Đi hết con dốc nhỏ ở làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, quý vị sẽ thấy đền tựa lưng vào sườn núi Kho, mặt quay xuống đồng và xuống phía sông Cầu. Đền không lớn, các lớp nhà bám theo độ dốc mà lên dần, nên đứng ở sân dưới nhìn lên thì mái này gối lên mái kia. Chỗ đông nhất không phải chính điện mà là bàn viết sớ ngoài sân, nơi người ta ngồi ghi những con số mà chỉ họ với Bà hiểu.
Đền thờ một vị được dân quen gọi là Bà Chúa Kho, tức bà chúa coi giữ kho. Chữ kho ấy vừa là tên vị thần, vừa là tên ngọn núi, vừa là chức việc mà theo thần tích bà từng đảm nhiệm. Ba lớp nghĩa chồng lên nhau trong một chữ, và chính chỗ chồng lấn đó khiến câu hỏi bà là ai trở nên khó trả lời hơn nhiều người tưởng.

壹Vị Thần Được Thờ
Theo bản thần tích được lưu hành rộng nhất, Bà xuất thân từ một gia đình nghèo trong vùng, có tài trông coi việc cấy hái và tích trữ, về sau được giao coi giữ kho lương của nhà nước đặt ở khu vực núi Kho. Trong cuộc chống quân Tống bên phòng tuyến sông Như Nguyệt, kho lương ở Cổ Mễ giữ vai trò hậu cần trọng yếu.
Vẫn theo bản kể ấy, Bà mất trong khi đang phát lương cho dân, và nhà vua về sau truy phong, dân làng lập đền thờ ngay trên khu đất kho cũ. Danh xưng Bà Chúa Kho vì thế không phải tên riêng mà là tên gọi theo chức việc, giống như cách người xưa gọi một vị thần bằng phần việc vị ấy trông nom.
Trong nếp thờ Mẫu của người Việt, thần linh nữ được xếp theo phủ và theo phần việc: có vị coi miền trời, có vị coi miền rừng núi, có vị coi miền sông nước, lại có những vị được thờ vì một công trạng cụ thể ở một vùng đất cụ thể. Bà Chúa Kho thuộc lớp sau cùng, tức lớp thần có gốc là người, được đưa vào hệ thống thờ Mẫu qua công trạng chứ không qua một vị trí sẵn có trong phủ nào.
Cách bài trí trong đền phản ánh đúng điều đó. Ngoài cung thờ chính của Bà, đền còn có ban Công Đồng, ban Tam Tòa và cung Sơn Trang, tức những ban thuộc hệ thống thờ Mẫu chung. Người tới lễ thường đi lần lượt qua các ban ấy trước khi tới cung Bà, theo đúng thứ tự mà nếp thờ Mẫu vẫn giữ.
Ở đây cần nói thẳng một điều mà nhiều bài viết bỏ qua: sử liệu về thân thế Bà rất mỏng. Không có bộ chính sử nào chép một nhân vật mang danh Bà Chúa Kho với đầy đủ tên họ và hành trạng. Những gì chúng ta có là thần tích của đền, truyền thuyết địa phương, và các bản khảo cứu dựa trên hai nguồn ấy.
Các bản kể cũng khác nhau. Một luồng cho rằng Bà là một người phụ nữ có thật quê ở vùng Quả Cảm, giỏi tổ chức việc nông và việc kho, sống vào thời Lý. Một luồng khác cho rằng Bà không phải một cá nhân cụ thể mà là hình bóng của chính chức việc coi kho đã được thần hóa, tức người ta thờ công việc chứ không thờ một con người. Lại có nơi trong vùng Kinh Bắc gắn danh xưng ấy với những nhân vật khác hẳn. Thư viện ghi cả mấy luồng và không chọn bừa một luồng làm kết luận, vì chưa có tư liệu đủ mạnh để loại trừ các luồng còn lại.
貳Ngôi Đền Trên Đất Kho Cũ
Lịch sử ngôi đền phải đọc thành hai lớp tách bạch: lớp thần tích, tức chuyện được kể để giải thích vì sao có đền, và lớp lịch sử ngôi nhà, tức những gì kiểm chứng được về công trình và về việc thờ tự. Lớp thứ nhất lùi về thời Lý; lớp thứ hai thì phần lớn chỉ soi rõ được từ thế kỷ 20 trở lại.
