壹Đọc Nhanh Trong Năm Câu
Nếu quý vị chỉ có một phút, năm câu dưới đây là phần cốt của cả trang này.
Một, Công Giáo là một nhánh của Kitô Giáo, hiệp thông với Đức Giáo hoàng ở Rôma, tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi và tin Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai làm người. Hai, đạo khởi từ nhóm môn đệ người Do Thái ở xứ Giuđê thế kỷ thứ nhất, lan khắp đế quốc La Mã, rồi thành một tổ chức toàn cầu có phẩm trật từ Đức Giáo hoàng xuống tới giáo họ. Ba, đời sống đạo xoay quanh bảy bí tích, mà trung tâm là Thánh Lễ và bí tích Thánh Thể. Bốn, Công Giáo vào Việt Nam từ thế kỷ mười sáu, nay có hai mươi bảy giáo phận và khoảng bảy triệu rưỡi giáo dân. Năm, đây là tôn giáo có tổ chức lớn thứ hai ở Việt Nam sau Phật Giáo, và là cộng đồng tôn giáo lớn nhất thế giới xét theo số tín hữu.
Trang này viết theo lối mô tả. Thư viện thuật lại điều Công Giáo tuyên xưng, thuật lại điều sử học khảo được, và giữ hai thứ ấy tách bạch. Thư viện không xét đạo nào đúng đạo nào sai.
貳Bối Cảnh Đế Quốc La Mã Thế Kỷ Thứ Nhất
Muốn hiểu Công Giáo, phải bắt đầu từ một dải đất nhỏ bên bờ đông Địa Trung Hải. Xứ Giuđê và vùng Galilê nằm dưới quyền La Mã từ năm 63 trước Công nguyên. Người La Mã để lại cho dân bản xứ đền thờ, luật lệ và hàng tư tế, nhưng nắm quân đội, thuế khoá và quyền tuyên án tử. Tổng trấn nổi tiếng nhất trong ký ức Kitô Giáo là Phongxiô Philatô, cai trị khoảng năm 26 tới 36.
Do Thái Giáo thời ấy không phải một khối đồng nhất, và đó là chỗ người đọc ngày nay hay hình dung sai. Điều các nhóm chia nhau là niềm trông đợi một Đấng Mêsia, nghĩa gốc là người được xức dầu. Nhưng hình dung về đấng ấy thì mỗi nhóm mỗi khác: người chờ một vị vua cầm quân, người chờ một vị tư tế thanh tẩy đền thờ, người chờ một biến cố tận thế.
Tầng lớp thầy dạy trong dân, coi trọng cả Luật viết lẫn truyền thống giải thích Luật. Tin có thiên thần, có thưởng phạt đời sau, có kẻ chết sống lại. Sau năm 70, dòng này là gốc của Do Thái Giáo về sau.
Giới quý tộc và tư tế gắn với đền thờ, thiên về hoà hoãn với La Mã. Chỉ nhận năm quyển Luật Môsê, không tin kẻ chết sống lại. Đền thờ mất thì nhóm này cũng tan.
Sống tách biệt, khắc khổ, cho rằng hàng tư tế đương thời đã ra ô uế. Nhiều nhà nghiên cứu gắn nhóm này với cộng đoàn Qumran bên Biển Chết.
Chống La Mã bằng vũ lực, coi việc nộp thuế cho hoàng đế là bất trung. Đường lối này dẫn tới cuộc nổi dậy năm 66 và việc đền thờ bị triệt hạ năm 70.
Đa số dân chúng không thuộc nhóm nào; họ làm ruộng, đánh cá, đóng thuế, giữ ngày sabát. Chính giữa lớp người này mà lời rao giảng ban đầu đã lan đi.
Một chi tiết nữa: đế quốc bấy giờ có đường sá tốt và một thứ tiếng Hy Lạp bình dân dùng chung, lại có nhiều cộng đoàn Do Thái ở các thành phố lớn. Điều đó giải thích vì sao một phong trào khởi từ làng quê Galilê lại tới được Rôma trong chưa đầy ba mươi năm.
參Chúa Giêsu Kitô
Mọi sự trong Công Giáo đều quy về một nhân vật. Nhưng nói về nhân vật ấy thì có hai lối nói khác hẳn nhau, và trộn hai lối ấy vào nhau là nguồn của phần lớn những cuộc cãi vã vô ích.
Công Giáo tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, có từ trước muôn đời, đã nhập thể làm người trong lòng Đức Trinh Nữ Maria bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, hai bản tính trong một ngôi vị. Đạo tuyên xưng Ngài đã rao giảng Nước Thiên Chúa, chịu đóng đinh và chịu chết dưới thời Phongxiô Philatô; ngày thứ ba đã sống lại thật, đã lên trời, và sẽ trở lại phán xét kẻ sống và kẻ chết. Cái chết ấy được tuyên xưng là hy lễ cứu chuộc loài người khỏi tội, và sự phục sinh là nền của cả niềm tin: nếu không có phục sinh thì lời rao giảng ra hư không.
Về phía sử học, giới nghiên cứu đại đa số nhận rằng có một nhân vật lịch sử tên Giêsu người Nazareth, sống ở Galilê và Giuđê đầu thế kỷ thứ nhất. Từ điển bách khoa Britannica đặt năm sinh khoảng 6 tới 4 trước Công nguyên, năm mất khoảng năm 30, và xếp vào loại gần như chắc chắn mấy điều: ông chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả, đã rao giảng về Nước Thiên Chúa, đã va chạm với giới thẩm quyền tôn giáo đương thời, và đã bị đóng đinh dưới thời Phongxiô Philatô. Về các phép lạ và việc sống lại, cùng nguồn ấy xếp vào loại lời tường thuật của tín hữu.
Ngoài các bản văn Kitô Giáo còn có mấy nguồn cổ không thuộc đạo. Sử gia La Mã Tacitus trong Biên niên sử quyển 15 chương 44, viết khoảng năm 116, nói người mà nhóm Kitô hữu mang tên đã bị Phongxiô Philatô xử tử. Sử gia Do Thái Josephus có một đoạn ngắn nhắc tới Giacôbê, em của Giêsu được gọi là Kitô, và một đoạn dài hơn quen gọi là Testimonium Flavianum mà hầu như mọi nhà nghiên cứu đều nhận là đã bị thêm thắt. Mức độ chắc chắn xếp ba bậc: gần như không ai cãi việc có một người tên Giêsu bị đóng đinh ở Giêrusalem; còn tranh luận là nội dung lời giảng và niên biểu; nằm ngoài tầm sử học là các phép lạ và sự sống lại.
