Leo hết dãy bậc đá dẫn lên lưng núi, quý vị dừng lại ở một khoảng sân hẹp kê sát vách đá. Bên phải là mái chùa lợp ngói, hai cột đá xanh chạm rồng đứng trước chánh điện. Bên trái, thấp hơn vài bậc, là một hang đá tự nhiên đã được xây bịt mặt tiền thành điện thờ, trong đó đặt cốt tượng một vị nữ thần. Nhìn xuống là đồng bằng Tây Ninh trải phẳng tới tận chân trời, không một ngọn nào khác nhô lên.
Người ta quen gọi nơi này là chùa Bà, nhưng tên chữ của nó là Linh Sơn Tiên Thạch Tự, nghĩa là chùa Đá Tiên trên Núi Thiêng. Hai cái tên ấy nói đúng hai lớp của chỗ này: một ngôi chùa Phật Giáo có dòng truyền thừa rõ ràng, và một điện thờ nữ thần mà dân cả vùng Đông Nam Bộ tìm về. Hai lớp ấy nằm cạnh nhau, cách nhau vài chục bước chân.

壹Linh Sơn Thánh Mẫu Và Các Dị Bản
Vị được thờ trong hang đá cạnh chùa mang danh hiệu Linh Sơn Thánh Mẫu, dân quen gọi vắn tắt là Bà Đen. Danh hiệu ấy vừa gắn với ngọn núi, vừa gắn với một lớp truyền thuyết dày và không thống nhất. Có ít nhất ba dị bản lớn cùng tồn tại, và không dị bản nào loại bỏ được dị bản kia.
Trong nhà Phật, một ngôi chùa dựng chỗ đã có sẵn tín ngưỡng dân gian thường không xóa cái có sẵn ấy đi. Phật Giáo Bắc Tông có khái niệm hộ pháp, tức các vị thần nhận việc gìn giữ đạo tràng; một nữ thần núi được cả vùng tin theo, khi chùa dựng lên, được đặt vào vai ấy chứ không bị gạt ra. Đó là lý do chánh điện thờ Phật còn hang đá bên cạnh thờ Bà, hai nơi riêng biệt mà cùng một khuôn viên. Chữ Thánh Mẫu trong danh hiệu cũng là chữ của lớp dân gian chứ không phải chữ của kinh điển, và việc nó được giữ nguyên cho thấy nhà chùa chấp nhận cái lớp ấy như nó vốn có.
Dị bản được kể nhiều nhất là chuyện Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan ở vùng Trảng Bàng. Nàng bị kẻ xấu vây bắt trên đường lên núi lễ Phật, gieo mình xuống vực để giữ tiết. Sau khi mất, nàng hiện về trong giấc mộng của một vị hòa thượng dưới hình dáng một người đàn bà da sẫm, nên dân gọi là Bà Đen. Dị bản thứ hai kể về một cô gái tên Thanh Nương, cũng gọi là Đênh, bỏ nhà lên núi theo một vị sư tu hành rồi mất tích, chỉ tìm thấy một bàn chân. Dị bản thứ ba gắn tên núi với một người đàn bà tên Rê Đêng, chữ Đêng về sau đọc trại thành Đen. Nhiều tài liệu còn chép rằng danh hiệu Linh Sơn Thánh Mẫu là do triều Nguyễn ban tặng, nhưng năm tháng và hoàn cảnh ban tặng thì mỗi nguồn ghi một khác, nên chúng tôi để đó như một chi tiết truyền lại.
Một hướng giải thích khác, được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ coi trọng, đặt gốc của Bà Đen vào lớp cư dân bản địa. Người Khmer vùng này thờ một vị nữ thần tên Neang Khmau, nghĩa đúng là Bà Đen, và trong truyện kể của họ, chính bàn chân của vị nữ thần ấy tạo nên ngọn núi. Theo hướng này, tên núi và vị thần có trước, lớp truyện Lý Thị Thiên Hương là lớp về sau của người Việt đắp thêm khi vào khai phá, rồi lớp Phật Giáo phủ lên trên cùng. Ba lớp ấy không thay thế nhau mà chồng lên nhau, và đó chính là cái làm nên diện mạo riêng của nơi này.
