. Hai mạch khác gốc nhưng cùng coi đàn cơ là kênh liên lạc nghiêm túc với cõi thiêng liêng, và Cao Đài ra đời ở chỗ chúng gặp nhau.
Đất quen sống chung nhiều tín ngưỡng
Nam Kỳ là đất khai phá muộn. Trên cùng một dải đồng bằng đã có chùa Phật của người Việt, chùa Khmer, miếu và hội quán của người Hoa, nhà thờ Công giáo, đạo thờ ông bà trong mỗi nhà, cùng những nền đạo bản địa có trước Cao Đài như Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Người dân quen với việc một làng có nhiều lối thờ, và quen với ý nghĩ rằng các lối ấy rốt cuộc cùng dạy làm lành. Đặt trên nền ấy, lời dạy rằng các nền đạo lớn vốn cùng một gốc và nay tới lúc quy về một mối không phải ý tưởng xa lạ; nó nói đúng điều nhiều người vẫn cảm thấy mà chưa ai dựng thành hệ thống. Đó là lý do đạo lan rất nhanh.
參Khai Đạo Năm 1926
Câu chuyện khai đạo có hai lớp kể chồng lên nhau, và người đọc rất dễ trộn làm một. Lớp thứ nhất là điều chính đạo kể về mình; lớp thứ hai là điều người bên ngoài tra được: ngày tháng, tên người, giấy tờ.
Theo sử đạo Cao Đài, năm 1921 tại Dương Đông trên đảo Phú Quốc, ông Ngô Văn Chiêu được một Đấng xưng danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát dạy dỗ. Khi ông xin một biểu tượng để thờ, Đấng ấy cho ông thấy một con mắt lớn sáng rực giữa không trung. Đó là gốc của Thiên Nhãn.
Cũng theo sử đạo, năm 1925 nhóm ba viên chức ở Sài Gòn là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang xây bàn cầu vui, tiếp được một Đấng xưng ba chữ tắt A Ă Â. Đêm Noel năm ấy, Đấng ấy cho biết mình chính là Đức Chí Tôn, giáng cơ mở đạo ở phương Nam. Sang rằm tháng Giêng năm Bính Dần, Đức Chí Tôn dạy nhóm ở Sài Gòn tìm tới ông Ngô Văn Chiêu để hai bên hợp làm một mối. Trong cách kể của đạo, đây không phải mấy người bàn nhau lập một tôn giáo, mà là Đức Chí Tôn dùng huyền cơ mà lập, còn người chỉ vâng lịnh mà làm.
Phần khảo được như sau. Ngày 7 tháng 10 năm 1926, một Tờ Khai Đạo viết bằng tiếng Pháp được gửi tới Quyền Thống đốc Nam Kỳ Le Fol, thông báo việc mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Các nguồn ghi số người ký tên thay mặt là 28 vị, đứng thay cho khoảng 245 tới 247 người đã theo đạo, con số chênh nhau chút ít giữa các tài liệu. Ông Lê Văn Trung đứng đầu danh sách.
Đại lễ khai đạo tổ chức tại Từ Lâm Tự, tức chùa Gò Kén, cử hành đêm 14 rạng ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần. Quy ra dương lịch, báo Tây Ninh ghi ngày 18 tháng 11 năm 1926, một số tài liệu của đạo và nghiên cứu nước ngoài ghi ngày 19 tháng 11; chênh lệch đến từ việc tính theo đêm hay theo ngày. Ba nhân vật thường được nhắc: Ngô Văn Chiêu 1878 tới 1932, Lê Văn Trung 1876 tới 1934 về sau giữ quyền Giáo Tông, Phạm Công Tắc 1890 tới 1959 về sau giữ phẩm Hộ Pháp.
Chỗ hay lẫn là đây. Nhiều bài viết đem lớp giáo nghĩa ra đọc như sử rồi kết luận rằng đạo bịa; hoặc ngược lại, đem lớp sử liệu ra đọc như giáo lý rồi kết luận rằng đạo chỉ là một hội đoàn có giấy tờ. Cả hai đều đọc sai, vì hai lớp trả lời hai câu hỏi khác nhau. Tờ Khai Đạo là văn bản có thật, ai cũng kiểm được. Việc Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo thuộc về đức tin, nằm ngoài tầm kiểm chứng của sử học, và người tín đồ tin điều ấy đúng như tín đồ mọi tôn giáo tin vào phần thiêng liêng của đạo.