Chỗ hay lầm là tưởng hai bảng trên phải loại trừ nhau, rằng hễ sử học không chứng minh được phục sinh thì tức là đã bác bỏ nó. Sử học chỉ làm việc với cái để lại dấu vết kiểm chứng được, nên nó không có công cụ để nói có, cũng không có công cụ để nói không; còn đức tin thì tự nó khai rằng nó là đức tin. Người đọc chỉ cần nhớ: khi nghe một câu về Chúa Giêsu, hãy hỏi câu ấy đang nói bằng giọng nào.
肆Dòng Thời Gian Hai Nghìn Năm
Bốn loại biến cố hay trở lại trong hai nghìn năm ấy. Một là các công đồng chung, tức những kỳ họp của toàn thể giám mục để định tín, hai mươi mốt kỳ tính tới nay. Hai là các cuộc bách hại, rồi tới lúc đạo được nhìn nhận. Ba là hai lần phân ly lớn, năm 1054 và năm 1517. Bốn là các đợt cải tổ nội bộ. Vài mốc xa xưa chỉ là ước định.
- khoảng năm 30Nhóm môn đệ đầu tiênSau cái chết của Chúa Giêsu, nhóm môn đệ tụ lại ở Giêrusalem và bắt đầu rao giảng, khi ấy còn sinh hoạt trong lòng Do Thái Giáo.
- khoảng 64 tới 67Cuộc bách hại của NêrôHoàng đế Nêrô trút tội đốt thành Rôma lên các Kitô hữu. Truyền thống đặt cái chết của Tông đồ Phêrô và Tông đồ Phaolô ở Rôma vào quãng này; giám mục Rôma về sau được kể là kế vị Phêrô.
- thế kỷ 2 tới 3Các cuộc bách hại lan rộngNhiều đợt bách hại dưới các triều Đêxiô và Điôclêtianô, nặng nhất là đầu thế kỷ tư. Cũng thời này hình thành danh mục các sách được nhận là Kinh Thánh.
- 313Sắc chỉ MilanoConstantinô và Licinius cho tự do tôn giáo. Kitô Giáo từ chỗ bị cấm trở thành hợp pháp, rồi cuối thế kỷ tư thành quốc giáo của La Mã.
- 325Công đồng NiceaCông đồng chung đầu tiên, kết án chủ trương của Ariô cho rằng Ngôi Con là loài thụ tạo, và xác định Ngôi Con đồng bản thể với Chúa Cha. Bản kinh tin kính đọc trong Thánh Lễ ngày nay bắt nguồn từ đây và từ Công đồng Constantinôpôli năm 381.
- 431 và 451Êphêsô và CanxêđôniaÊphêsô tuyên nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa; Canxêđônia xác định nơi Chúa Giêsu có hai bản tính trong một ngôi vị.
- 1054Ly giáo Đông TâyĐặc sứ của Đức Giáo hoàng Lêô IX và Thượng phụ Micae Cêrulariô dứt phép thông công lẫn nhau, đánh dấu cuộc phân ly giữa Công Giáo Rôma và Chính Thống Đông phương.
- 1517Cải cách Tin LànhMartin Luther công bố các luận đề phản đối việc rao bán ân xá. Kitô Giáo Tây phương tách thành Công Giáo và các hệ phái Tin Lành.
- 1545 tới 1563Công đồng TrentôHọp ba đợt để đáp lại cuộc Cải cách: xác định lại giáo lý về bí tích và ơn cứu độ, ấn định quy điển Kinh Thánh bảy mươi ba quyển, lập chủng viện đào tạo linh mục.
- 1869 tới 1870Công đồng Vaticanô ICông bố tín điều về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo hoàng, chỉ áp dụng khi ngài long trọng tuyên bố một điều thuộc đức tin hoặc luân lý cho toàn thể Giáo hội.
- 1929Hiệp ước LatêranôToà Thánh và nước Ý ký hiệp ước, lập nên Quốc gia Thành Vatican, quốc gia độc lập nhỏ nhất thế giới.
- 1962 tới 1965Công đồng Vaticanô IIDo Đức Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập và Đức Giáo hoàng Phaolô VI kết thúc, với khoảng hai nghìn bốn trăm nghị phụ và mười sáu văn kiện. Biến cố định hình bộ mặt Công Giáo hiện đại: tiếng bản địa trong phụng vụ, vai trò giáo dân, đối thoại liên tôn.
伍Giáo Nghĩa Cốt Lõi
Công Giáo có một bản tóm tắt đức tin đọc chung mỗi Chúa nhật, gọi là Kinh Tin Kính, và một bộ sách trình bày đầy đủ là Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo. Khác nhiều truyền thống Á Đông, đạo này có một danh mục điều tin được viết ra và được coi là buộc.
Thiên Chúa Ba Ngôi
Công Giáo tuyên xưng có một Thiên Chúa duy nhất, nhưng Thiên Chúa ấy hiện hữu trong ba ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, phân biệt với nhau mà cùng một bản tính, cùng quyền năng, cùng vĩnh cửu. Không phải ba vị thần, cũng không phải một vị mang ba khuôn mặt tuỳ lúc. Đạo gọi đây là mầu nhiệm, tức điều vượt tầm suy luận. Người Việt hay so với tam vị trong các đền phủ, nhưng so như vậy là lệch, vì tam vị dân gian là ba vị riêng.
Sáng tạo và nguyên tội
Đạo tuyên xưng Thiên Chúa dựng nên trời đất từ hư không, vì lòng nhân chứ không vì thiếu thốn gì. Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, tức có lý trí, có tự do và có khả năng yêu thương, nên có phẩm giá không ai được xâm phạm. Nguyên tội hay bị hiểu thành thứ tội truyền từ cha sang con như bệnh di truyền; giáo lý không nói thế. Nguyên tội chỉ tình trạng đứt gãy giữa loài người và Thiên Chúa, và mọi người sinh ra đều thừa hưởng tình trạng ấy chứ không thừa hưởng lỗi của ai.
Nhập thể
Nhập thể nghĩa đen là mặc lấy xác thịt. Đạo tuyên xưng Ngôi Hai đã thật sự làm người, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, sống một đời người có gia đình, có nghề nghiệp, có đói khát và có nước mắt; không phải Thiên Chúa giả dạng người, cũng không phải một con người được nâng lên hàng thần. Hệ quả kéo theo rất xa: thân xác không bị coi là thứ xấu xa cần chối bỏ, và vì Thiên Chúa đã trở thành cái nhìn thấy được nên Giáo hội cho phép vẽ ảnh và tạc tượng.