- Thời LýKho lương đặt ở vùng núi KhoTheo thần tích và truyền thuyết địa phương, khu vực Cổ Mễ dưới chân núi Kho là nơi đặt kho lương của nhà nước. Tên làng Cổ Mễ, nghĩa là gạo cũ, được nhắc tới như một dấu vết của chức năng ấy.
- 1077Bà mất khi phát lương cho dânBản kể phổ biến chép Bà mất ngày mười hai tháng Giêng năm 1077, trong khoảng thời gian gắn với cuộc chống quân Tống bên phòng tuyến sông Như Nguyệt.
- Sau năm 1077Dân lập đền thờNhà vua truy phong, dân làng Cổ Mễ lập đền thờ ngay trên khu đất kho cũ ở sườn núi. Đây là lớp chuyện thuộc thần tích, không phải chép từ chính sử.
- Đầu thế kỷ 20Đền suýt bị phá bỏMột nhà máy giấy được dựng gần đền và chủ nhà máy có ý định phá đền, dân làng phản đối quyết liệt. Theo bản kể được báo chí thuật lại, cuối cùng đền được giữ nguyên và còn được làm thêm lối đi cho người tới lễ.
- 1989Xếp hạng di tích quốc giaĐền được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đây là mốc pháp lý rõ ràng nhất trong lịch sử ngôi đền.
- Cuối thế kỷ 20Tục vay lộc lan rộngTừ khoảng những thập niên cuối thế kỷ 20, đền trở thành điểm đến quen của giới buôn bán khắp miền Bắc, kéo theo tục vay lộc đầu năm và trả lễ cuối năm mà nay ai cũng biết.
- 2025Địa giới hành chính thay đổiSau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 và việc bỏ cấp huyện, đền thuộc phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tên gọi đền Cổ Mễ theo tên làng vẫn được dùng song song.
Một điểm đáng ghi nhận về mặt tư liệu: phần lớn những gì được kể về ngôi đền trước thế kỷ 20 đều đến từ lời truyền trong làng chứ không từ văn bản đương thời. Ngay cả chuyện nhà máy giấy đầu thế kỷ 20 cũng được thuật lại theo lối giai thoại, với những chi tiết mang màu linh ứng chứ không phải màu biên bản. Chúng tôi ghi lại vì nó là một phần ký ức của cộng đồng giữ đền, đồng thời nói rõ nó thuộc lớp truyền khẩu.
Từ mốc 1989 trở đi thì tư liệu chắc chắn hơn. Đền nằm trong danh mục di tích quốc gia, có hồ sơ và có ban quản lý; các đợt tu bổ, mở rộng sân và lối đi trong những thập niên gần đây đều được ghi nhận trong tư liệu của địa phương.
參Kiến Trúc Bám Sườn Núi
Đền không dàn trên mặt bằng phẳng như phần lớn đền miếu đồng bằng, mà bám theo độ dốc của sườn núi Kho. Các lớp công trình vì thế nối nhau bằng bậc, càng vào trong càng cao, và người đi lễ thực chất đang leo dần lên. Đây là điểm khiến bố cục ở đây khác hẳn một ngôi đền đồng bằng cùng quy mô.
Lớp ngoài cùng, nơi tập trung đông người nhất vào mùa lễ. Đây cũng là chỗ có các bàn viết sớ và sắp lễ, một sinh hoạt đã thành nếp riêng của đền này.
Lớp nhà đầu tiên sau sân, đặt hương án và là nơi diễn ra phần lớn việc dâng hương thường ngày. Hệ hoành phi câu đối treo ở đây ghi công đức của Bà và tên người cúng dựng qua các đợt tu bổ.
Lớp trong cùng và cao nhất, đặt tượng Bà Chúa Kho. Không gian hẹp và tối hơn các lớp ngoài, khách vào lễ thường phải đi theo hàng vì lối chật.
Các ban thuộc hệ thống thờ Mẫu chung, đặt ở những vị trí riêng trong khuôn viên. Người đi lễ theo lệ thường qua các ban này trước khi lên cung Bà.
Ban thờ gắn với miền rừng núi trong nếp thờ Mẫu, đặt ở phía cao của khuôn viên, hợp với thế đền tựa núi.