肆Tam Kỳ Phổ Độ
Muốn hiểu Cao Đài nghĩ gì về mình, phải hiểu ba chữ Tam Kỳ Phổ Độ 三期普度. Phổ là bày ra khắp nơi, độ là đưa chúng sanh qua khỏi bến mê; phổ độ là mở một nền giáo hóa cho số đông. Giáo lý Cao Đài dạy rằng Đức Chí Tôn đã hai lần mở đạo cứu đời, hai lần ấy đều lụi dần theo thời gian, và lần này là lần thứ ba.
| Kỳ phổ độ | Thời theo giáo lý | Các vị được kể là giáo chủ | Kết cục theo giáo lý |
|---|---|---|---|
| Nhất Kỳ Phổ Độ | Thời thượng cổ | Nhiên Đăng Cổ Phật bên Phật đạo, Thái Thượng Đạo Tổ bên Tiên đạo, các thánh vương thời Phục Hy | Truyền chưa xa, phần lớn thất truyền |
| Nhị Kỳ Phổ Độ | Khoảng năm trăm năm trước Tây lịch trở về sau | Đức Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Giê Su, có tài liệu kể thêm Đức Mahomet | Các nền đạo lớn thành hình rồi chia nhánh, chân truyền mờ dần |
| Tam Kỳ Phổ Độ | Từ năm 1926 | Không giao cho vị giáo chủ hữu hình nào, Đức Chí Tôn trực tiếp dạy đạo qua đàn cơ | Được gọi là kỳ đại ân xá |
Từ khung ba kỳ ấy mà ra tôn chỉ tám chữ: quy nguyên Tam Giáo, phục nhất Ngũ Chi. Tam Giáo là Phật, Tiên, Nho. Ngũ Chi Đại Đạo là năm nấc của một con đường: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo. Quy nguyên và phục nhất là đưa các nhánh về lại cái gốc chung, chứ không phải gom mỗi nơi một mẩu rồi trộn lại.
Chỗ này quyết định thái độ của Cao Đài với các tôn giáo khác. Vì tin ba kỳ cùng một Đấng mở, Cao Đài không nói các đạo trước sai; đạo nói chúng đúng cho thời của mình rồi mất dần chân truyền, như một lời dặn truyền miệng qua nhiều đời thì sai lệch. Kỳ thứ ba vì thế gọi là đại ân xá: người tu trong kỳ này được ban ơn nhiều hơn, có thể giải thoát trong một kiếp và độ được cả cửu huyền thất tổ. Đây là điểm khiến Cao Đài tự đặt mình vào thế tiếp nối chứ không phải phủ nhận, và là điểm người ngoài hay bỏ sót.
伍Giáo Nghĩa Cốt Lõi
Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu
Kinh sách nền tảng là Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.
Đức Chí Tôn là Đấng tối cao, cũng gọi Ngọc Hoàng Thượng Đế, thánh danh trong đạo là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Ngài giữ ngôi Dương, là gốc sinh ra chơn linh muôn loài; đây là chỗ Cao Đài gần với các đạo thờ một Đấng sáng tạo hơn là gần với Phật giáo.
Nhưng còn ngôi thứ hai. Đức Phật Mẫu, thường gọi Diêu Trì Kim Mẫu, giữ ngôi Âm, tạo nên chơn thần và hình hài cho vạn linh. Nói gọn: Đức Chí Tôn cho phần hồn, Đức Phật Mẫu cho phần vía và phần xác. Đức Phật Mẫu được thờ tại Báo Ân Từ và các điện thờ Phật Mẫu. Người mới tìm hiểu hay tưởng Cao Đài chỉ thờ một con mắt là hết, nên bỏ sót nguyên nửa còn lại của hệ thống.
Linh hồn, tam bửu, luân hồi
Con người gồm ba phần: xác thân, chơn thần tức phần vía trung gian, và chơn linh tức điểm linh quang chiết ra từ Đức Chí Tôn; chơn linh không mất, chỉ đổi chỗ ở. Vũ trụ là thang tiến hóa tám bậc, từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại lên thần, thánh, tiên, phật; được làm người là đã tới nấc giữa thang, nên đạo coi thân người là dịp hiếm.
Cái làm nên một con người, đạo gọi là tam bửu 三寶, ba món báu: tinh là phần tinh túy của thân xác, khí là hơi sức lưu hành, thần là phần linh sáng. Thuật ngữ vốn của phép luyện đan bên Đạo Giáo, được Cao Đài đưa vào giữa nghi lễ: mỗi thời cúng dâng hoa cho tinh, rượu cho khí, trà cho thần, tức dâng trọn thân, sức và trí.
Luân hồi và nhân quả giữ nguyên như phương Đông: làm lành gặt lành, làm ác gặt ác, chết rồi tùy nghiệp mà thọ sanh. Điểm riêng nằm ở chữ đại ân xá: trong Tam Kỳ Phổ Độ, người biết tu và lập công có thể được ân xá phần nghiệp cũ. Đây không phải lời hứa xóa nợ vô điều kiện; kinh sách gắn nó với ba việc dưới đây.
Ngũ giới cấm và tứ đại điều quy
Ngũ giới cấm ghi trong Tân Luật gồm: bất sát sanh, chẳng giết hại sinh vật; bất du đạo, chẳng trộm cướp lường gạt hay vay không trả; bất tà dâm; bất tửu nhục, chẳng say mê rượu thịt tới rối loạn tâm thần; bất vọng ngữ, chẳng xảo trá gạt người.
Nếu ngũ giới là điều cấm thì tứ đại điều quy là bốn phép xử thế. Một, tuân lời bề trên, chẳng hổ thẹn khi nhận điều hay từ người dưới mình. Hai, chớ khoe tài, quên mình mà làm nên cho người. Ba, bạc tiền xuất nhập phân minh. Bốn, trước mặt sau lưng cũng đồng một bực. Đáng chú ý là điều thứ ba: một nền đạo mới lập đã đưa chuyện sổ sách minh bạch vào hàng luật đạo.