Cứu chuộc
Đạo tuyên xưng cái chết trên thập giá và sự sống lại của Chúa Giêsu là hy lễ hoà giải loài người với Thiên Chúa. Chữ cứu chuộc mượn hình ảnh chuộc người nô lệ về, nhưng giáo lý nhấn rằng đây không phải cuộc trả giá cho ma quỷ, cũng không phải một Thiên Chúa nổi giận đòi phải có máu mới nguôi; cách trình bày chính thức nhấn ở tình yêu tự hiến, chính Thiên Chúa đi bước trước.
Ơn cứu độ và ân sủng
Ân sủng là sự sống của Thiên Chúa ban cho con người cách nhưng không, không do công trạng mà mua được. Công Giáo dạy con người được cứu độ nhờ ân sủng, và ân sủng ấy đòi đáp lại bằng đức tin và bằng đời sống, nghĩa là cả việc làm cũng có phần; đây là chỗ khác biệt lịch sử với các hệ phái Tin Lành, vốn nhấn mạnh công thức chỉ nhờ đức tin. Về đời sau, đạo tuyên xưng có phán xét, có thiên đàng, hoả ngục và luyện ngục.
Đức tin, đức cậy, đức mến
Đời sống người tín hữu được xếp quanh ba nhân đức mà giáo lý gọi là đối thần. Đức tin là nhận điều Thiên Chúa mặc khải là thật. Đức cậy là trông vào lời hứa của Ngài mà sống. Đức mến là yêu Thiên Chúa trên hết và yêu người thân cận như chính mình; thánh Phaolô đặt đức mến cao nhất, vì đức tin và đức cậy sẽ hết khi đã thấy tận mắt, còn đức mến thì còn mãi.
Kinh Tin Kính
Tất cả những điều trên được đọc gọn trong Kinh Tin Kính, có hai bản quen dùng là bản các Tông đồ và bản Nicea Constantinôpôli, bản sau hình thành từ hai công đồng năm 325 và 381. Bản dài đi theo trật tự Ba Ngôi: tin kính Chúa Cha là Đấng tạo thành; tin kính Chúa Giêsu Kitô cùng các biến cố nhập thể, tử nạn và phục sinh; rồi tin kính Chúa Thánh Thần, tin Hội Thánh và sự sống đời sau.
陸Bảy Bí Tích
Bí tích là dấu chỉ hữu hình mà Công Giáo tin là chuyển thông ơn thánh cách hữu hiệu: một cử chỉ thấy được, sờ được, mang theo một thực tại không thấy được. Nước đổ trên đầu, dầu xức trên trán, bánh và rượu trên bàn thờ, lời ưng thuận của đôi tân hôn. Giáo lý theo thánh Tôma Aquinô xếp bảy bí tích song song với các chặng của đời người.
| Bí tích | Ý nghĩa | Khi nào lãnh nhận |
|---|---|---|
| Rửa Tội | Được tha nguyên tội và tội riêng, trở nên con Thiên Chúa và thành phần Giáo hội. Chỉ lãnh một lần. | Ở Việt Nam thường rửa tội cho trẻ sơ sinh; người lớn theo đạo thì rửa tội sau khi học giáo lý dự tòng. |
| Thêm Sức | Lãnh nhận Chúa Thánh Thần cách trọn vẹn hơn để sống và làm chứng cho đức tin. Chỉ lãnh một lần. | Thường ở tuổi thiếu niên, do giám mục ban. |
| Thánh Thể | Rước Mình và Máu Chúa Kitô dưới hình bánh rượu. Đạo tuyên xưng bánh rượu sau lời truyền phép thật sự trở nên Mình Máu Chúa. | Rước lễ lần đầu khoảng bảy tới mười tuổi, sau đó rước lễ trong mỗi Thánh Lễ. |
| Hoà Giải | Xưng tội với linh mục và được tha tội. Quen gọi là xưng tội. | Bất cứ khi nào cần; Giáo hội buộc ít là mỗi năm một lần khi có tội trọng. |
| Xức Dầu Bệnh Nhân | Xức dầu thánh và cầu nguyện cho người đau nặng hoặc già yếu, xin ơn nâng đỡ phần hồn phần xác. | Khi bệnh nặng hoặc tuổi già suy nhược. Có thể lãnh nhiều lần, không phải chỉ lúc hấp hối. |
| Truyền Chức Thánh | Đặt một người vào hàng giáo sĩ với ba bậc: phó tế, linh mục, giám mục. Do giám mục ban. | Sau nhiều năm đào tạo ở chủng viện. Trong Giáo hội Latinh, ứng viên linh mục cam kết sống độc thân. |
| Hôn Phối | Đôi nam nữ trao lời ưng thuận trọn đời. Giáo lý dạy chính đôi bạn là người cử hành, linh mục chứng hôn. | Sau khoá giáo lý hôn nhân và việc rao hôn phối tại giáo xứ. |
Trong bảy bí tích ấy, Thánh Thể giữ vị trí trung tâm, và giáo lý nói rõ sáu bí tích kia đều quy hướng về nó: các bí tích khác ban ơn của Chúa Kitô, còn Thánh Thể thì chứa chính Chúa Kitô. Đó là vì sao trong nhà thờ luôn có một tủ nhỏ trên cung thánh gọi là nhà tạm, nơi cất Mình Thánh; người vào nhà thờ bái gối là hướng về nhà tạm. Việc rước lễ cũng được giữ nghiêm ngặt: phải sạch tội trọng, giữ chay một giờ trước, và người ngoài Công Giáo thì không rước lễ, không phải vì phân biệt đối xử mà vì rước lễ được coi như lời tuyên xưng trọn vẹn về điều mình tin.
柒Cơ Cấu Giáo Hội
Công Giáo là tôn giáo có bộ máy chặt chẽ vào bậc nhất thế giới, khác hẳn các truyền thống Á Đông vốn tổ chức theo sơn môn hay theo làng. Từ một giáo họ nhỏ ở đồng bằng sông Hồng lên tới Rôma có một chuỗi liên lạc rõ ràng, ai thuộc quyền ai, ai chịu trách nhiệm việc gì.
