VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bà Đen

Linh Sơn Tiên Thạch Tự, chùa Thượng, chùa Bà

Tổ đình cổ nhất đất Tây Ninh, nằm lưng chừng ngọn núi cao nhất Nam Bộ, nơi Phật giáo và tín ngưỡng thờ nữ thần bản địa cùng ở chung một khoảnh đá.

Khai sơn
1763
thiền sư Đạo Trung - Thiện Hiếu, có nguồn ghi 1745
Vị trí
khoảng 350 m
lưng chừng núi Bà Đen, đỉnh núi cao 986 mét
Lễ vía Bà
mùng 4 tới mùng 6 tháng 5
di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018

Leo hết dãy bậc đá dẫn lên lưng núi, quý vị dừng lại ở một khoảng sân hẹp kê sát vách đá. Bên phải là mái chùa lợp ngói, hai cột đá xanh chạm rồng đứng trước chánh điện. Bên trái, thấp hơn vài bậc, là một hang đá tự nhiên đã được xây chắn mặt tiền thành điện thờ, trong đó đặt cốt tượng một vị nữ thần mặt đen. Nhìn xuống là đồng bằng Tây Ninh trải phẳng tới tận chân trời, không một ngọn nào khác nhô lên.

Người ta quen gọi nơi này là chùa Bà hay chùa Thượng, nhưng tên chữ của nó là Linh Sơn Tiên Thạch Tự, nghĩa là chùa Đá Tiên trên Núi Thiêng. Hai cái tên ấy nói đúng hai lớp của chỗ này gồm một ngôi chùa Phật giáo có dòng truyền thừa rõ ràng, và một điện thờ nữ thần mà dân cả vùng Đông Nam Bộ tìm về. Hai lớp ấy nằm cạnh nhau, chỉ cách nhau vài chục bước chân.

Chùa Bà Đen
Chùa Bà Đen. Ảnh: Trung Quân, giấy phép CC BY 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

ILinh Sơn Thánh Mẫu và các dị bản

Vị được thờ trong hang đá cạnh chùa mang danh hiệu Linh Sơn Thánh Mẫu, dân quen gọi vắn tắt là Bà Đen. Danh hiệu ấy vừa gắn với ngọn núi, vừa gắn với một lớp truyền thuyết dày và nhiều nhánh. Có ít nhất ba dị bản lớn cùng lưu truyền, và không dị bản nào loại bỏ được dị bản kia.

Theo giáo nghĩa

Trong nhà Phật, một ngôi chùa dựng ở nơi đã có sẵn tín ngưỡng dân gian thường không xóa cái có sẵn ấy đi. Phật giáo Bắc tông có khái niệm hộ pháp, tức các vị thần nhận việc gìn giữ đạo tràng, và một nữ thần núi được cả vùng tin theo khi chùa dựng lên được đặt vào vai ấy chứ không bị gạt ra. Đó là lý do chánh điện thờ Phật còn hang đá bên cạnh thờ Bà, hai nơi riêng biệt mà cùng chung một khuôn viên. Chữ Thánh Mẫu trong danh hiệu cũng là chữ của lớp dân gian và sắc phong triều đình chứ không phải thuật ngữ kinh điển nhà Phật, việc giữ nguyên danh hiệu ấy cho thấy nhà chùa dung hợp lớp tín ngưỡng bản địa như nó vốn có.