Ăn chay và cứu cánh cuối cùng
Ăn chay có bậc rõ ràng: lục trai là sáu ngày chay mỗi tháng, thập trai là mười ngày. Theo Tân Luật, ai giữ trai kỳ từ mười ngày trở lên mới được thọ truyền bửu pháp và vào tịnh thất luyện đạo. Bậc cao nhất là trường trai, chay trọn đời, buộc với hàng chức sắc bậc trên. Lý do gắn với giới bất sát sanh: ăn thịt là cắt ngang đường đi lên của một điểm linh quang khác.
Mục đích tối hậu không phải giàu sang hay sống lâu, cũng không phải lên cõi trời rồi ở lại đó. Kinh sách gọi là phản bổn hoàn nguyên: chơn linh thoát vòng sanh tử, về hiệp cùng Đức Chí Tôn. Vì vậy toàn bộ giới luật, ăn chay, cúng thời và lập công đều nhắm về một chỗ duy nhất ấy.
Làm việc lành giúp người, giúp đạo, gánh vác việc chung mà không tính công.
Sửa mình theo giới luật: giữ ngũ giới, giữ tứ đại điều quy, ăn chay đúng kỳ, cúng đủ thời.
Tịnh luyện, tham thiền, luyện tam bửu; đòi trai giới đủ bậc và có người chỉ dạy trong tịnh thất.
陸Thiên Nhãn
Thiên Nhãn 天眼 nghĩa đen là mắt trời, vật thờ chính của đạo, đặt ở chỗ trang trọng nhất trong chánh điện. Theo sử đạo, ông Ngô Văn Chiêu nhận biểu tượng này tại Phú Quốc năm 1921, sau khi cầu xin một hình thể để thờ Đấng vô hình.
Lời dạy được kinh sách nhắc nhiều nhất là câu 眼是主心, nhãn thị chủ tâm, lưỡng quang chủ tể, quang thị thần, thần thị thiên, thiên giả ngã dã. Hiểu theo lối xuôi: con mắt là chủ của cái tâm, hai vầng sáng ấy nắm quyền chủ tể, ánh sáng ấy là thần, thần ấy là trời, mà trời ấy chính là ta. Thờ con mắt không phải thờ một bộ phận thân thể, mà thờ cái chỗ tâm thức lộ ra ngoài, và qua đó thờ Đấng làm chủ tâm thức.
Vì sao là mắt trái
Câu hỏi này được đặt nhiều nhất, và kinh sách của đạo trả lời thẳng. Trong lối phân âm dương, bên tả thuộc Dương, bên hữu thuộc Âm; Đức Chí Tôn chưởng quản khí Dương quang, nên vật thờ Ngài lấy con mắt bên trái. Cùng lẽ ấy, khi cúng đàn thì nam quỳ bên trái, nữ quỳ bên phải, theo nguyên tắc nam tả nữ hữu. Còn vì sao thờ một mắt chứ không hai, kinh sách giải bằng con số: một là số khởi thủy của càn khôn vũ trụ, ứng câu nhứt bổn tán vạn thù.
Trong Đền Thánh Tây Ninh, Thiên Nhãn vẽ trên Quả Càn Khôn, quả cầu đặt tại Bát Quái Đài, sơn nền màu trời, trên đó có 3.072 ngôi sao. Ở thánh thất địa phương và bàn thờ tư gia, Thiên Nhãn thường vẽ trong một vòng tròn.
Một chỗ bị nhầm rất nhiều trên mạng: Thiên Nhãn không phải con mắt trong tam giác của Hội Tam Điểm. Con mắt phương Tây ấy tên là Mắt Quan Phòng, xuất hiện trong mỹ thuật Ki Tô giáo châu Âu từ thế kỷ mười bảy để chỉ sự trông nom của Thiên Chúa, sau được Hội Tam Điểm dùng lại; đặc trưng của nó là con mắt trong hình tam giác, không phân biệt trái phải. Thiên Nhãn Cao Đài là con mắt trái, đặt trong vòng tròn hoặc trên quả cầu, không đặt trong tam giác, và được giải thích bằng ngôn ngữ âm dương cùng kinh sách chữ Hán dẫn ở trên. Hai biểu tượng chỉ giống nhau ở chỗ cùng lấy hình con mắt, vốn có mặt trong rất nhiều nền văn hóa cổ đại; suy từ giống hình ra cùng gốc là suy đoán, không có căn cứ trong văn bản của đạo. Công bằng mà nói, giới nghiên cứu có ghi nhận bối cảnh Nam Kỳ thập niên 1920 chịu ảnh hưởng của thông linh học phương Tây, nhưng bối cảnh giao thoa không đồng nghĩa với vay mượn một biểu tượng cụ thể.