| Bậc | Vai trò |
|---|---|
| Đức Giáo hoàng | Giám mục Rôma, kế vị thánh Phêrô, đứng đầu Giáo hội hoàn vũ. Được bầu bởi Hồng y đoàn trong mật nghị, tại vị trọn đời, tuy vẫn có thể từ nhiệm. |
| Hồng y | Do Đức Giáo hoàng bổ nhiệm, làm cố vấn và đứng đầu các cơ quan trung ương. Hồng y dưới tám mươi tuổi có quyền vào mật nghị bầu giáo hoàng; đây không phải một bậc chức thánh riêng. |
| Tổng giám mục và giám mục | Coi sóc một giáo phận, có quyền giảng dạy, thánh hoá và cai quản trong địa hạt của mình. Chỉ giám mục mới ban bí tích Truyền Chức Thánh. |
| Linh mục | Cộng tác viên của giám mục, thường làm cha xứ hoặc cha phó một giáo xứ. Trong Giáo hội Latinh, linh mục giữ luật độc thân. |
| Phó tế | Bậc thứ ba trong chức thánh. Giúp lễ, rao giảng, làm phép rửa, chứng hôn, nhưng không cử hành Thánh Lễ và không giải tội. Phó tế vĩnh viễn có thể đã lập gia đình. |
| Tu sĩ nam nữ | Người khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm là khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Nữ tu không có chức thánh. Dòng lớn ở Việt Nam có Đaminh, Phanxicô, Chúa Cứu Thế, Mến Thánh Giá. |
| Giáo dân | Đại đa số người Công Giáo. Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh giáo dân là thành phần chủ động, thánh hoá đời sống gia đình, nghề nghiệp và xã hội. |
Về mặt địa hạt, đơn vị nền tảng là giáo phận, do một giám mục coi sóc; nhiều giáo phận hợp thành một giáo tỉnh, và trong giáo phận các giáo xứ được nhóm lại thành giáo hạt. Đơn vị mà người tín hữu gắn bó nhất là giáo xứ, có cha xứ, có nhà thờ, có hội đồng mục vụ. Dưới giáo xứ còn có giáo họ, đôi khi chỉ là một xóm đạo với một nhà nguyện nhỏ.
Ở đỉnh có hai thực thể mà người ngoài hay lẫn. Toà Thánh là cơ quan trung ương của Giáo hội, gồm Đức Giáo hoàng và các bộ ngành của Giáo triều Rôma, và là chủ thể đặt quan hệ ngoại giao với các quốc gia. Còn Quốc gia Thành Vatican là một lãnh thổ, lập theo Hiệp ước Latêranô năm 1929. Nói gọn: Toà Thánh là thẩm quyền, Vatican là mảnh đất.
捌Kinh Thánh
Kinh Thánh trong Công Giáo không phải một quyển sách mà là một bộ sưu tập, gồm nhiều tác phẩm viết trong khoảng một nghìn năm, bằng ba thứ tiếng là Hípri, Aram và Hy Lạp. Quy điển Công Giáo, tức danh mục chính thức các sách được nhận, gồm bảy mươi ba quyển, được Công đồng Trentô xác định dứt khoát ở thế kỷ mười sáu.
| Phần | Số quyển | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Cựu Ước | 46 | Ngũ Thư gồm năm quyển Luật Môsê; các sách lịch sử; các sách khôn ngoan và thi ca như Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Gióp; các sách ngôn sứ. |
| Tân Ước | 27 | Bốn sách Tin Mừng; sách Công vụ Tông đồ; hai mươi mốt thư, phần lớn của thánh Phaolô; sách Khải Huyền. |
| Bốn sách Tin Mừng | 4 | Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan. Ba quyển đầu gọi là Tin Mừng Nhất Lãm vì cùng một mạch trình thuật; quyển Gioan đi lối riêng, nặng về suy niệm thần học. |
Chỗ hay có thắc mắc là vì sao Kinh Thánh Công Giáo có bảy mươi ba quyển còn bản của các hệ phái Tin Lành chỉ có sáu mươi sáu. Phần Tân Ước hai bên giống nhau hoàn toàn; khác nhau nằm ở Cựu Ước, bốn mươi sáu so với ba mươi chín. Cộng đoàn Do Thái nói tiếng Hy Lạp ở Alexandria dùng bản dịch Bảy Mươi, quen gọi là Septuaginta, gồm bốn mươi sáu quyển, và các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi nhận bản ấy; còn truyền thống Do Thái vùng Palestin về sau chốt lại ba mươi chín quyển tiếng Hípri. Đến thế kỷ mười sáu, Martin Luther theo danh mục Hípri, một phần vì các sách chỉ có trong bản Hy Lạp hay được dùng để biện minh cho giáo lý mà ông phản đối, tiêu biểu là chuyện cầu nguyện cho người chết trong sách Macabê. Bảy quyển chênh nhau gọi là các sách đệ nhị quy điển: Tôbia, Giuđitha, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Barúc và hai quyển Macabê.
Một điểm nữa: Công Giáo không chủ trương chỉ Kinh Thánh mà thôi. Đạo nhận hai nguồn của mặc khải là Kinh Thánh và Thánh Truyền, tức truyền thống sống động của Giáo hội, và nhận thẩm quyền giải thích chính thức thuộc về hàng giáo phẩm. Ở Việt Nam, bản dịch được dùng rộng rãi nhất là bản của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
玖Phụng Vụ Và Thánh Lễ
Thánh Lễ là việc thờ phượng chính của Công Giáo, cử hành mỗi ngày ở hàng trăm nghìn nhà thờ khắp thế giới theo cùng một khuôn. Người Công Giáo buộc dự lễ ngày Chúa nhật và các lễ trọng. Trước Công đồng Vaticanô II lễ đọc bằng tiếng Latinh; từ sau công đồng, phụng vụ được cử hành bằng tiếng bản địa.
Cấu trúc Thánh Lễ
Thánh Lễ gồm bốn phần. Nghi thức đầu lễ có ca nhập lễ, dấu thánh giá, lời chào, nghi thức sám hối và lời nguyện nhập lễ. Phụng vụ Lời Chúa có các bài đọc Kinh Thánh xen thánh vịnh đáp ca, bài Tin Mừng, bài giảng, kinh Tin Kính và lời nguyện chung. Phụng vụ Thánh Thể gồm phần chuẩn bị lễ vật, Kinh Tạ Ơn với lời truyền phép ở giữa, rồi nghi thức hiệp lễ với kinh Lạy Cha và việc rước lễ. Sau cùng là nghi thức kết lễ.