Theo sử liệu

Dị bản được kể nhiều nhất là chuyện nàng Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm ở vùng Trảng Bàng, có hôn ước với chàng Lê Sĩ Triệt. Khi chàng đi tòng quân, nàng bị kẻ xấu vây bắt trên đường lên núi lễ Phật nên đã gieo mình xuống khe núi để giữ trọn tiết hạnh. Sau khi mất, nàng báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi dưới hình dáng người phụ nữ da đen để nhờ an táng xác, nên dân gian gọi là Bà Đen. Dị bản thứ hai kể về nàng Thạch Nương (cũng gọi là Đênh), con gái một viên quan thời Chân Lạp, bỏ nhà lên núi theo Hòa thượng Trừng Thanh tu học rồi mất tích, chỉ tìm thấy một bàn chân trên tảng đá. Dị bản thứ ba gắn tên núi với người phụ nữ Phù Nam tên Rê Đêng có công khai khẩn vùng đất dưới chân núi, chữ Đêng về sau đọc trại thành Đen. Về danh hiệu Linh Sơn Thánh Mẫu, các tư liệu ghi nhận việc chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long) sau khi lên ngôi đã sai đúc tượng đồng đen và ban sắc phong, tiếp đó vua Minh Mạng cử Tả quân Lê Văn Duyệt mang lễ vật lên sắc phong, và tới năm 1936 đời vua Bảo Đại lại có sắc phong ban lại cho chùa (hiện bản sao sắc phong Bảo Đại còn treo tại Điện Bà).

Một hướng giải thích khác, được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ coi trọng, đặt gốc của Bà Đen vào lớp cư dân bản địa. Người Khmer vùng này gọi núi là Phnom Yeay Khmau (núi Bà Đen) và thờ vị nữ thần Neang Khmau (nàng Đen), trong truyện kể của họ chính bàn chân của vị nữ thần ấy đã tạo nên ngọn núi. Theo hướng khảo cứu này, tên núi và tục thờ nữ thần đá đen có trước, lớp truyện Lý Thị Thiên Hương là lớp về sau của cư dân người Việt đắp thêm khi vào khai phá vùng đất mới, rồi lớp Phật giáo phủ lên trên cùng. Ba lớp ấy không thay thế nhau mà chồng xếp lên nhau, làm nên diện mạo tín ngưỡng đặc thù của núi Bà Đen.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba vị nữ thần nổi tiếng hay bị gộp làm một, cần phân biệt rõ. Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen là nữ thần núi của vùng Đông Nam Bộ, thờ trong hang đá cạnh một ngôi chùa Phật giáo. Bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang là một vị khác, thờ trong miếu riêng, có lễ vía riêng vào cuối tháng Tư âm lịch, và cốt tượng đá sa thạch thuộc lớp văn hóa Óc Eo cổ. Mẫu Liễu Hạnh lại thuộc hệ thống đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ngoài Bắc, gắn với nghi lễ hầu đồng, hát văn và hàng phẩm trật thần linh riêng biệt. Ba nơi cùng thờ nữ thần nhưng thuộc ba truyền thống tín ngưỡng và lễ thức khác nhau, không nên đánh đồng.

IIChốn tổ trên lưng núi

Chùa gắn với bước chân của những vị thiền sư đi theo lưu dân vào vùng đất mới thế kỷ mười tám. Vị Tổ khai sơn trực tiếp lên núi lập chùa là Thiền sư Đạo Trung - Thiện Hiếu (1743 tới 1800, dân gian quen gọi là Tổ Bưng Đỉa hay Tổ Đỉa), thuộc đời thứ 38 tông Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán. Trên tấm bia đá khắc tên 11 vị Tổ sư đặt tại nhà Tổ (do Ni trưởng Thích Nữ Diệu Nghĩa lập năm 2004), nhà chùa truy tôn từ Tổ khai phái là Thiền sư Thiệt Diệu - Liễu Quán ở vị trí đầu tiên, tiếp đến Tổ Tế Giác - Quảng Châu, Tổ Đại Quang - Chí Thiền (thầy bổn sư của ngài Đạo Trung), và đứng thứ tư trên bia là Tổ Đạo Trung - Thiện Hiếu, người đã dừng chân trụ tích tại núi Bà suốt 31 năm trước khi về khai sơn chùa Long Hưng (Bình Dương) năm 1794. Tên chùa lấy ý từ núi Linh Thứu (Linh Sơn) bên Ấn Độ, nơi Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa, ghép với chữ Tiên Thạch chỉ khối đá thiêng nơi chùa tựa vào.