柒Hệ Thần Linh Và Tam Thánh
Cao Đài thờ một Đấng tối cao, nhưng bàn thờ Cao Đài không chỉ có một ngôi. Bên dưới là cả hệ thống các Đấng sắp theo thứ lớp, phản chiếu đúng khung ba kỳ phổ độ.
| Ngôi vị | Danh xưng thường dùng | Vai trò theo giáo lý |
|---|---|---|
| Ngôi Dương | Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, thánh danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát | Chưởng quản Bát Quái Đài, ban chơn linh cho vạn vật, thờ bằng Thiên Nhãn |
| Ngôi Âm | Đức Phật Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu | Tạo chơn thần và hình hài cho vạn linh, thờ tại Báo Ân Từ và các điện thờ Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương |
| Tam Giáo | Đức Thích Ca, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử | Ba nền giáo hóa của Nhị Kỳ |
| Tam Trấn Oai Nghiêm | Đức Lý Thái Bạch, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Quan Thánh Đế Quân | Thay quyền Tam Giáo mà hành đạo trong Tam Kỳ Phổ Độ |
| Ngũ Chi Đại Đạo | Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo | Năm nấc của con đường tu |
| Tam Thánh | Thanh Sơn Đạo Sĩ, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, Tôn Trung Sơn Chơn Nhơn | Ký bản hòa ước giữa Trời và Người trong Tam Kỳ |
Tam Thánh ký hòa ước
Bức tranh Tam Thánh ký hòa ước gắn liền với Đền Thánh Tây Ninh và gây tò mò nhất cho khách phương xa. Ba vị trong tranh là Thanh Sơn Đạo Sĩ, tức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức văn hào Pháp Victor Hugo; và Tôn Trung Sơn Chơn Nhơn, tức Tôn Dật Tiên của Trung Hoa. Ba vị đang viết lên một tấm bảng đá bản hòa ước mà đạo gọi là Đệ tam Thiên nhơn hòa ước.
Nội dung chỉ có tám chữ Hán 天上天下 博愛公平, thiên thượng thiên hạ bác ái công bình, cùng dòng tiếng Pháp DIEU et HUMANITÉ, AMOUR et JUSTICE. Tranh do Hiền tài Lê Minh Tòng vẽ, khổ 2,80 mét nhân 1,90 mét, đặt trên vách Hiệp Thiên Đài quay mặt ra cửa chính, từ tháng 8 năm 1948. Người bước vào nhìn thấy nó trước tiên; người bước ra thì nó ở sau lưng, như lời dặn mang theo.
Ba vị được chọn không ngẫu nhiên: một người Việt, một người Pháp, một người Hoa, đại diện ba nền văn hóa đã gặp nhau trên đất Nam Kỳ đầu thế kỷ hai mươi. Cần nói rõ rằng việc tôn xưng diễn ra sau khi cả ba đã qua đời và thuộc phạm vi giáo lý Cao Đài; bức tranh cũng thuộc truyền thống Tòa Thánh Tây Ninh, không phải hội thánh nào cũng thờ Tam Thánh.
捌Cơ Cấu Hành Chánh Đạo
Một điểm ít người để ý: Cao Đài có bộ máy tổ chức được viết thành văn bản ngay từ những năm đầu, trong Pháp Chánh Truyền. Bộ máy ấy dựng trên ba đài, không phải ba cấp trên dưới mà là ba quyền kiềm chế nhau.
Phần vô hình, do Đức Chí Tôn chưởng quản, nơi ngự của Tam Giáo và Ngũ Chi; cũng là gian trong cùng của Đền Thánh.
Cầu nối giữa hữu hình và vô hình, giữ quyền lập pháp và tư pháp, coi việc gìn giữ luật đạo và việc thông công qua đàn cơ. Đứng đầu là Hộ Pháp, cùng Thượng Phẩm và Thượng Sanh, dưới có Thập nhị Thời Quân.
Cơ quan hành pháp, lo việc hành chánh đạo và phổ độ, đứng đầu là Giáo Tông, bên dưới có Cửu Viện coi chín mảng công việc.
Chín phẩm Cửu Trùng Đài
| Phẩm | Số vị ấn định | Việc |
|---|---|---|
| Giáo Tông | 1 vị | Anh cả của toàn đạo, quyền hành chánh cao nhất |
| Chưởng Pháp | 3 vị, mỗi phái một vị | Xét luật đạo trước khi ban hành |
| Đầu Sư | 3 vị, mỗi phái một vị | Cầm quyền cai trị phần đạo và phần đời của tín đồ |
| Phối Sư | 36 vị, có 3 Chánh Phối Sư | Nắm Cửu Viện, điều hành việc thường ngày |
| Giáo Sư | 72 vị | Dạy dỗ tín đồ, coi việc đạo một địa phận |
| Giáo Hữu | 3.000 vị, không tăng thêm | Phổ thông chơn đạo cho người mới |
| Lễ Sanh | Không hạn định | Thay mặt Hội Thánh tại địa phương |
| Chức việc Bàn Trị Sự | Theo nhu cầu từng nơi | Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự, coi một hương đạo |
| Tín đồ | Toàn thể người nhập môn | Giữ luật đạo, cúng thời, lập công |
Ba phái và chức sắc nữ
Chức sắc nam chia ba phái ứng với Tam Giáo, phân biệt bằng màu đạo phục: phái Thái ứng với Phật, áo vàng; phái Thượng ứng với Tiên, áo xanh; phái Ngọc ứng với Nho, áo đỏ; tên phái ghép vào thánh danh nên nhìn tên là biết phái.