Năm phụng vụ
Công Giáo có lịch riêng, gọi là năm phụng vụ, không khởi từ tháng Giêng dương lịch mà từ Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng, thường rơi vào cuối tháng mười một hoặc đầu tháng mười hai, và kết thúc vào lễ Chúa Kitô Vua.
| Mùa | Thời lượng | Ý nghĩa | Màu áo lễ |
|---|---|---|---|
| Mùa Vọng | Khoảng bốn tuần trước Giáng Sinh | Chuẩn bị tâm hồn mừng Chúa giáng sinh và trông đợi ngày Chúa lại đến. | Tím, riêng Chúa nhật thứ ba dùng màu hồng |
| Mùa Giáng Sinh | Từ đêm 24 tháng Mười Hai tới lễ Chúa chịu phép rửa | Mừng mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người. | Trắng |
| Mùa Chay | Bốn mươi ngày, từ thứ Tư Lễ Tro tới thứ Năm Tuần Thánh | Sám hối, cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái để chuẩn bị mừng Phục Sinh. | Tím, riêng Chúa nhật thứ tư dùng màu hồng |
| Tam Nhật Vượt Qua | Ba ngày cuối Tuần Thánh | Tưởng niệm bữa Tiệc Ly, cuộc thương khó và sự phục sinh. Đỉnh của cả năm phụng vụ. | Đỏ thứ Sáu Tuần Thánh, trắng đêm Vọng Phục Sinh |
| Mùa Phục Sinh | Năm mươi ngày tới lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống | Mừng Chúa sống lại. Tiếng Alleluia vang suốt mùa này. | Trắng, riêng lễ Hiện Xuống dùng màu đỏ |
| Mùa Thường Niên | Ba mươi bốn tuần, xen giữa các mùa trên | Đi theo lời giảng và việc làm của Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày. | Xanh lá cây |
Kinh Mân Côi và việc đạo đức bình dân
Bên cạnh phụng vụ chính thức còn có cả một lớp thực hành mà Giáo hội gọi là lòng đạo đức bình dân. Nổi tiếng nhất là Kinh Mân Côi, lần chuỗi hạt vừa đọc kinh vừa suy ngắm hai mươi mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu và Đức Mẹ, chia làm bốn mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng; mùa Sáng do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II thêm vào trong tông thư Rosarium Virginis Mariae năm 2002. Ở Việt Nam, các thực hành này gắn chặt với nhịp sống xóm đạo: đọc kinh tối chung trong gia đình, ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó trong Mùa Chay, rước kiệu Đức Mẹ tháng Năm và tháng Mười, hành hương La Vang.
拾Bốn Trăm Năm Ở Việt Nam
Công Giáo có mặt trên đất Việt sớm hơn nhiều người tưởng. Trang lịch sử của Hội đồng Giám mục Việt Nam ghi mốc đầu tiên là năm 1533, khi một thừa sai tên I Ni Khu vào giảng đạo ở vùng Nam Chân và Giao Chỉ. Nửa sau thế kỷ mười sáu có các linh mục dòng Đaminh và dòng Phanxicô lui tới, và năm 1573 cụ Đỗ Hưng Viễn được kể là tín hữu người Việt đầu tiên.
Các thừa sai dòng Tên và chữ Quốc ngữ
Bước ngoặt là năm 1615, khi các thừa sai dòng Tên tới Đàng Trong với chủ trương thích nghi văn hoá: học tiếng bản xứ, mặc y phục bản xứ, diễn đạt giáo lý bằng chính khung ý niệm của người bản xứ. Để học tiếng Việt cho nhanh, các vị dùng mẫu tự Latinh ghi âm tiếng nói, và từ nhu cầu thực dụng ấy mà chữ Quốc ngữ thành hình.
Đây là chỗ cần nói cho đúng, vì lâu nay hay bị rút gọn thành một tên người. Người khởi đầu là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, mất năm 1625; sau ông có Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa soạn các bản từ vựng Việt Bồ. Alexandre de Rhodes, hoạt động ở Việt Nam khoảng 1619 tới 1649, là người kế thừa và hệ thống hoá; năm 1651 tại Rôma ông cho in Từ điển Việt Bồ La và Phép giảng tám ngày. Nói ông có công lớn thì đúng; nói ông một mình sáng chế ra chữ Quốc ngữ thì không đúng.
Cơ cấu ban đầu và các giai đoạn cấm đạo
Năm 1659, Toà Thánh lập hai giáo phận tông toà đầu tiên trên đất Việt, cho Đàng Trong và Đàng Ngoài; đây là mốc pháp lý khai sinh Giáo hội tại Việt Nam. Năm 1668 có bốn linh mục người Việt tiên khởi được thụ phong, và cũng thời gian này hình thành Dòng Mến Thánh Giá.
Lịch sử ấy đi qua nhiều đợt cấm đạo, trải từ thời chúa Trịnh chúa Nguyễn cho tới triều Nguyễn, tập trung nặng nhất trong khoảng 1833 tới 1861 dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, với những biện pháp riêng của từng thời như lệnh phân tháp. Trước đó, năm 1798 dưới triều Cảnh Thịnh, một sắc chỉ cấm đạo khiến giáo dân Quảng Trị chạy vào rừng La Vang; từ biến cố ấy hình thành truyền tụng về việc Đức Mẹ hiện ra, và La Vang được nhận làm Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc năm 1961. Thư viện thuật các mốc này theo lối mô tả và không quy trách nhiệm cho bên nào.
Các thánh tử đạo Việt Nam
Ngày 19 tháng Sáu năm 1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam, các vị đã được phong chân phước qua bốn đợt vào các năm 1900, 1906, 1909 và 1951. Trong 117 vị có 96 người Việt gồm 37 linh mục, 14 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân, trong đó có một phụ nữ là bà Anê Lê Thị Thành; cùng 11 vị gốc Tây Ban Nha và 10 vị gốc Pháp. Thầy giảng Anrê Phú Yên được phong chân phước ngày 5 tháng Ba năm 2000. Số người chết vì đạo trong hai thế kỷ mười tám và mười chín lớn hơn nhiều; tài liệu của Giáo hội thường nêu từ mười ba vạn tới ba mươi vạn, cần hiểu là ước tính.
Hàng giáo phẩm và Giáo hội hôm nay
Năm 1933, Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng trở thành giám mục người Việt đầu tiên. Năm 1960, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn, chấm dứt quy chế địa hạt truyền giáo; giáo phận thứ hai mươi bảy, giáo phận Hà Tĩnh, được lập năm 2018. Theo thống kê năm 2025 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, tính tới ngày 31 tháng Mười Hai năm 2025, Việt Nam có khoảng 7,57 triệu người Công Giáo trên dân số chừng 102,3 triệu, tức khoảng 7,4 phần trăm, tổ chức trong 27 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh, với 8.307 linh mục, 4.636 chủng sinh, 28.493 tu sĩ nam nữ và 84.464 giáo lý viên.
拾壹Đức Mẹ Và Các Thánh
Bước vào một nhà thờ Công Giáo ở Việt Nam, quý vị sẽ thấy tượng Đức Mẹ Maria ở một bên cung thánh hoặc ngoài sân, có khi lớn hơn cả tượng chịu nạn, và trước tượng lúc nào cũng có hoa tươi. Đó là dấu hiệu của một điều nằm sâu trong đời sống đạo, nhưng cũng là chỗ người ngoài hiểu sai nhiều nhất.
