Đứng ở cổng chùa Đức La quay mặt ra, quý vị nhìn thẳng vào chỗ sông Lục Nam đổ vào sông Thương, một ngã ba nước rộng, xa hơn nữa là hướng Lục Đầu Giang. Quay lại thì thấy một dải luỹ tre dày ôm lấy khu chùa, và bên trong là bốn khối nhà nối nhau trên một trục dài, cuối trục là vườn tháp đá xám. Ở gian nhà tổ, sau các ban thờ, là những giá gỗ xếp kín ván khắc.
Những tấm ván ấy là lý do nơi này khác các ngôi chùa cổ khác. Chùa Vĩnh Nghiêm không phải chốn tu ẩn trong núi mà là nơi thiền phái Trúc Lâm đặt bộ máy của mình: nơi Tam Tổ trụ trì, nơi mở trường dạy tăng đồ cho cả nước, và nơi khắc ván in kinh để phát đi các chùa. Yên Tử là chỗ dòng thiền ấy ra đời; Đức La là chỗ nó được tổ chức thành một hệ thống.

壹Chốn Tổ Của Thiền Phái Trúc Lâm
Trong nhà chùa, chữ chốn tổ không đồng nghĩa với chữ chùa cổ. Chốn tổ là nơi một dòng phái đặt gốc: nơi các vị tổ trụ trì, nơi truyền giới cho tăng, nơi giữ sổ sách và kinh bản của cả dòng. Vĩnh Nghiêm giữ đúng vai ấy đối với Trúc Lâm.
Ba vị hợp thành Trúc Lâm tam tổ là Trần Nhân Tông, sống từ 1258 tới 1308; Pháp Loa Đồng Kiên Cương, sống từ 1284 tới 1330; và Huyền Quang Lý Đạo Tái, sống từ 1254 tới 1334. Cả ba đều từng trụ trì tại Vĩnh Nghiêm. Chùa vốn có từ thời Lý, được Trần Nhân Tông cho mở mang vào cuối thế kỷ 13 và đặt tên Vĩnh Nghiêm. Từ đó nơi này trở thành trung tâm Phật giáo thời Trần, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước và nơi lưu giữ sổ bộ tăng ni của dòng phái.
Việc đặt một trường dạy tăng ở đây có ý nghĩa riêng trong giáo nghĩa Trúc Lâm. Dòng thiền này chủ trương đạo không nằm ngoài đời, và muốn giữ được chủ trương ấy trong thực tế thì cần người giảng có học và có kỷ luật, chứ không thể trông vào cảm hứng của từng người. Trường Vĩnh Nghiêm là chỗ để việc ấy thành nền nếp: tăng được thụ giới, được học kinh, được ghi vào sổ, rồi mới đi trụ trì các chùa. Câu ca cũ trong vùng, rằng ai qua Yên Tử Quỳnh Lâm mà chưa tới Vĩnh Nghiêm thì chưa thành, nói đúng thứ tự ấy trong con mắt người đương thời.
Chỗ nhầm phổ biến nhất: chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn không phải nơi này. Ngôi chùa Vĩnh Nghiêm tại Thành phố Hồ Chí Minh khởi công năm 1964, khánh thành năm 1971, do hai vị hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm đứng ra dựng, kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Chùa ấy lấy tên Vĩnh Nghiêm chính là để nhắc về chốn tổ Đức La ngoài Bắc, nhưng là một công trình hiện đại hoàn toàn khác, với ngọn tháp bảy tầng cao khoảng bốn mươi mét. Hai nơi cùng tên, khác đất, khác niên đại, khác kiến trúc.
貳Bảy Trăm Năm Của Một Chốn Tổ
Lịch sử ngôi chùa gồm ba lớp: lớp nền thời Lý, lớp tổ chức thời Trần, và lớp khắc ván in kinh kéo dài từ thời Lê Trung Hưng tới đầu thế kỷ 20. Lớp thứ ba là lớp để lại nhiều hiện vật nhất.