  • 1763Thiền sư Đạo Trung khai sơn
    Thiền sư Đạo Trung - Thiện Hiếu thuộc dòng Lâm Tế Liễu Quán dựng am chùa trên lưng núi. Các nguồn ghi mốc này không giống nhau khi trang của Ban quản lý khu du lịch ghi năm 1745, nhiều tài liệu Phật học ghi năm 1763, lại có tài liệu dung hòa rằng chùa có gốc từ 1745 và chính thức dựng năm 1763.
  • 1857Trùng tu đời Tổ Phước Chí
    Tổ Thanh Thọ - Phước Chí khởi xướng đợt sửa chữa lớn đầu tiên còn ghi lại được và trụ trì tại núi Bà tới khoảng năm 1880.
  • 1876Dựng chùa Trung dưới chân núi
    Chùa Linh Sơn Phước Trung, dân quen gọi là chùa Trung, được Tổ Thanh Thọ - Phước Chí và đệ tử là Tổ Trừng Tùng - Chơn Thoại dựng ở chân núi, khuôn viên rộng khoảng 2.329 mét vuông, làm chặng dừng của khách hành hương trước khi lên núi.
  • 1910 tới 1937Đời Tổ Tâm Hòa mở rộng
    Tổ Tâm Hòa - Chánh Khâm tiếp tục mở mang chùa và truyền giới cho môn đồ. Hai cột đá xanh chạm rồng trước chánh điện, hiện vật quý nhất về mặt kiến trúc, thuộc lớp niên đại đầu thế kỷ hai mươi này.
  • 1956Tái thiết và truyền thừa chư Ni
    Hòa thượng Nguyên Chất - Giác Điền đứng ra dựng lại những nếp nhà hư hại, tiếp nối bởi Tổ Quảng Hằng - Huệ Phương. Từ năm 1975, Ni trưởng Thích Nữ Diệu Nghĩa đảm nhận việc trông coi, phục hồi và mở rộng hệ thống chùa trên núi.
  • 1989Xếp hạng di tích quốc gia
    Quần thể núi Bà Đen được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 100-VH/QĐ ngày 21 tháng 1 năm 1989, trong đó trọng tâm là cụm chùa Bà và Điện Bà.
  • 1996 tới 1997Đại trùng tu chánh điện
    Đợt trùng tu lớn hoàn thành tháng 12 năm 1997 đã định hình diện mạo chánh điện Linh Sơn Tiên Thạch như ngày nay, rộng hơn 210 mét vuông (ngang 14 mét, dài 15 mét).
  • 2018Lễ vía Bà thành di sản quốc gia
    Ngày 4 tháng 9 năm 2018, Lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen được ghi vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • 2021Tượng Phật Bà Tây Bổ Đà Sơn trên đỉnh núi
    Trên đỉnh núi cao 986 mét, công trình tượng Phật Bà Tây Bổ Đà Sơn bằng đồng cao 72 mét, đúc từ hơn 170 tấn đồng đỏ theo nguyên mẫu tượng Phật thời Lê, được hoàn thiện và trở thành điểm chiêm bái mới trên đỉnh núi thiêng.

IIIChánh điện, Điện Bà và các chùa trên núi

Điều khiến kiến trúc ở đây khác các tổ đình dưới đồng bằng là chùa không được dựng trên một mặt bằng phẳng. Nhà chùa phải kê từng nếp nhà vào các bậc đá tự nhiên, chỗ nào đá cho phép thì đặt nền, chỗ nào tảng đá lấn ra thì giữ nguyên. Vì vậy tổng thể không có trục dọc thẳng tắp như chùa Nam Bộ thường thấy, mà là một chuỗi công trình bám theo thế sườn núi.

Chánh điện Linh Sơn Tiên Thạch

Rộng hơn 210 mét vuông (ngang 14 mét, dài 15 mét), thờ Phật Thích Ca, Bồ Tát Quán Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền và Thập Bát La Hán. Trước tiền đường là hai cột đá xanh cao 4,5 mét, đường kính 0,45 mét, chạm rồng uốn lượn có từ thời Tổ Tâm Hòa.