Vai trò Đức Maria
Công Giáo tuyên xưng Đức Maria là người đã sinh ra Chúa Giêsu, và vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể nên Giáo hội gọi bà là Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng này không có nghĩa bà có trước Thiên Chúa hay sinh ra bản tính Thiên Chúa; nó là hệ quả lôgic của việc tuyên xưng Chúa Giêsu là một ngôi vị duy nhất vừa là Thiên Chúa vừa là người.
| Tín điều | Năm công bố | Nội dung |
|---|---|---|
| Mẹ Thiên Chúa | 431, Công đồng Êphêsô | Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa thật, nên được gọi là Mẹ Thiên Chúa. |
| Trọn đời đồng trinh | Truyền lại từ thời các Tông đồ, được Công đồng Latêranô năm 649 xác nhận | Đức Maria đồng trinh trước, trong và sau khi sinh Chúa Giêsu. |
| Vô nhiễm nguyên tội | 1854, Đức Giáo hoàng Piô IX | Đức Maria được gìn giữ khỏi nguyên tội ngay từ lúc thụ thai, nhờ ơn cứu độ của Chúa Kitô được ban trước. |
| Hồn xác lên trời | 1950, Đức Giáo hoàng Piô XII | Sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, Đức Maria được đưa cả hồn lẫn xác về trời. Quen gọi là lễ Mông Triệu, mừng ngày 15 tháng Tám. |
Việc tôn kính các thánh
Thánh trong Công Giáo là người đã qua đời và được Giáo hội xác nhận là đang hưởng phúc bên Thiên Chúa, sau một tiến trình điều tra dài gọi là án phong. Người tín hữu xin các thánh cầu bầu, tức nhờ các vị ấy cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho mình. Mỗi giáo xứ nhận một vị thánh làm quan thầy, mỗi người khi rửa tội cũng nhận một tên thánh.
Đây là chỗ phải phân định cho dứt khoát, và Giáo hội có sẵn ba chữ Latinh. Latria là thờ phượng, chỉ dành riêng cho Thiên Chúa Ba Ngôi, tuyệt đối không dành cho ai khác. Dulia là tôn kính, dành cho các thánh và các thiên thần. Hyperdulia là tôn kính bậc cao dành riêng cho Đức Mẹ Maria, nhưng vẫn thuộc loại tôn kính, và giữa hai loại ấy là khác biệt về bản chất chứ không phải về mức độ.
Nói bằng lời thường: người Công Giáo không thờ Đức Mẹ và không thờ các thánh; họ kính các vị và xin các vị cầu giúp, còn lời thờ lạy thì chỉ dâng lên Thiên Chúa. Cũng vậy với ảnh tượng: Công đồng Nicea năm 787 minh định việc tôn kính ảnh tượng là hướng lòng về nhân vật được vẽ trong ảnh, chứ không dừng lại ở gỗ đá. Chỗ sai lầm phổ biến nhất là đem chữ thờ trong tiếng Việt áp cho mọi cử chỉ cung kính. Muốn hỏi cho trúng, hãy hỏi người Công Giáo rằng họ dâng Thánh Lễ cho ai; câu trả lời bao giờ cũng là dâng lên Thiên Chúa.
拾貳Số Tín Đồ
Con số về tôn giáo bao giờ cũng cần đọc kỹ nguồn và năm. Số của Giáo hội đếm theo sổ rửa tội tại các giáo xứ, còn số của cơ quan thống kê nhà nước đếm theo khai báo của người dân, nên hai bên thường lệch nhau.
| Phạm vi | Con số | Năm dữ liệu | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Toàn cầu | Khoảng 1,422 tỷ người Công Giáo, chừng 17,8 phần trăm dân số thế giới | 2024 | Niên giám Toà Thánh bản 2026, theo bản tin Vatican News |
| Toàn cầu, số cũ hơn | 1,389 tỷ người, 17,7 phần trăm dân số thế giới | 31 tháng Mười Hai năm 2022 | Bản thống kê do Hội đồng Giám mục Việt Nam đăng lại năm 2024 |
| Việt Nam | Khoảng 7,57 triệu người, chừng 7,4 phần trăm dân số | 31 tháng Mười Hai năm 2025 | Thống kê Giáo hội Việt Nam 2025, Hội đồng Giám mục Việt Nam |
| Việt Nam, số cũ hơn | 6.709.307 người trên dân số 96.662.596, tức 6,94 phần trăm | 31 tháng Mười Hai năm 2018 | Bản thống kê Giáo hội Công giáo Việt Nam |
| Cơ cấu tại Việt Nam | 27 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh; 8.307 linh mục; 28.493 tu sĩ nam nữ | 2025 | Thống kê Giáo hội Việt Nam 2025, Hội đồng Giám mục Việt Nam |
Mấy nhận xét rút từ bảng trên. Thứ nhất, Công Giáo là cộng đồng tôn giáo có tổ chức đông nhất thế giới xét theo số tín hữu, và đà tăng hiện nay chủ yếu đến từ châu Phi, nơi số tín hữu tăng từ 281 lên 288 triệu chỉ trong một năm. Thứ hai, tại Việt Nam đây là tôn giáo có tổ chức lớn thứ hai sau Phật Giáo, tỷ lệ khoảng bảy phần trăm dân số và tương đối ổn định qua nhiều thập niên. Thứ ba, số linh mục toàn cầu gần như đứng yên trong khi số giáo dân tăng.
拾參Trong Con Mắt Phong Thủy
Mục này là mục khó viết nhất của cả trang, vì nó dễ bị đọc lệch theo hai hướng cùng sai. Nên xin nói trước điều quan trọng nhất, rồi mới nói phần còn lại.
Điều quan trọng nhất là: Công Giáo không dạy phong thủy, và Giáo hội có lập trường minh nhiên về việc bói toán. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo ở các số 2116 và 2117 nói rõ rằng mọi hình thức bói toán đều phải loại bỏ, kể tên cả chiêm tinh, coi chỉ tay, giải điềm và cầu hồn, vì các thực hành ấy hàm chứa ý muốn thống trị thời gian và thống trị con người, làm suy giảm lòng phó thác vào Thiên Chúa. Các trang giải đáp của giới Công Giáo Việt Nam áp dụng thẳng khoản này cho việc xem tử vi. Đứng trên lập trường của chính đạo ấy, 風水 không phải là một phần của đạo. Thư viện nêu điều đó trước tiên để không ai đọc mục này rồi hiểu rằng người Công Giáo nên đi xem phong thủy.