Nữ phái có hệ thống chức sắc riêng, cao nhất là phẩm Đầu Sư; theo Pháp Chánh Truyền, nữ phái không có Giáo Tông và Chưởng Pháp. Chức sắc nữ mặc áo trắng; tín đồ khi cúng đàn cũng mặc áo dài trắng, nam thêm khăn đóng đen. Bộ máy nói ở đây là của Tòa Thánh Tây Ninh; các hội thánh khác giữ khung ba đài nhưng tên gọi phẩm vị có khác.
玖Nghi Lễ Và Ăn Chay
Đời sống đạo của một tín đồ Cao Đài được đo bằng nhịp ngày chứ không chỉ bằng ngày lễ lớn. Nhịp ấy là tứ thời cúng: bốn thời trong ngày theo giờ Tý lúc nửa đêm, giờ Mão lúc sáng sớm, giờ Ngọ lúc giữa trưa và giờ Dậu lúc chiều tối. Người ở gần thánh thất tới cúng đàn chung; người bận việc cúng tại nhà, không đủ bốn thời thì giữ hai thời.
Mỗi thời cúng dâng tam bửu: hoa cho tinh, rượu cho khí, trà cho thần, kèm nhang, đèn và nước, cùng kinh tụng và lễ nhạc.
| Dịp lễ | Ngày âm lịch | Nội dung |
|---|---|---|
| Cúng sóc vọng | Mùng 1 và ngày rằm mỗi tháng | Đàn cúng chung tại thánh thất |
| Đại lễ Vía Đức Chí Tôn | Mùng 9 tháng Giêng | Lễ trọng nhất trong năm, tại Tòa Thánh Tây Ninh có hội xuân và rước cộ |
| Rằm Thượng nguơn | Rằm tháng Giêng | Một trong ba lễ Tam nguơn |
| Rằm Trung nguơn | Rằm tháng Bảy | Lễ Tam nguơn giữa năm, gắn với việc cầu siêu cửu huyền thất tổ |
| Hội Yến Diêu Trì Cung | Đêm 14 rạng ngày 15 tháng Tám | Vía Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương tại Báo Ân Từ |
| Rằm Hạ nguơn và Lễ Kỷ niệm Khai Đạo | Ngày 14 và 15 tháng Mười | Kỷ niệm đại lễ khai đạo năm Bính Dần, cũng là lễ Tam nguơn cuối năm |
Ăn chay theo kỳ
Chay kỳ đếm theo ngày âm lịch. Lục trai là sáu ngày mỗi tháng: mùng 1, mùng 8, ngày 14, 15, 23 và 30, tháng thiếu thì lấy ngày 29. Thập trai là mười ngày, thêm các ngày 18, 24, 28 và 29. Người nhập môn giữ ít nhất lục trai; Tân Luật quy định ai giữ từ mười ngày trở lên mới được thọ truyền bửu pháp và vào tịnh thất, còn hàng chức sắc bậc trên phải trường trai.
Ba màu vàng, xanh, đỏ của lễ phục là thứ đập vào mắt nhất trong một buổi đại lễ: hàng áo vàng, áo xanh, áo đỏ đi trước, cả biển áo dài trắng của tín đồ theo sau. Cách sắp ấy không phải để đẹp mắt; nó bày tỏ giáo lý Tam Giáo quy nguyên bằng hình ảnh, để người không đọc kinh cũng thấy được.
拾Các Hệ Phái
Đây là điều người ngoài hay bỏ sót nhất. Nói đạo Cao Đài thì đúng, nhưng nói Hội Thánh Cao Đài ở số ít thì sai. Từ cuối thập niên 1920, do khác biệt về đường lối hành đạo và cách tổ chức, nền đạo chia nhiều nhánh, mỗi nhánh lập tòa thánh và hệ thống chức sắc riêng. Các nhánh vẫn cùng thờ Đức Chí Tôn qua Thiên Nhãn, cùng giữ tôn chỉ Tam Kỳ Phổ Độ, cùng ngũ giới cấm và chay kỳ; chỗ khác nhau nằm ở tổ chức và ở mức nhấn vào phổ độ hay vào tịnh luyện.
| Tổ chức | Trụ sở | Năm được công nhận pháp nhân |
|---|---|---|
| Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên | Tòa thánh Châu Minh, Bến Tre | 1995 |
| Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu | Hậu Giang | 1996 |
| Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo | Tòa thánh Ngọc Sắc, Cà Mau | 1996 |
| Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài | Trung Hưng Bửu Tòa, Đà Nẵng | 1997 |
| Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh | Tòa Thánh Tây Ninh | 1997 |
| Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo | Tòa thánh An Hội, Bến Tre | 1997 |
| Hội Thánh Cao Đài Bạch Y | Tòa thánh Ngọc Kinh, Kiên Giang | 1998 |
| Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý | Nguồn tra được không ghi trụ sở | 2000 |
| Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan | Tòa thánh Tam Quan, Bình Định | 2001 |
Chiếu Minh là dòng gắn với ông Ngô Văn Chiêu, môn đệ đầu tiên theo cách gọi của đạo, người đã từ chối ngôi Giáo Tông. Dòng này nhấn vào tịnh luyện cá nhân, không lập bộ máy chức sắc đồ sộ như bên phổ độ, và người tu phải trường trai; ai quen cảnh đại lễ đông đúc ở Tây Ninh có thể ngạc nhiên khi thấy một đàn Chiếu Minh lặng lẽ tới mức nào.