Điện Bà (Linh Sơn Tiên Thạch Động)

Hang đá tự nhiên kề bên chùa, mái đá cao khoảng 2,5 mét, cửa hang rộng 6 mét, lòng điện thờ dài 8 mét. Mặt tiền xây chắn thành điện thờ trang nghiêm, bên trong đặt cốt tượng Linh Sơn Thánh Mẫu mặt đen cùng bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền và Thập nhị tôn vương.

Chùa Hang (Linh Sơn Long Châu)

Nằm cao hơn chùa Bà khoảng hơn một trăm bậc đá, dựng khoảng năm 1830 từ một hang đá tự nhiên trên lưng núi, thuộc hệ phái Bắc tông và gắn với dòng truyền thừa từ Tổ Thanh Thọ - Phước Chí.

Chùa Trung (Linh Sơn Phước Trung)

Dựng năm 1876 ở chân núi trên khuôn viên khoảng 2.329 mét vuông, thờ Phật và có miếu thờ cô Lý Thị Thiên Hương dưới bóng cây cổ thụ. Đây là chặng dừng đầu tiên của khách hành hương trước khi lên các chùa trên cao.

Chùa Quan Âm và động Ba Cô

Nằm ở độ cao hơn một trăm mét phía trên chùa Bà, dựa vào vách đá tự nhiên và các hang đá thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, Tiêu Diện Đại Sĩ cùng các miếu Sơn Thần, Ngũ Hành.

Khu tháp Tổ và đỉnh Tây Bổ Đà Sơn

Trong khuôn viên chùa có ba ngôi tháp mộ cổ của chư vị Tổ sư cùng nhà Tổ lưu giữ bia truyền thừa 11 đời Tổ. Lên tới đỉnh núi cao 986 mét là quần thể tâm linh mới với tôn tượng Phật Bà Tây Bổ Đà Sơn bằng đồng đỏ cao 72 mét đứng trên đài sen đồng.

Đọc cả quần thể này cùng lúc thì thấy rõ núi Bà Đen không chỉ có một ngôi chùa mà có một hệ thống chùa xếp theo độ cao. Từ chân núi lên là chùa Trung, rồi tới cụm tổ đình Linh Sơn Tiên Thạch, Điện Bà và chùa Hòa Đồng ở lưng chừng núi (độ cao khoảng 350 mét), cao hơn nữa là chùa Hang và chùa Quan Âm, và trên đỉnh 986 mét là tôn tượng Phật Bà Tây Bổ Đà Sơn. Người xưa đi bộ lên núi, mỗi chặng dừng lại lễ một chùa, biến việc leo núi thành một cuộc hành hương có nhịp nghỉ và thứ lớp rõ ràng.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong sử liệu của chùa. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là cái thế độc sơn. Núi Bà Đen cao 986 mét, đứng sừng sững giữa một vùng đồng bằng phẳng, chung quanh không có dãy núi lớn nào nối vào. Trong phép xem đất, một ngọn núi đứng lẻ giữa đồng bằng thì gọi là độc sơn hoặc bình dương khởi đột, tức đất bằng đột ngột nhô lên. Sách vở coi đây vừa là thế mạnh vừa là thế cô, mạnh vì cả vùng rộng lớn chỉ có một đỉnh cao thu hút và tụ khí, còn cô vì không có các ngọn núi tả hữu chầu vào che chắn. Người xưa dựng chùa trên chính ngọn núi ấy chứ không dựng dưới đồng trống, theo lối đọc này là chọn đúng điểm kết khí của cả vùng.

Thứ hai là vị trí lưng chừng núi. Tổ đình Linh Sơn Tiên Thạch không đặt trên chóp đỉnh mà đặt ở độ cao khoảng 350 mét, tức chừng một phần ba chiều cao núi. Phép xem đất gọi chỗ kết huyệt trên sườn núi là nơi vừa có tựa vừa có trường, lưng còn khối núi lớn phía trên làm hậu chẩm đỡ vào để tránh gió bạt bốn bề, còn mặt trước đã mở ra được tầm nhìn bao quát xuống chân núi. Chỗ lưng chừng là vị trí dung hòa giữa thế tàng phong (giữ khí) và thế đắc thủy, đắc minh đường.