Nhưng nhà thờ Việt Nam thì dựng theo lối bản địa
Đó là chuyện giáo lý. Còn chuyện xây cất trên đất Việt lại là chuyện khác, quan sát được bằng mắt: suốt bốn trăm năm, nhà thờ ở Việt Nam phần lớn do thợ Việt dựng, theo tay nghề mà những người thợ ấy đã học từ việc dựng đình, dựng chùa.
Ví dụ rõ nhất là quần thể nhà thờ đá Phát Diệm ở Ninh Bình, do linh mục Phêrô Trần Lục, dân quen gọi là cụ Sáu, chủ trì xây dựng cuối thế kỷ mười chín, với nhà thờ lớn dựng năm 1891. Lối vào phía nam mở ra một hồ nước rộng, giữa hồ có đảo nhỏ; qua hồ tới Phương Đình, một khối đá ba tầng có kết cấu tam quan như cổng đình chùa của người Việt, mái cong và hoa văn chạm trổ theo lối Á Đông. Cùng nếp ấy còn thấy nơi khác: sân rộng phía trước, nhiều ngôi quay mặt hướng nam, tường bao có cổng tam quan.
Phân định ba lớp
Lớp thứ nhất, điều Giáo hội dạy. Quy định về kiến trúc thánh đường nói về phụng vụ chứ không nói về khí trường: cung thánh phải nổi bật, bàn thờ là trung tâm, rồi giảng đài, nhà tạm, giếng rửa tội. Truyền thống cổ có tập tục hướng nhà thờ về phía đông, mang ý nghĩa hướng về Chúa Kitô phục sinh; đó là biểu tượng phụng vụ, không phải phép chọn hướng theo tuổi gia chủ.
Lớp thứ hai, điều người thợ và dân bản địa làm theo thói quen xây cất. Đây mới là chỗ sinh ra những nét mà người ngoài tưởng là phong thủy. Người thợ mộc dựng nhà thờ vốn là người thợ từng dựng đình; hồ nước phía trước, sân rộng, mái cong, cổng tam quan, hướng nam đến từ tay nghề và khí hậu, chứ không từ một điều khoản giáo luật nào.
Lớp thứ ba, kiến giải của thư viện. Chỗ trùng nhau giữa hai lớp trên không ngẫu nhiên, vì cả phong thủy cổ truyền lẫn kinh nghiệm xây cất dân gian đều rút từ cùng một bộ điều kiện: gió mùa đông bắc, nắng gắt phương nam, mưa nhiều, đất trũng. Đây là kiến giải, không phải giáo huấn của Giáo hội.
Vậy nên hiểu thế nào cho phải. Nếu quý vị là người Công Giáo: trang này không khuyên quý vị xem phong thủy, và thẩm quyền đúng để hỏi là cha xứ của mình chứ không phải một trang thư viện. Nếu quý vị không có đạo và đang nhìn một ngôi nhà thờ Việt Nam mà thấy có dáng dấp quen thuộc, thì cũng đừng vội kết luận rằng người Công Giáo có xem hướng. Cái quý vị đang thấy là dấu tay của người thợ Việt. Nói cho gọn: kiến trúc thì có bản địa hoá, giáo lý thì không.
拾肆Những Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom lại những câu mà thư viện nghe nhiều nhất khi người ngoài đạo hỏi về Công Giáo. Ba chỗ trượt hay gặp nhất: lẫn Công Giáo với Tin Lành vì cả hai đều là Kitô Giáo; lẫn tôn kính với thờ phượng vì tiếng Việt dùng chung một chữ thờ; và lẫn kỷ luật của Giáo hội, thứ có thể đổi, với tín điều, thứ không đổi.
Không. Cả hai đều thuộc Kitô Giáo, cùng tin một Thiên Chúa và tin Chúa Giêsu Kitô, nhưng tách nhau từ cuộc Cải cách năm 1517. Bốn điểm khác chính: Công Giáo nhận cả Kinh Thánh lẫn Thánh Truyền, Tin Lành lấy Kinh Thánh làm chuẩn tối hậu; Công Giáo hiệp thông dưới quyền Đức Giáo hoàng, Tin Lành gồm nhiều hệ phái độc lập; Công Giáo có bảy bí tích, phần lớn hệ phái Tin Lành giữ hai; Công Giáo tôn kính Đức Mẹ và các thánh. Từ ngữ cũng khác: bên Công Giáo nói Thiên Chúa, linh mục, Thánh Lễ; bên Tin Lành nói Đức Chúa Trời, mục sư, Hội Thánh.
Không. Giáo lý phân biệt dứt khoát giữa thờ phượng dành riêng cho Thiên Chúa và tôn kính dành cho Đức Mẹ, các thánh và ảnh tượng. Công đồng Nicea năm 787 minh định việc kính ảnh tượng là hướng lòng về nhân vật được vẽ, chứ không dừng ở gỗ đá. Mười điều răn cấm thờ ngẫu tượng vẫn nguyên hiệu lực.
Được, và đây là câu có mốc lịch sử rõ ràng. Trước kia, trong cuộc tranh luận về nghi lễ Á Đông, Toà Thánh từng cấm. Ngày 8 tháng Mười Hai năm 1939, Bộ Truyền Giáo ban huấn thị Plane Compertum Est, đổi lập trường, cho phép tín hữu cúi đầu, dâng hương và bày tỏ lòng cung kính trước người quá cố khi những cử chỉ ấy mang ý nghĩa dân sự và hiếu kính. Tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục ra thông cáo ngày 14 tháng Sáu năm 1965 tại Đà Lạt, cho phép đặt bàn thờ gia tiên, bày ảnh, dâng hoa, thắp hương, vái lạy, làm giỗ chạp; năm 2019 công bố thêm văn kiện hướng dẫn cho việc cưới, tang và giỗ. Giới hạn còn lại: bàn thờ gia tiên đặt thấp hơn bàn thờ Chúa, và không đốt vàng mã.
Trong Giáo hội Latinh, tức phần lớn người Công Giáo trên thế giới và toàn bộ ở Việt Nam, linh mục giữ luật độc thân. Nhưng đây là một kỷ luật của Giáo hội chứ không phải một tín điều, nên trên nguyên tắc có thể đổi. Luật khởi từ công đồng Elvira năm 306 và thành buộc rộng rãi từ thời Đức Giáo hoàng Grêgôriô VII. Trong các Giáo hội Công Giáo Đông phương hiệp thông với Rôma, người đã lập gia đình vẫn có thể chịu chức linh mục, tuy giám mục thì buộc độc thân.