Về vật liệu và dáng vẻ, đền mang lối kiến trúc đền miếu Bắc Bộ quen thuộc: mái ngói, đầu đao cong, cột gỗ, hệ cửa bức bàn. Nhiều hạng mục đã qua tu bổ trong những thập niên gần đây, nên quý vị sẽ thấy chỗ gỗ cũ nằm cạnh chỗ gỗ mới, chỗ nền cũ nằm cạnh nền lát lại. Đó là tình trạng chung của những ngôi đền có lượng khách rất lớn: sức mòn của người đi lễ buộc phải tu bổ thường hơn nơi khác.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong thần tích hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Thế đất ở đây rõ tới mức gần như không cần diễn giải nhiều: đền tựa núi, nhìn ra đồng và ra phía sông. Trong phép xem đất, đó chính là thế tọa sơn hướng thủy chuẩn mực nhất mà sách vở mô tả, tức lưng có núi làm chỗ dựa, mặt có nước làm chỗ mở. Ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi núi thưa và phần lớn đền miếu phải lấy gò đất hoặc mặt ao thay núi thay sông, một ngôi đền có đủ cả hai vế là chuyện không thường gặp.
Ngọn núi phía sau vừa là chỗ tựa vừa là huyền vũ, tức phần đất cao che lưng. Sách địa lý cổ cho rằng lưng có chỗ tựa thì khí không tán về phía sau, và thế đất ấy chủ về giữ chứ không chủ về phát tán. Đọc theo lối này thì hình thể của khu đất trùng với chức năng mà thần tích trao cho vị thần được thờ: một nơi để chứa và giữ. Chúng tôi ghi nhận sự trùng khớp đó như một cách đọc, không khẳng định người xưa đã chọn đất vì lý do ấy.
Về hướng, mặt đền mở xuống phía thấp, đón được ánh sáng và gió lành, tránh được luồng gió lạnh thổi từ phía sau núi. Khoảng đồng phía trước đóng vai trò minh đường, tức chỗ đất bằng ngay trước cửa để khí tụ lại trước khi vào. Minh đường ở đây rộng và thấp dần, đúng điều mà sách xưa đòi hỏi. Dòng sông Cầu ở phía xa được xem là thủy ở phương viễn; nước không chảy sát chân đền nhưng vẫn nằm trong tầm nhìn, và theo lối đọc cổ truyền thì nước ở xa mà thấy được vẫn giữ được vai trò tụ khí.
Cuối cùng là độ dốc. Các lớp công trình lên dần theo sườn núi, khiến người đi lễ phải bước lên từng bậc mới tới được cung trong cùng. Phong thủy gọi bố cục ấy là thế tiệm tiến, tức đi lên từng nấc. Cái lợi của nó không chỉ nằm ở hình thể mà nằm ở nhịp: người leo dốc thì bước chậm lại, và một chỗ thờ tự cần bước chân chậm hơn là bước chân vội.
伍Lễ Hội Và Tục Vay Lộc
Đền đông người quanh năm, nhưng dồn lại thành hai đợt rõ rệt: đợt đầu năm để cầu, và đợt cuối năm để tạ. Chính hội rơi vào ngày mười bốn tháng Giêng âm lịch, còn ngày mười hai tháng Giêng được các bản kể ghi là ngày Bà mất.
| Thời điểm | Việc | Nội dung |
|---|---|---|
| Từ mùng một tháng Giêng | Khách thập phương về lễ | Đền bắt đầu đông ngay từ những ngày đầu năm, phần lớn là người làm ăn buôn bán từ các tỉnh phía Bắc. |
| 12 tháng Giêng | Ngày Bà mất theo thần tích | Ngày được các bản kể ghi là ngày Bà hy sinh khi phát lương cho dân, có lễ theo lệ của đền. |
| 14 tháng Giêng | Chính hội | Ngày lễ hội chính trong năm của làng Cổ Mễ và của đền, đông nhất trong cả mùa xuân. |
| Suốt tháng Giêng | Dâng sớ và cầu lộc | Người tới lễ viết sớ trình bày việc làm ăn, dâng lên các ban theo thứ tự Công Đồng, Tam Tòa, Sơn Trang rồi tới cung Bà. |
| Tháng Chạp | Lễ tạ cuối năm | Đợt đông thứ hai trong năm. Người từng lễ đầu năm quay lại làm lễ tạ trước khi hết năm âm lịch. |
Tục vay lộc đầu năm, trả lễ cuối năm nay gắn chặt với đền tới mức nhiều người tưởng đó là nghi thức cổ. Xét theo tư liệu thì không phải. Thần tích của đền chép về một vị thần coi giữ kho lương và về cái chết của bà khi phát lương cho dân; trong đó không có nghi thức vay và trả nào cả. Việc thờ tự cổ ở đây là thờ một vị có công, theo lệ chung của đền miếu Bắc Bộ.