Thứ ba là vách đá làm hậu chẩm. Chánh điện kê sát vách đá, còn Điện Bà thì nằm hẳn trong lòng hang đá tự nhiên. Đá lớn trên núi thuộc chất Thổ đới Kim, mang tính bền vững và tĩnh tại, một nơi thờ tự dựa lưng vào vách đá nguyên khối được coi là có điểm tựa vững chãi. Việc thờ tự ở đây nương vào hang đá tự nhiên sẵn có thay vì san phẳng sườn núi, xét theo lối đọc cổ truyền, là phép thuận theo tự nhiên để giữ nguyên mạch đá.

Cuối cùng là hướng nhìn và minh đường. Mặt chùa mở ra phía đồng bằng Tây Ninh, tầm mắt trải rộng không bị che khuất tới tận chân trời. Sách xưa gọi khoảng không gian mênh mông trước mặt như vậy là minh đường quảng đại, nơi vạn tượng quy chầu và khí trường lắng đọng trước khi vào điện thờ. Ở phần lớn các thế đất, người ta phải đi tìm minh đường, còn ở đây minh đường tự nhiên có sẵn vì cả một vùng đồng bằng nằm trọn dưới chân núi. Thư viện ghi những điều này như một cách đọc hình thế, không phải như ý đồ đã được vị Tổ khai sơn chép thành văn tự.

VHội xuân và lễ vía Bà

Trong năm, núi Bà Đen có hai mùa đông người rõ rệt, và hai mùa ấy thuộc về hai lớp tín ngưỡng đan xen nhau. Mùa đầu năm là mùa hành hương lễ Phật và du xuân chung, còn mùa tháng Năm âm lịch là lễ hội riêng của vị nữ thần được thờ trong hang đá.

Hai lễ đầu là lễ hội đặc trưng của núi Bà Đen, ba lễ sau thuộc lịch chung của Phật giáo Bắc tông.
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Từ mùng 4 tới hết tháng GiêngHội xuân núi BàMùa hành hương đầu năm kéo dài suốt tháng Giêng (đông nhất vào dịp rằm tháng Giêng), thu hút hàng triệu lượt khách về chiêm bái quần thể chùa trên núi.
Mùng 4 tới mùng 6 tháng 5Lễ vía Bà Linh Sơn Thánh MẫuLễ hội trọng tâm của Điện Bà, gồm lễ tắm Bà và thay mũ áo lúc nửa đêm mùng 4 rạng mùng 5, lễ trình thập cúng, trai đàn chẩn tế và hát bóng rỗi. Được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018.
Rằm tháng GiêngThượng NguyênLễ cầu an đầu năm theo lịch chung của Phật giáo Bắc tông, hòa vào cao điểm của mùa hội xuân núi Bà.
Rằm tháng TưPhật ĐảnKỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, có nghi thức tắm Phật tại chánh điện và trên đỉnh núi.
Rằm tháng BảyVu LanLễ báo hiếu cha mẹ và cầu siêu tiên tổ, một trong ba ngày rằm lớn của năm.

Có một lệ cũ của người đi núi mà nhiều gia đình Nam Bộ vẫn truyền lại là trên đường leo bậc đá lên chùa, không ai than mệt. Lệ ấy vốn có lý do thực tế, vì đường núi xưa dốc và vắng, cả đoàn phải giữ nhịp bước và giữ tinh thần cho nhau, đồng thời thể hiện lòng thành kính khi đi hành hương. Về sau nó thành một quy ước không thành văn của người đi lễ núi Bà mỗi dịp đầu xuân.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Lưng chừng núi Bà Đen, khu phố Ninh Phú, phường Bình Minh (xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh cũ), tỉnh Tây Ninh
Đường tới
Chùa nằm lưng chừng núi Bà Đen ở độ cao khoảng 350 mét, thuộc khu phố Ninh Phú, phường Bình Minh (xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh cũ), tỉnh Tây Ninh. Đường lên chùa đi từ khu vực chân núi bằng đường bậc đá qua chùa Trung hoặc bằng tuyến cáp treo lên thẳng cụm chùa Bà và đỉnh núi.
Toạ độ
11.3752, 106.1791
Khi tới nơi