- Thế kỷ 11Ngôi chùa nhỏ thời LýChùa có gốc từ thời Lý, quy mô nhỏ. Đây là nền móng mà lớp sau dựng lên.
- Cuối thế kỷ 13Trần Nhân Tông trùng hưngPhật hoàng cho mở mang trên nền chùa cũ và đặt tên Vĩnh Nghiêm, biến nơi đây thành trung tâm Phật giáo của thời Trần.
- Đầu thế kỷ 14Pháp Loa tổ chức tăng đoànĐệ nhị tổ Pháp Loa trụ trì, mở trường thuyết pháp, lập sổ bộ tăng ni và đưa việc đào tạo tăng đồ vào nền nếp cho cả dòng phái.
- Giữa thế kỷ 14Huyền Quang nối phápĐệ tam tổ Huyền Quang tiếp nối, giữ vai trò chốn tổ của Vĩnh Nghiêm trong hệ thống chùa Trúc Lâm.
- Thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20Khắc và tàng trữ mộc bảnKho ván khắc được san khắc và bổ sung dần qua nhiều đời, gồm kinh, luật, sách thuốc và trước tác của các vị tổ, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
- 2012Mộc bản vào danh mục Ký ức thế giớiNgày 16 tháng 5 năm 2012, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được ghi vào danh mục Ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương.
- 2015Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng theo Quyết định số 2367 ngày 23 tháng 12 năm 2015.
- 2025Di sản văn hoá thế giớiNgày 12 tháng 7 năm 2025, quần thể Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn và Kiếp Bạc được UNESCO ghi vào danh mục Di sản Văn hoá thế giới; chùa Vĩnh Nghiêm là một điểm trong quần thể ấy.
參Bố Cục Và Kho Mộc Bản
Khu chùa rộng chừng một hecta, các khối nhà dàn trên một trục chạy về hướng đông nam, chung quanh có luỹ tre dày bao lấy. Từ ngoài vào là tam quan, rồi khu Tam bảo gồm tiền đường, thiêu hương và thượng điện, rồi nhà tổ đệ nhất, gác chuông, nhà tổ đệ nhị, sau cùng là vườn tháp.
Cổng ba lối mở ra phía ngã ba sông. Đây là điểm đầu của trục dài xuyên suốt cả khu chùa.
Tiền đường, thiêu hương và thượng điện nối nhau, là khu thờ Phật chính. Hệ tượng và đồ thờ mang phong cách của các thời Lê và Nguyễn.
Nhà thờ Trúc Lâm tam tổ, đặt tượng Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Đây là chỗ nói rõ nhất vì sao nơi này được gọi là chốn tổ.
Toà gác hai tầng dựng giữa trục, ngăn khu thờ tổ đệ nhất với khu phía sau, treo chuông đồng của chùa.
Nhà thờ các vị tổ kế tiếp của chùa qua các đời. Kho mộc bản được bảo quản trong khu nhà tổ.
Nằm ở cuối trục, gồm chín ngọn tháp đá và gạch, nơi đặt tro cốt các đời sư trụ trì. Đây là điểm kết của toàn bộ mặt bằng.