Tục vay lộc là lớp tập tục hình thành muộn, và các mô tả đều đặt nó vào những thập niên cuối thế kỷ 20, khi hoạt động buôn bán mở rộng và đền trở thành điểm đến quen của giới kinh doanh. Cơ chế của nó là một phép loại suy: vị thần trông coi kho thì hẳn có của để cho vay, nên người làm ăn xin vay một khoản tượng trưng đầu năm và cuối năm quay lại tạ. Đây là lối nghĩ rất quen của tín ngưỡng dân gian, nơi chức năng của thần được suy rộng ra theo tên gọi.
Chúng tôi ghi điều này bằng giọng sử liệu, không nhằm khen chê ai. Một tập tục hình thành muộn vẫn là một tập tục có thật và đã thành nếp sống của nhiều người; điều duy nhất cần nói rõ là nó thuộc lớp muộn chứ không thuộc lớp cổ, để quý vị đọc thần tích và đọc tập tục mà không lẫn hai thứ vào nhau.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Kho, làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Đền nằm ở làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, dưới chân núi Kho, cách trung tâm thành phố Bắc Ninh một quãng ngắn và cách Hà Nội khoảng ba mươi cây số về phía đông bắc. Đường vào đền là dốc nhỏ, xe lớn thường phải gửi ở bãi phía ngoài.
- Toạ độ
- 21.1897, 106.0553
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của đền là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng và đồ thờ. Lối lên cung Bà hẹp và dốc, xin quý vị đi theo hàng, không chen. Vàng mã và lễ vật đặt đúng chỗ ban quản lý chỉ, hóa đúng nơi quy định. Vào tháng Giêng và tháng Chạp, người rất đông, xin giữ tư trang cẩn thận.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bà Chúa Kho thờ ai
Thờ một nữ thần được dân gọi là Bà Chúa Kho, theo thần tích là người trông coi kho lương của nhà nước ở vùng núi Kho vào thời Lý và mất năm 1077 khi đang phát lương cho dân. Danh xưng này là tên gọi theo chức việc chứ không phải tên riêng, và sử liệu về thân thế Bà rất mỏng.
Bà Chúa Kho có phải là một nhân vật lịch sử có thật không
Chưa thể khẳng định dứt khoát. Không bộ chính sử nào chép một nhân vật mang danh ấy với đầy đủ tên họ và hành trạng. Một luồng cho rằng Bà là người có thật quê vùng Quả Cảm; một luồng khác cho rằng đây là chức việc coi kho đã được thần hóa. Thư viện ghi cả hai luồng và không chọn bừa một luồng làm kết luận.
Tục vay lộc đầu năm trả lễ cuối năm có từ bao giờ
Đây là lớp tập tục hình thành muộn, được các mô tả đặt vào những thập niên cuối thế kỷ 20 khi đền trở thành điểm đến quen của giới buôn bán. Thần tích của đền không chép nghi thức vay và trả nào cả. Việc thờ tự cổ ở đây là thờ một vị có công theo lệ chung của đền miếu Bắc Bộ.
Lễ hội đền Bà Chúa Kho ngày nào
Chính hội là ngày mười bốn tháng Giêng âm lịch. Ngày mười hai tháng Giêng được các bản kể ghi là ngày Bà mất, cũng có lễ theo lệ của đền. Ngoài ra đền đông suốt tháng Giêng với người đi cầu đầu năm, và đông đợt thứ hai vào tháng Chạp với người quay lại làm lễ tạ.
Vì sao gọi là đền Cổ Mễ
Vì đền nằm ở làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cổ Mễ nghĩa là gạo cũ, và tên làng này thường được nhắc tới như một dấu vết của chức năng kho lương mà thần tích gán cho khu vực núi Kho. Đền Cổ Mễ và đền Bà Chúa Kho là hai tên gọi của cùng một nơi.