Ba vị nữ thần hay bị gộp làm một, cần phân biệt. Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen là nữ thần núi của vùng Đông Nam Bộ, thờ trong hang đá cạnh một ngôi chùa Phật Giáo. Bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang là một vị khác, thờ trong miếu riêng, có lễ vía riêng vào tháng Tư âm lịch, và gốc tượng thuộc lớp văn hóa cổ khác hẳn. Mẫu Liễu Hạnh thì thuộc hệ thống đạo Mẫu Tam Phủ và Tứ Phủ ngoài Bắc, có hệ thống giá đồng, chầu văn và hàng phẩm trật thần linh riêng, không có ở núi Bà Đen. Ba nơi cùng thờ nữ thần nhưng thuộc ba hệ tín ngưỡng khác nhau, lễ thức khác nhau, không nên đánh đồng.
貳Chốn Tổ Trên Lưng Núi
Chùa gắn với bước chân của những vị tăng đi theo lưu dân vào vùng đất mới. Người khai sơn là thiền sư Đạo Trung Thiện Hiếu, dân gian quen gọi là tổ Bưng Đỉa. Tên chùa lấy ý từ núi Linh Sơn bên Ấn Độ, nơi Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa, ghép với chữ Tiên Thạch chỉ khối đá nơi chùa dựa vào.
- 1763Thiền sư Đạo Trung khai sơnThiền sư Đạo Trung Thiện Hiếu dựng chùa trên lưng núi. Các nguồn ghi mốc này không giống nhau: trang của ban quản lý khu di tích ghi năm 1745, một số tài liệu Phật học ghi năm 1763, lại có tài liệu dung hòa rằng chùa có gốc từ 1745 và chính thức dựng năm 1763.
- 1857Trùng tu đời tổ Phước ChíTổ Thanh Thọ Phước Chí khởi xướng đợt sửa chữa lớn đầu tiên còn ghi lại được. Vị này trụ trì trong khoảng các năm 1871 tới 1880.
- 1876Dựng chùa Trung dưới chân núiChùa Linh Sơn Phước Trung, dân quen gọi là chùa Trung, được dựng ở chân núi, khuôn viên rộng khoảng 2.329 mét vuông, làm chỗ dừng của khách hành hương trước khi lên núi.
- 1910 tới 1937Đời tổ Tâm Hòa mở rộngTổ Tâm Hòa Chánh Khâm tiếp tục mở mang chùa. Hai cột đá xanh chạm rồng trước chánh điện, hiện vật quý nhất về mặt kiến trúc, thuộc lớp niên đại này.
- 1956Dựng lại phần chùa hư hạiHòa thượng Nguyên Chất đứng ra sửa lại những nếp nhà đã hỏng. Từ đó về sau, chùa do các vị ni kế tiếp nhau trông coi và tu bổ.
- 1989Xếp hạng di tích quốc giaQuần thể núi Bà Đen được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp quốc gia theo Quyết định số 100-VH/QĐ ngày 21 tháng 1 năm 1989, trong đó có cụm chùa Bà và Điện Bà.
- 1996 tới 1997Trùng tu lớnĐợt trùng tu định hình diện mạo chánh điện như quý vị thấy hôm nay, rộng hơn 210 mét vuông, ngang 14 mét và dài 15 mét.
- 2018Lễ vía Bà thành di sản quốc giaNgày 4 tháng 9 năm 2018, lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
參Chánh Điện, Điện Bà Và Các Chùa Trên Núi
Điều khiến kiến trúc ở đây khác các tổ đình dưới đồng bằng là chùa không được dựng trên một mặt bằng phẳng. Nhà chùa phải kê từng nếp vào các bậc đá có sẵn, chỗ nào đá cho phép thì đặt nhà, chỗ nào đá lấn ra thì để nguyên. Vì vậy tổng thể không có trục dọc thẳng tắp như chùa Nam Bộ thường thấy, mà là một chuỗi công trình bám theo sườn núi.
Rộng hơn 210 mét vuông, ngang 14 mét, dài 15 mét. Trước cửa là hai cột đá xanh cao 4,5 mét, đường kính 0,45 mét, chạm rồng cuốn, thuộc lớp niên đại thời tổ Tâm Hòa.
Hang đá tự nhiên kề chùa, mặt tiền xây bịt lại thành điện thờ, bên trong đặt cốt tượng Linh Sơn Thánh Mẫu. Đây là nơi phần đông khách hành hương tìm đến trước tiên.
Tên chữ là Linh Sơn Long Châu, dựng khoảng năm 1830, cũng hình thành từ một hang đá tự nhiên trên lưng núi, theo hệ phái Bắc Tông.