Về kho mộc bản, số liệu các nguồn không thống nhất. Hồ sơ của cơ quan quản lý di sản ghi 3.050 mộc bản. Một số tài liệu địa phương ghi 34 đầu sách với gần 3.000 bản khắc. Nhiều bản tin chỉ ghi chung là hơn 3.000 ván. Niên đại cũng vênh: có nguồn ghi ván khắc trải từ thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20, có nguồn ghi nội dung kinh sách có gốc từ thế kỷ 15 trở lại. Chúng tôi ghi cả các cách ghi ấy thay vì chọn bừa một con số. Nội dung ván khắc gồm kinh, luật nhà Phật, trước tác của các vị tổ Trúc Lâm và cả sách thuốc, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
Điều đáng nói ở kho ván này không nằm ở số lượng mà ở chức năng. Ván khắc là khuôn in; có ván tức là chùa tự in được kinh sách và phát đi các nơi, không phải chép tay từng bản. Một dòng thiền muốn giữ được nội dung giảng dạy thống nhất trên cả nước thì cần đúng thứ ấy. Việc kho ván nằm tại Vĩnh Nghiêm chứ không nằm ở nơi khác cho thấy nơi này giữ phần bản gốc của Trúc Lâm, còn các chùa khác nhận bản in.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa đặt ở chỗ sông Lục Nam đổ vào sông Thương, tức ngay một ngã ba nước, và xa hơn về phía đông là vùng Lục Đầu Giang, nơi sáu dòng gặp nhau. Trong phép xem đất, ngã ba sông là thế hợp thuỷ, được coi là chỗ khí tụ mạnh nhất mà vùng đồng bằng có thể có, vì nước từ nhiều ngả dồn về một điểm rồi mới chảy tiếp. Đặt một chốn tổ ở đúng điểm hợp thuỷ, lại là điểm hợp thuỷ ăn thông ra cả một hệ sông lớn, là chọn chỗ có thể toả đi khắp nơi bằng đường nước. Ở thời chưa có đường bộ tốt, đó vừa là kiến giải phong thuỷ vừa là tính toán thực tế.
Về chỗ dựa, phía sau và bên chùa có núi Cô Tiên cùng các gò thấp, còn xa hơn về phía đông bắc là cánh cung Đông Triều và Yên Tử. Đọc theo phép cũ thì Yên Tử đóng vai tổ sơn ở xa, mạch núi buông dần xuống đồng bằng, và Vĩnh Nghiêm nằm ở chỗ mạch ấy đã hạ hẳn xuống mà gặp nước. Quan hệ giữa hai nơi trên mặt đất trùng với quan hệ giữa chúng trong nhà chùa: Yên Tử là chỗ dòng thiền phát khởi, Vĩnh Nghiêm là chỗ nó dừng lại và thành hình.
Về hướng, trục chùa chạy về phía đông nam, mặt ngoảnh ra ngã ba sông, lưng tựa vào phía có gò và núi. Đây là thế tựa sơn hướng thuỷ ở dạng đồng bằng: hậu chẩm là gò thấp chứ không phải núi lớn, minh đường là mặt nước ngã ba rộng và tĩnh. Hướng đông nam trong lối cũ được coi là hướng đón gió mát mùa hè, tránh gió lạnh phương bắc, và là hướng mà nhiều chùa Bắc Bộ chọn khi không thể lấy chính nam.
Còn một lớp theo ngũ hành. Nước bao trước mặt là Thuỷ; luỹ tre dày bao quanh khu chùa là Mộc; Thuỷ sinh Mộc, và vành tre ấy vừa chắn gió vừa giữ cho khu đất kín. Trong lòng khu kín ấy lại cất một thứ sợ ẩm bậc nhất là ván khắc gỗ. Đọc theo lối cũ thì cách bố trí này là tàng phong tụ khí: kín gió, kín nước tràn, đủ khô để giữ được vật dễ hỏng. Việc kho ván gỗ tồn tại qua hàng trăm năm ở một vùng nhiều mưa ẩm cho thấy chỗ đặt nó không phải chọn ngẫu nhiên.