Đây là chốn tổ đình thờ tự và là nơi chư Ni đang tu học, không phải điểm vãng cảnh thông thường. Lệ ở đây quy định khách hành hương cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ nón khi vào chánh điện và vào Điện Bà, đi nhẹ nói khẽ trong hang đá vì lòng hang hẹp và dễ vọng tiếng. Quý vị không chạm tay vào cốt tượng Bà và hai cột đá xanh chạm rồng cổ trước chánh điện. Việc dâng lễ và thắp nhang xin thực hiện đúng nơi quy định vì trong lòng hang kín nhà chùa hạn chế khói nhang.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bà Đen

Contribute photos, information or video for Ba Den Mountain Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Bà Đen thờ ai

Chánh điện Linh Sơn Tiên Thạch thờ Phật Thích Ca và chư vị Bồ Tát theo hệ phái Bắc tông. Kề bên chánh điện là Điện Bà (Linh Sơn Tiên Thạch Động), một hang đá tự nhiên thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, tức Bà Đen. Hai nơi thuộc hai lớp tín ngưỡng khác nhau nhưng nằm chung một khuôn viên và cùng do nhà chùa trông coi.

Chùa Bà Đen dựng năm nào và ai khai sơn

Vị Tổ khai sơn trực tiếp lên núi lập chùa là Thiền sư Đạo Trung - Thiện Hiếu (tục gọi Tổ Bưng Đỉa), thuộc dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán (trên bia Tổ tại chùa truy tôn Tổ khai phái Thiệt Diệu - Liễu Quán ở vị trí đầu tiên). Các nguồn ghi mốc khởi dựng khác nhau, trang của Ban quản lý khu du lịch ghi năm 1745, nhiều tài liệu Phật học ghi năm 1763, và có tài liệu dung hòa rằng chùa có gốc từ 1745 rồi chính thức lập năm 1763. Thư viện nêu cả hai mốc để quý vị tiện đối chiếu.

Trên núi Bà Đen có những ngôi chùa và công trình tâm linh nào

Núi có cả một hệ thống chùa xếp theo độ cao. Dưới chân núi là chùa Trung (Linh Sơn Phước Trung, dựng năm 1876). Ở lưng chừng núi độ cao khoảng 350 mét là cụm tổ đình Linh Sơn Tiên Thạch, Điện Bà và chùa Hòa Đồng. Cao hơn nữa là chùa Hang (Linh Sơn Long Châu, dựng khoảng năm 1830) và chùa Quan Âm cùng động Ba Cô. Trên đỉnh núi cao 986 mét có tôn tượng Phật Bà Tây Bổ Đà Sơn bằng đồng đỏ cao 72 mét hoàn thiện năm 2021.

Linh Sơn Thánh Mẫu có phải Bà Chúa Xứ không

Không. Linh Sơn Thánh Mẫu là nữ thần núi của vùng Đông Nam Bộ, thờ trong hang đá cạnh chùa Linh Sơn Tiên Thạch ở Tây Ninh. Bà Chúa Xứ thờ ở núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang là một vị khác, có miếu riêng và lễ vía riêng vào cuối tháng Tư âm lịch. Cả hai cũng khác Mẫu Liễu Hạnh thuộc hệ thống đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ngoài Bắc.

Lễ vía Bà tổ chức vào ngày nào

Lễ vía Bà diễn ra vào các ngày mùng 4, mùng 5 và mùng 6 tháng Năm âm lịch hằng năm tại Điện Bà, gồm lễ tắm và thay áo mão cho cốt tượng Bà, lễ trình thập cúng, trai đàn chẩn tế và các nghi thức dân gian. Ngày 4 tháng 9 năm 2018, lễ hội này được ghi vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Mùa đông khách thứ hai trong năm là Hội xuân núi Bà kéo dài suốt tháng Giêng âm lịch.

›Đọc Tiếp