Từ năm 2008 các tổ chức Cao Đài duy trì cơ chế liên giao hành đạo, mỗi năm họp một lần và luân phiên chủ trì; tới năm 2023 cơ chế này có 18 thành viên.
拾壹Số Tín Đồ
Hỏi đạo Cao Đài có bao nhiêu tín đồ là câu tưởng dễ mà khó: nguồn chính thức, nguồn của chính đạo và nguồn quốc tế cho ra những con số chênh nhau gần ba lần. Thư viện dẫn nguyên kèm nguồn và năm, không chọn con số nào làm chuẩn.
| Nguồn | Năm của số liệu | Con số |
|---|---|---|
| Ban Tôn giáo Chính phủ, dẫn lại trên báo chí trong nước | Tính tới tháng 6 năm 2025 | Khoảng 1,1 triệu tín đồ cho toàn đạo Cao Đài |
| Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tại lễ kỷ niệm 100 năm | Năm 2024 | Hơn 3 triệu tín đồ, 451 thánh thất, 173 điện thờ Phật Mẫu, ở 39 tỉnh thành |
| Bài khái lược trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học | Không ghi năm chốt số liệu | Khoảng 3 triệu tín đồ ở 38 tỉnh thành, cùng cộng đồng ở Bắc Mỹ, Campuchia, châu Âu, Úc |
| Bách khoa thư Encyclopedia.com, mục Cao Dai | Ước lượng hiện nay | Từ 2 tới 4 triệu người trên toàn thế giới |
Vì sao các con số vênh nhau
Thứ nhất, hai bên đếm hai thứ khác nhau. Hội thánh đếm theo sổ bộ đạo, tức danh sách người đã làm lễ nhập môn và gia đình họ, con số chỉ tăng chứ ít khi trừ. Cơ quan nhà nước và các cuộc điều tra dân số đếm theo lời tự khai. Một người có tên trong sổ bộ nhưng khi khai nhân khẩu lại ghi không tôn giáo hoặc ghi thờ cúng ông bà thì hai bên đếm khác nhau ngay.
Thứ hai, Cao Đài có nhiều hội thánh; mỗi bên báo phần mình, cộng lại vừa trùng vừa sót. Thứ ba, nhiều nơi tính cả con cháu sinh ra trong nhà đạo là tín đồ, dù người ấy chưa làm lễ nhập môn. Thứ tư, có một lượng lớn người giữ đạo tại nhà, cúng thời trước bàn thờ Thiên Nhãn mà không lui tới thánh thất; nhóm này rất khó đếm, và chính họ là phần chênh lệch lớn nhất.
Nói cho ngay: khoảng cách giữa 1,1 triệu và hơn 3 triệu không phải chuyện ai nói sai, mà là hệ quả của việc dùng hai định nghĩa khác nhau cho cùng một chữ tín đồ. Điều chắc chắn nói được là Cao Đài nằm trong nhóm tôn giáo lớn của Việt Nam, dày nhất ở Tây Ninh và các tỉnh Nam Bộ, và là tôn giáo nội sinh có tổ chức quy mô nhất do người Việt lập ra.
拾貳Trong Con Mắt Phong Thủy
Mục này là cách đọc của thư viện, không phải giáo lý của đạo. Đạo Cao Đài không dạy phong thủy; đạo nói kiểu thức Đền Thánh do thánh giáo chỉ dạy. Vì vậy mục này chia hai lớp: điều chính đạo nói, và điều thư viện đối chiếu bằng ngôn ngữ phong thủy.
Trục Đông Tây, ba đài và số chín
Điều đạo nói: Đền Thánh Tây Ninh là một khối dài và hẹp. Cửa chính ở Hiệp Thiên Đài phía Tây; đi vào là Cửu Trùng Đài dài 81 mét rộng 27 mét, chia chín cấp cao dần; tận cùng phía Đông là Bát Quái Đài, nơi đặt Quả Càn Khôn. Ba đài nối tiếp trên một trục thẳng, người hành lễ quay mặt về hướng Đông. Chín cấp ứng với Cửu Trùng Thiên, chín từng trời trong vũ trụ quan Cao Đài; khối Tam Đài cao 36 mét.
Kiến giải của thư viện: đây là bố cục trục đơn, tiền thấp hậu cao, cho khí đi một mạch từ cửa vào tới điểm cuối mà không tán. Chín cấp nâng dần buộc người bước vào phải đi lên chứ không đi ngang, dùng cao độ mà phân định thiêng và tục. Hướng Đông thuộc Mộc, chủ sinh phát. Các con số cũng vậy: 81 là chín nhân chín, 27 là chín nhân ba, 36 là chín nhân bốn, mà chín trong dịch lý là số Dương lão. Đạo giải thích những điều này bằng lý do thiêng liêng, không bằng phương vị.