Không, và không có người Công Giáo nào tin như vậy. Đức Giáo hoàng là một con người, là giám mục Rôma, được tin là kế vị thánh Phêrô; ngài phải xưng tội như mọi tín hữu. Tín điều về ơn bất khả ngộ do Công đồng Vaticanô I công bố năm 1870 có phạm vi rất hẹp: chỉ áp dụng khi ngài long trọng tuyên bố một điều thuộc đức tin hoặc luân lý cho toàn thể Giáo hội.
Xưng tội là bí tích Hoà Giải: người tín hữu nhìn nhận lỗi của mình, xưng ra với linh mục, tỏ lòng ăn năn và lãnh lời tha tội. Giáo lý dạy chính Thiên Chúa tha tội, linh mục là thừa tác viên. Điều buộc là xưng các tội trọng. Linh mục bị ràng buộc bởi ấn toà giải tội, tức nghĩa vụ giữ kín tuyệt đối.
拾Nơi Của Đạo Này Trên Đất Việt
Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.

Nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Sài Gòn, xây bằng gạch chở từ Marseille, hai tháp chuông cao hơn sáu mươi mét là điểm nhìn quen thuộc của thành phố.

Quần thể nhà thờ xây bằng đá và gỗ theo lối đình chùa Việt Nam, mái cong, cột lim, do linh mục Trần Lục chủ trì.
問Hỏi Đáp Nhanh
Công Giáo và Thiên Chúa Giáo có phải là một không?
Trong cách nói thông thường ở Việt Nam, Thiên Chúa Giáo hay được dùng để chỉ Công Giáo, nhưng nói cho chặt thì Thiên Chúa Giáo là cách gọi chung các đạo thờ một Thiên Chúa, còn Công Giáo là một nhánh cụ thể của Kitô Giáo, hiệp thông với Đức Giáo hoàng ở Rôma. Kitô Giáo gồm ba khối lớn: Công Giáo, Chính Thống Giáo và các hệ phái Tin Lành.
Việt Nam có bao nhiêu người Công Giáo?
Theo số liệu thống kê năm 2025 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, tính tới ngày 31 tháng Mười Hai năm 2025 có khoảng 7,57 triệu người Công Giáo trên dân số chừng 102,3 triệu, tức khoảng 7,4 phần trăm, tổ chức trong 27 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh là Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh, với 8.307 linh mục. Đây là tôn giáo có tổ chức lớn thứ hai ở Việt Nam sau Phật Giáo.
Người Công Giáo có được thờ cúng ông bà tổ tiên không?
Được. Huấn thị Plane Compertum Est ngày 8 tháng Mười Hai năm 1939 của Bộ Truyền Giáo đã đổi lập trường trước đó, cho phép các cử chỉ cung kính người quá cố khi chúng mang ý nghĩa hiếu kính và dân sự. Tại Việt Nam, thông cáo của Hội đồng Giám mục ngày 14 tháng Sáu năm 1965 cho phép đặt bàn thờ gia tiên, bày ảnh, dâng hoa, thắp hương, vái lạy và làm giỗ chạp; năm 2019 có thêm văn kiện hướng dẫn chi tiết. Giới hạn còn lại là không làm những việc mà giáo lý xếp vào mê tín, chẳng hạn đốt vàng mã.
Người Công Giáo có thờ Đức Mẹ và các thánh không?
Không. Giáo lý phân biệt rõ giữa thờ phượng, tiếng Latinh là latria, chỉ dành riêng cho Thiên Chúa, và tôn kính, tiếng Latinh là dulia, dành cho các thánh, với mức cao hơn gọi là hyperdulia dành cho Đức Mẹ Maria. Người tín hữu xin Đức Mẹ và các thánh cầu bầu giúp mình, còn lời thờ lạy thì chỉ dâng lên Thiên Chúa. Thánh Lễ, kể cả trong ngày lễ kính Đức Mẹ, luôn dâng lên Thiên Chúa.
Vì sao Kinh Thánh Công Giáo có 73 quyển còn Kinh Thánh Tin Lành chỉ có 66?
Phần Tân Ước hai bên giống nhau, cùng 27 quyển. Khác nhau nằm ở Cựu Ước: Công Giáo có 46 quyển theo bản dịch Hy Lạp gọi là bản Bảy Mươi mà các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi vốn dùng, còn Tin Lành theo danh mục Hípri 39 quyển mà Martin Luther đã chọn ở thế kỷ mười sáu. Bảy quyển chênh nhau gọi là sách đệ nhị quy điển: Tôbia, Giuđitha, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Barúc và hai quyển Macabê. Công đồng Trentô đã xác định lại danh mục 73 quyển.
Vì sao linh mục Công Giáo không được lập gia đình?
Vì luật độc thân của Giáo hội Latinh, khởi từ công đồng Elvira năm 306 và thành buộc rộng rãi từ thời Đức Giáo hoàng Grêgôriô VII ở thế kỷ mười một. Cần lưu ý đây là một kỷ luật của Giáo hội chứ không phải một tín điều, nên trên nguyên tắc có thể thay đổi. Trong các Giáo hội Công Giáo Đông phương hiệp thông với Rôma, người đã có gia đình vẫn có thể chịu chức linh mục; phó tế vĩnh viễn cũng có thể là người có gia đình.
Alexandre de Rhodes có phải là người sáng chế ra chữ Quốc ngữ không?
Nói ông một mình sáng chế thì không đúng với sử liệu. Người khởi đầu việc dùng mẫu tự Latinh ghi âm tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, mất năm 1625; sau đó có Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa soạn các bản từ vựng. Alexandre de Rhodes là người kế thừa, hệ thống hoá và cho in năm 1651 tại Rôma bộ Từ điển Việt Bồ La cùng sách Phép giảng tám ngày, hai tài liệu sớm nhất còn giữ được về diện mạo tiếng Việt thế kỷ mười bảy. Công lao của ông là rất lớn, nhưng là công lao của người hoàn thiện trong một chuỗi nhiều người.
Người Công Giáo có được xem tử vi, phong thủy không?
Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo ở các số 2116 và 2117 dạy rằng mọi hình thức bói toán đều phải loại bỏ, kể tên cả chiêm tinh, coi chỉ tay, giải điềm và cầu hồn, vì các thực hành ấy hàm chứa ý muốn thống trị thời gian và làm suy giảm lòng phó thác vào Thiên Chúa; các trang giải đáp Công Giáo Việt Nam áp dụng thẳng khoản này cho việc xem tử vi. Còn chuyện nhiều nhà thờ Việt Nam có hồ nước phía trước, sân rộng hay quay hướng nam, đó là dấu tay của người thợ Việt quen dựng đình chùa, không phải giáo huấn của Giáo hội. Ai đang thắc mắc cho trường hợp của mình thì thẩm quyền đúng để hỏi là cha xứ của mình.