Tên chữ là Linh Sơn Phước Trung, dựng năm 1876 ở chân núi, khuôn viên khoảng 2.329 mét vuông. Là chặng dừng đầu tiên của người đi lễ trước khi lên các chùa trên cao.
Một hang lớn nằm trên sườn núi, trong quần thể được xếp hạng cùng cụm chùa Bà. Hang có nơi thờ tự và là một trong các điểm dừng trên đường hành hương.
Ba ngôi tháp mộ của chư vị tổ sư khai sơn và kế thế, đặt trong khuôn viên chùa cùng với bàn thờ tổ treo di ảnh và bài vị.
Đọc cả cụm này cùng lúc thì thấy rõ một điều: núi Bà Đen không có một ngôi chùa mà có một hệ thống chùa xếp theo độ cao. Từ chân núi lên là chùa Trung, rồi tới cụm Linh Sơn Tiên Thạch và Điện Bà ở lưng chừng, cao hơn nữa là chùa Hang và chùa Quan Âm. Người xưa đi bộ lên, mỗi chặng dừng lại một chùa, và cách sắp ấy biến việc lên núi thành một hành trình có nhịp chứ không phải một quãng leo liền một mạch.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong sử liệu của chùa. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước hết là cái thế độc sơn. Núi Bà Đen cao 986 mét, đứng một mình giữa một vùng đồng bằng phẳng, chung quanh không có dãy nào nối vào. Trong phép xem đất, một ngọn núi đứng lẻ giữa đồng thì gọi là độc sơn hoặc bình dương khởi đột, tức đất bằng nhô lên. Sách vở coi đây là thế mạnh và cũng là thế cô: mạnh vì cả vùng chỉ có một chỗ tụ khí, cô vì không có núi nào chầu vào để đỡ. Người xưa dựng chùa trên chính ngọn núi ấy chứ không dựng dưới đồng, và theo lối đọc này thì đó là chọn đúng chỗ duy nhất có thế.
Thứ hai là vị trí lưng chừng. Chùa không đặt trên đỉnh mà đặt ở khoảng 350 mét, tức chừng một phần ba chiều cao núi. Phép xem đất gọi chỗ kết huyệt trên sườn núi là chỗ có tựa mà vẫn có trường: lưng còn khối núi phía trên đỡ vào, mặt đã mở ra được tầm nhìn rộng phía dưới. Đặt trên đỉnh thì trống bốn bề, không còn gì để tựa; đặt dưới chân thì bị khối núi đè, không có tầm. Chỗ lưng chừng là chỗ dung hòa, và trong sách vở đó thường là chỗ được chọn.
Thứ ba là vách đá làm hậu chẩm. Chánh điện kê sát vách đá, Điện Bà thì nằm hẳn trong hang đá. Đá trong ngũ hành thuộc hành Thổ ngả sang Kim, tính bền và tính giữ; một nơi thờ tự dựa vào đá được coi là dựa vào cái không dời đổi. Việc thờ tự ở đây bám vào hang tự nhiên chứ không dựng nhà mới hoàn toàn, xét theo lối đọc cổ truyền, là thuận theo thế đất sẵn có thay vì cải tạo nó.
Cuối cùng là hướng nhìn và minh đường. Mặt chùa mở ra phía đồng bằng, tầm mắt không bị chắn tới tận chân trời. Sách gọi khoảng trống rộng trước mặt là minh đường quảng đại, chỗ để khí dừng lại trước khi vào. Ở phần lớn các thế đất, người ta phải đi tìm minh đường; ở đây minh đường có sẵn, vì cả một vùng đồng bằng nằm dưới chân. Chúng tôi ghi những điều này như một cách đọc, không phải như ý đồ đã được vị khai sơn nói ra thành lời.