Ba màu và Quả Càn Khôn
Điều đạo nói: ba màu đạo phục ứng với Tam Giáo, vàng cho phái Thái tức Phật, xanh cho phái Thượng tức Tiên, đỏ cho phái Ngọc tức Nho; đạo giải thích ba màu bằng Tam Giáo, không bằng ngũ hành. Cũng theo đạo, Quả Càn Khôn là quả cầu đường kính khoảng 3,3 mét tại Bát Quái Đài, trên có 3.072 ngôi sao tượng trưng 3.072 quả địa cầu, Thiên Nhãn ở chính giữa, chung quanh tám cột rồng dựng theo thế bát quái.
Kiến giải của thư viện: đặt cạnh bảng ngũ hành thì vàng thuộc Thổ ngôi trung ương, xanh thuộc Mộc phương Đông, đỏ thuộc Hỏa phương Nam; theo lẽ tương sinh thì Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, thành một vòng không hành nào khắc hành nào. Đây là đối chiếu, không phải điều đạo dạy. Còn Quả Càn Khôn: điểm cuối của một trục thẳng dài lại là khối cầu, tức hình không có hướng, như nói rằng con đường có hướng của người rốt cuộc dẫn tới cái vô hướng.
Thế đất Tây Ninh và núi Bà Đen
Điều khảo được: khuôn viên Tòa Thánh rộng hơn một cây số vuông trên vùng đất bằng của tỉnh Tây Ninh, có hơn một trăm công trình và mười hai cổng. Không xa đó là núi Bà Đen, ngọn cao nhất vùng Đông Nam Bộ, vốn là nơi thờ tự lâu đời trước khi có đạo Cao Đài.
Kiến giải của thư viện: cả một đồng bằng phẳng, nổi lên đúng một ngọn núi đơn độc; trong phong thủy, một ngọn cô sơn giữa bình dương được đọc là điểm tựa của cả vùng. Nhưng phải nói thẳng: không tài liệu nào của đạo cho biết việc chọn đất được cân nhắc theo núi Bà Đen.
Ranh giới xin nhắc lại. Mọi con số về kích thước, phương vị và màu sắc đều là điều đạo ghi trong tài liệu của mình. Mọi câu bắt đầu bằng chữ kiến giải hoặc đối chiếu là của thư viện, thuộc một hệ thuật ngữ khác, không có giá trị trong nội bộ đạo Cao Đài. Mục này viết cho người quen ngôn ngữ phong thủy, chứ không phải để dán một lớp nghĩa mới lên nơi vốn đã có nghĩa đầy đủ.
拾參Những Chỗ Hay Hiểu Lầm
Cao Đài có lẽ là tôn giáo bị viết sai nhiều nhất trong nước, phần vì đạo còn trẻ, phần vì kiến trúc và biểu tượng dễ gây tò mò nên hay bị kể như chuyện lạ. Bảy mục dưới đây gom những chỗ sai gặp thường xuyên nhất. Viết về một tôn giáo có hàng triệu tín đồ thì tối thiểu phải dùng đúng chữ của họ và mô tả đúng điều họ nói về mình.
Cách hiểu phổ biến nhất và cũng lệch nhất. Cao Đài không tự nhận là một hỗn hợp: đạo dựng trên khung Tam Kỳ Phổ Độ, cho rằng ba kỳ đều do cùng một Đấng mở, nên quy các nhánh về một gốc là phục hồi chứ không phải pha trộn.
Không có căn cứ trong văn bản của đạo. Con mắt phương Tây trong tam giác là Mắt Quan Phòng, gốc trong mỹ thuật Ki Tô giáo châu Âu thế kỷ mười bảy. Thiên Nhãn Cao Đài là con mắt trái trong vòng tròn, giải bằng lẽ âm dương. Giống nhau ở chỗ cùng là hình con mắt, hết.
Vừa đúng vừa thiếu. Đúng ở chỗ Tòa Thánh Tây Ninh tôn ông với thánh danh Nguyệt Tâm Chơn Nhơn và đặt ông vào bức Tam Thánh ký hòa ước. Thiếu ở chỗ việc tôn xưng diễn ra sau khi ông qua đời và thuộc giáo lý Cao Đài, không phải điều ông tuyên bố lúc sinh thời; ngoài ra không phải hội thánh nào cũng thờ Tam Thánh.
Trong Cao Đài, đàn cơ là nghi thức có quy củ: có đàn lệ, có người phò cơ được chọn, có người điển ký ghi chép, và văn bản nhận được chỉ thành kinh sách sau khi Hội Thánh chuẩn nhận. Người ngoài có quyền không tin nguồn gốc thiêng liêng của các văn bản ấy, nhưng gọi cả một hệ thống nghi lễ có văn bản lưu là trò đùa thì không đúng.
Sai. Cao Đài nằm trong danh sách các tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận. Riêng phần tổ chức, đã có chín hội thánh Cao Đài được công nhận tư cách pháp nhân trong khoảng 1995 tới 2001, cùng một số tổ chức độc lập được cấp đăng ký.