伍Hội Chùa Và Lệ Trong Năm
Hội chính của chùa mở vào tháng hai âm lịch, gọi là hội chùa La theo tên làng. Ngoài ngày ấy, chùa còn giữ các ngày lễ chung của nhà Phật và các ngày huý kỵ của Trúc Lâm tam tổ.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 14 tháng Hai | Hội chùa Vĩnh Nghiêm | Hội chính trong năm, còn gọi là hội chùa La. Có rước từ các làng trong vùng về chùa, tế lễ, dâng hương và các trò dân gian. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật đản | Theo lịch chung của Phật giáo, tổ chức tại khu Tam bảo. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Lễ báo hiếu theo lịch chung của Phật giáo. |
| Mùng 1 tháng Mười một | Giỗ Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông | Ngày huý kỵ Phật hoàng, cử hành tại nhà tổ đệ nhất, nơi đặt tượng Tam Tổ. |
| Mùng 3 tháng Ba | Giỗ Đệ nhị tổ Pháp Loa | Ngày huý kỵ Đệ nhị tổ, vị đã mở trường thuyết pháp tại chùa. |
| Ngày 23 tháng Giêng | Giỗ Đệ tam tổ Huyền Quang | Ngày huý kỵ Đệ tam tổ, khép vòng ba ngày giỗ tổ trong năm của dòng Trúc Lâm. |
Hội chùa La có một điểm khác hội chùa thường: phần được coi trọng nhất không phải phần cầu tài cầu lộc mà phần lễ tổ. Người trong vùng vẫn giữ lệ về chùa vào ngày mười bốn tháng hai như về nhà tổ của mình, và các đoàn từ những chùa thuộc dòng Trúc Lâm ở nơi khác cũng về theo. Cách hành lễ ấy giữ đúng vai trò chốn tổ mà chùa đã mang từ thời Trần.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Trí Yên, huyện Yên Dũng cũ, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Chùa ở làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng cũ, tỉnh Bắc Ninh, nằm bên ngã ba sông Lục Nam và sông Thương. Có thể đi cùng tuyến với Côn Sơn, Kiếp Bạc và Yên Tử trong cùng quần thể di sản.
- Toạ độ
- 21.2419, 106.3111
Vài lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà trong, giữ im lặng ở nhà tổ đệ nhất và khu vườn tháp. Kho mộc bản là hiện vật gỗ đã hàng trăm năm, quý vị không chạm tay vào ván và chỉ vào khu kho khi có người của chùa hướng dẫn. Vườn tháp là nơi đặt tro cốt các đời sư, xin đi theo lối chứ không trèo lên bệ tháp. Ngày hội tháng hai có rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang và chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn có phải một không
Không. Chùa Vĩnh Nghiêm tại Thành phố Hồ Chí Minh khởi công năm 1964 và khánh thành năm 1971, do hai vị hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm dựng, lấy tên theo chốn tổ Đức La ngoài Bắc. Đó là một công trình hiện đại, khác đất, khác niên đại và khác kiến trúc với ngôi chùa trong bài này.
Vì sao gọi chùa Vĩnh Nghiêm là chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm
Vì cả ba vị Trúc Lâm tam tổ là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang đều từng trụ trì tại đây. Chùa là nơi mở trường thuyết pháp, đào tạo tăng đồ cho cả nước, lưu giữ sổ bộ tăng ni và giữ kho ván khắc để in kinh sách phát đi các chùa trong dòng phái.
Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có bao nhiêu bản và được ghi danh khi nào
Số liệu các nguồn vênh nhau: hồ sơ cơ quan quản lý di sản ghi 3.050 mộc bản, tài liệu địa phương ghi 34 đầu sách với gần 3.000 bản khắc, nhiều bản tin ghi chung là hơn 3.000 ván. Kho mộc bản được ghi vào danh mục Ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương ngày 16 tháng 5 năm 2012.
Mộc bản chép những gì
Ván khắc gồm kinh và luật nhà Phật, trước tác của các vị tổ thiền phái Trúc Lâm, các văn bản nghi lễ và cả sách thuốc, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về niên đại, nguồn ghi ván khắc trải từ thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20, nguồn khác ghi nội dung có gốc từ thế kỷ 15 trở lại.
Chùa nay thuộc tỉnh nào và có nằm trong di sản thế giới không
Chùa ở làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng cũ; sau khi tỉnh Bắc Giang nhập vào tỉnh Bắc Ninh thì chùa thuộc tỉnh Bắc Ninh. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2015 và là một điểm trong quần thể Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn và Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản Văn hoá thế giới ngày 12 tháng 7 năm 2025.