伍Hội Xuân Và Lễ Vía Bà
Trong năm, núi Bà Đen có hai mùa đông người rõ rệt, và hai mùa ấy thuộc về hai lớp tín ngưỡng khác nhau. Mùa đầu năm là mùa hành hương chung, mùa tháng Năm là lễ riêng của vị nữ thần được thờ trong hang đá.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Từ mùng 4 tới hết tháng Giêng | Hội xuân núi Bà | Mùa hành hương đầu năm, kéo dài suốt tháng Giêng, là dịp đông người nhất trong năm ở cả quần thể chùa trên núi. |
| Mùng 4 tới mùng 6 tháng 5 | Lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu | Lễ riêng của Điện Bà, gồm lễ tắm và thay áo cho cốt tượng, lễ trai đàn và các nghi thức dân gian. Được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018. |
| Rằm tháng Giêng | Thượng Nguyên | Lễ cầu an đầu năm theo lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông, trùng vào mùa hội xuân. |
| Rằm tháng Tư | Phật Đản | Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có lễ tắm Phật tại chánh điện. |
| Rằm tháng Bảy | Vu Lan | Lễ báo hiếu và cầu siêu, một trong ba ngày rằm lớn của năm. |
Có một lệ cũ của người đi núi mà nhiều gia đình vẫn kể lại: trên đường lên, không ai than mệt. Lệ ấy vốn có lý do thực tế, vì đường xưa dốc và vắng, cả đoàn phải giữ nhịp và giữ tinh thần cho nhau. Về sau nó thành một quy ước không thành văn của người hành hương, và tới nay vẫn được nhắc trong các nhóm đi lễ đầu năm.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Lưng chừng núi Bà Đen, xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
- Đường tới
- Chùa nằm lưng chừng núi Bà Đen, ở khoảng độ cao 350 mét, phía đông bắc khu vực trung tâm tỉnh lỵ Tây Ninh. Đường lên chùa đi từ chân núi, nơi có chùa Trung làm chặng dừng đầu tiên.
- Toạ độ
- 11.3739, 106.1725
Đây là nơi thờ tự và là chỗ chư ni đang tu học, không phải điểm tham quan. Lệ ở đây: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và vào Điện Bà, đi nhẹ nói khẽ trong hang đá vì lòng hang hẹp và vọng tiếng. Không chạm tay vào cốt tượng và hai cột đá chạm rồng. Việc dâng lễ và thắp nhang xin theo chỉ dẫn tại chỗ, vì trong hang kín, nhà chùa hạn chế khói.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bà Đen thờ ai
Chánh điện Linh Sơn Tiên Thạch thờ Phật theo hệ phái Bắc Tông. Kề bên chánh điện là Điện Bà, một hang đá tự nhiên đã xây bịt mặt tiền, bên trong thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, tức Bà Đen. Hai nơi thuộc hai lớp tín ngưỡng khác nhau nhưng nằm chung một khuôn viên và cùng do nhà chùa trông coi.
Chùa Bà Đen dựng năm nào
Người khai sơn là thiền sư Đạo Trung Thiện Hiếu. Các nguồn ghi mốc khác nhau: trang của ban quản lý khu di tích ghi năm 1745, nhiều tài liệu Phật học ghi năm 1763, và có tài liệu dung hòa rằng chùa có gốc từ 1745 rồi chính thức dựng năm 1763. Chúng tôi nêu cả hai mốc chứ không chọn một.
Trên núi Bà Đen có mấy ngôi chùa
Có cả một hệ thống xếp theo độ cao. Dưới chân là chùa Trung, tên chữ Linh Sơn Phước Trung, dựng năm 1876. Ở lưng chừng là cụm Linh Sơn Tiên Thạch cùng Điện Bà. Cao hơn nữa là chùa Hang, tên chữ Linh Sơn Long Châu, dựng khoảng năm 1830, và chùa Quan Âm ở vị trí cao nhất. Trên sườn núi còn có động Kim Quang.
Linh Sơn Thánh Mẫu có phải Bà Chúa Xứ không
Không. Linh Sơn Thánh Mẫu là nữ thần núi của vùng Đông Nam Bộ, thờ trong hang đá cạnh chùa ở Tây Ninh. Bà Chúa Xứ thờ ở núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang, là một vị khác, có miếu riêng và lễ vía riêng vào tháng Tư âm lịch. Cả hai cũng khác Mẫu Liễu Hạnh của hệ đạo Mẫu ngoài Bắc.
Lễ vía Bà tổ chức vào ngày nào
Vào mùng 4, mùng 5 và mùng 6 tháng Năm âm lịch, tại Điện Bà. Lễ gồm phần tắm và thay áo cho cốt tượng, phần trai đàn và các nghi thức dân gian. Ngày 4 tháng 9 năm 2018, lễ này được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Mùa đông người thứ hai trong năm là hội xuân, từ mùng 4 tới hết tháng Giêng.