Không. Tây Ninh có Tòa Thánh của hội thánh lớn nhất nên dễ bị lấy làm đại diện cho cả đạo. Thực tế các hội thánh Cao Đài đặt trụ sở ở Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Bình Định và Đà Nẵng; tín đồ có mặt ở gần bốn chục tỉnh thành và nhiều cộng đồng ở nước ngoài.
Không phải chùa. Nơi thờ tự gọi là thánh thất, nơi thờ Đức Phật Mẫu gọi là điện thờ Phật Mẫu, công trình trung ương ở Tây Ninh gọi là Tòa Thánh, khối kiến trúc chính là Đền Thánh. Người tu ở đây gọi là chức sắc, không gọi là sư.
拾Nơi Của Đạo Này Trên Đất Việt
Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.
問Hỏi Đáp Nhanh
Đạo Cao Đài tên đầy đủ là gì và ra đời năm nào?
Tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nghĩa là nền đại đạo mở kỳ phổ độ thứ ba. Đạo hình thành ở Nam Kỳ trong hai năm 1925 và 1926, nộp Tờ Khai Đạo cho Quyền Thống đốc Nam Kỳ ngày 7 tháng 10 năm 1926 và làm đại lễ khai đạo tại chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh vào tháng 10 năm Bính Dần, tức tháng 11 năm 1926.
Vì sao đạo Cao Đài thờ con mắt trái chứ không phải mắt phải?
Theo kinh sách của đạo, bên tả thuộc Dương, bên hữu thuộc Âm, mà Đức Chí Tôn chưởng quản khí Dương quang, nên vật thờ Ngài lấy con mắt trái. Cùng lẽ ấy mà trong thánh thất nam quỳ bên trái, nữ quỳ bên phải. Thờ một mắt chứ không hai vì số một là số khởi thủy của càn khôn vũ trụ.
Thiên Nhãn có liên quan gì tới Hội Tam Điểm không?
Không có căn cứ nào trong văn bản của đạo. Con mắt trong tam giác của phương Tây gọi là Mắt Quan Phòng, có gốc trong mỹ thuật Ki Tô giáo châu Âu thế kỷ mười bảy. Thiên Nhãn Cao Đài là con mắt trái đặt trong vòng tròn hoặc trên Quả Càn Khôn, giải thích bằng lẽ âm dương. Hai biểu tượng chỉ giống nhau ở chỗ cùng lấy hình con mắt.
Victor Hugo có phải là thánh của đạo Cao Đài không?
Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tôn Victor Hugo với thánh danh Nguyệt Tâm Chơn Nhơn và đặt ông vào bức tranh Tam Thánh ký hòa ước cùng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tôn Dật Tiên. Việc tôn xưng này diễn ra sau khi ông qua đời và thuộc phạm vi giáo lý Cao Đài. Không phải mọi hội thánh Cao Đài đều thờ Tam Thánh theo cách của Tây Ninh.
Tín đồ Cao Đài ăn chay như thế nào?
Chay kỳ đếm theo ngày âm lịch. Lục trai là sáu ngày mỗi tháng gồm mùng 1, mùng 8, ngày 14, 15, 23 và 30. Thập trai là mười ngày, thêm các ngày 18, 24, 28 và 29. Người nhập môn giữ ít nhất lục trai. Theo Tân Luật, ai giữ từ mười ngày trở lên mới được thọ truyền bửu pháp và vào tịnh thất, còn chức sắc bậc trên phải trường trai.
Đạo Cao Đài có mấy hội thánh?
Cao Đài không phải một khối duy nhất. Có chín hội thánh Cao Đài được công nhận tư cách pháp nhân trong khoảng 1995 tới 2001, gồm Tòa Thánh Tây Ninh, Ban Chỉnh Đạo, Tiên Thiên, Minh Chơn Đạo, Truyền Giáo Cao Đài, Bạch Y, Chơn Lý, Chiếu Minh Long Châu và Cầu Kho Tam Quan, cùng pháp môn Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi và một số tổ chức độc lập.
Đạo Cao Đài có bao nhiêu tín đồ?
Các nguồn vênh nhau khá xa. Ban Tôn giáo Chính phủ nêu khoảng 1,1 triệu tín đồ tính tới tháng 6 năm 2025. Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh công bố hơn 3 triệu tín đồ tại lễ kỷ niệm 100 năm năm 2024. Bách khoa thư quốc tế ước lượng 2 tới 4 triệu người. Chênh lệch đến từ việc hội thánh đếm theo sổ bộ đạo còn cơ quan hành chánh đếm theo lời tự khai.
Tứ thời cúng của đạo Cao Đài là những giờ nào?
Bốn thời trong ngày theo giờ Tý lúc nửa đêm, giờ Mão lúc sáng sớm, giờ Ngọ lúc giữa trưa và giờ Dậu lúc chiều tối. Mỗi thời dâng tam bửu gồm hoa cho tinh, rượu cho khí, trà cho thần. Người bận việc có thể cúng tại bàn thờ trong nhà và giữ lấy hai thời.
