VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Bà Chúa Kho

Đền Cổ Mễ

Ngôi đền dưới chân núi Kho thờ một nữ thần coi giữ kho lương thời Lý, nay là nơi giới buôn bán cả nước tìm về mỗi độ đầu năm.

Vị được thờ
Nữ thần coi kho lương
thần tích gắn với thời Lý, chép mất năm 1077 hoặc 1078
Xếp hạng
Di tích quốc gia
được công nhận năm 1989
Lễ hội
10 tới 14 tháng Giêng
âm lịch, tại làng Cổ Mễ dưới chân núi Kho

Đi hết con dốc nhỏ ở khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, quý vị sẽ thấy ngôi đền nằm trong quần thể di tích đình, chùa, đền Cổ Mễ, tựa lưng vào sườn núi Kho, mặt quay xuống đồng và nhìn về phía sông Cầu. Đền không lớn, các lớp nhà bám theo độ dốc mà lên dần, nên đứng ở sân dưới nhìn lên thì mái này gối lên mái kia. Chỗ đông người tập trung không chỉ là chính điện mà còn là khu bàn viết sớ và sắm lễ ngoài sân, nơi khách hành hương ngồi ghi những lời cầu xin tài lộc đầu năm.

Đền thờ một vị được dân gian quen gọi là Bà Chúa Kho, tức bà chúa coi giữ kho. Chữ kho ấy vừa là tên vị thần, vừa là tên ngọn núi Kho, vừa là chức việc mà theo thần tích bà từng đảm nhiệm. Ba lớp nghĩa chồng lên nhau trong một chữ, và chính chỗ chồng lấn đó khiến câu hỏi bà là ai trở nên khó trả lời hơn nhiều người tưởng.

Đền Bà Chúa Kho
Đền Bà Chúa Kho. Ảnh: Thang Nguyen from Nottingham, United Kingdom, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

IVị thần được thờ

Theo bản thần tích và truyền thuyết được lưu hành rộng ở địa phương, Bà xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tại làng Quả Cảm gần đó, người vừa có nhan sắc vừa khéo tổ chức việc cấy hái, tích trữ. Sau khi được vua nhà Lý nạp làm hoàng phi, bà xin phép về quê chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang ở vùng Cô Miên, Thượng Đồng, rồi được giao trông coi các kho lương thực của triều đình đặt ở khu vực núi Kho, Cổ Mễ, Cầu Gạo và Thị Cầu. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống bên phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu), kho lương ở núi Kho giữ vai trò hậu cần trọng yếu.

Vẫn theo bản kể ấy, Bà mất trong khi đang chỉ huy quân dân chống giặc và phát lương cứu tế dân nghèo, được nhà vua thương tiếc truy phong là Phúc Thần, còn dân làng Cổ Mễ lập đền thờ ngay trên khu đất kho lương cũ. Danh xưng Bà Chúa Kho vì thế không phải tên riêng mà là tên gọi theo chức việc, giống như cách người xưa gọi một vị thần bằng phần việc vị ấy trông nom.

Theo giáo nghĩa

Trong nếp thờ Mẫu của người Việt, thần linh nữ được xếp theo phủ và theo phần việc. Có vị coi miền trời, có vị coi miền rừng núi, có vị coi miền sông nước, lại có những vị được thờ vì một công trạng cụ thể ở một vùng đất cụ thể. Bà Chúa Kho thuộc lớp sau cùng, tức lớp thần có gốc là người, được đưa vào không gian thờ Mẫu qua công trạng giữ kho lương chứ không qua một vị trí sẵn có từ đầu trong hệ Tứ phủ.

Cách bài trí trong đền phản ánh rõ điều đó. Ngoài cung thờ chính của Bà Chúa Kho ở trong cùng, đền còn có ban Công Đồng, cung Đệ Nhị (Tam Tòa), cung Sơn Trang, lầu Cô, lầu Cậu và ban Ngũ Hổ, tức những ban thuộc hệ thống thờ Mẫu chung. Người tới lễ thường đi lần lượt qua các ban ấy trước khi tới cung Bà, theo đúng thứ tự mà nếp thờ Mẫu vẫn giữ.

Theo sử liệu

Ở đây cần nói thẳng một điều mà nhiều bài viết bỏ qua, đó là sử liệu về thân thế Bà rất mỏng. Không có bộ chính sử nào chép một nhân vật mang danh Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ với đầy đủ tên họ và hành trạng. Những gì thư viện tiếp cận được là thần tích của đền, truyền thuyết địa phương và các bài khảo cứu dựa trên hai nguồn ấy.

Các bản kể cũng khác nhau ở cả năm mất và thân thế. Về ngày mất, báo Phụ Nữ Việt Nam, trang Lịch Sử Việt Nam và Wikipedia ghi Bà mất ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1077), trong khi một số tài liệu giới thiệu địa phương tại Bắc Ninh lại ghi ngày 10 tháng Giêng năm Mậu Ngọ (1078). Về nhân vật, một luồng cho rằng Bà là người phụ nữ quê ở Quả Cảm sống vào thời Lý. Một luồng khác cho rằng Bà không phải một cá nhân cụ thể mà là hình bóng của chính chức việc coi kho đã được thần hóa. Lại có một số đền thờ Bà Chúa Kho ở Hà Nội (như đền Giảng Võ) gắn danh xưng này với bà Lý Thị Châu thời Trần. Thư viện ghi cả mấy luồng và không chọn bừa một luồng làm kết luận, vì chưa có tư liệu đủ mạnh để loại trừ các luồng còn lại.

IINgôi đền trên đất kho cũ

Lịch sử ngôi đền phải đọc thành hai lớp tách bạch, gồm lớp thần tích giải thích vì sao có đền và lớp lịch sử ngôi nhà ghi nhận những gì kiểm chứng được về công trình cùng việc thờ tự. Lớp thứ nhất lùi về thời Lý, còn lớp thứ hai thì phần lớn soi rõ được từ thời Pháp thuộc và cuối thế kỷ 20 trở lại.

  • Thời LýKho lương đặt ở vùng núi Kho
    Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, khu vực núi Kho, Cổ Mễ và Cầu Gạo là nơi đặt kho lương của triều đình bên bờ sông Như Nguyệt. Tên làng Cổ Mễ và địa danh Cầu Gạo được nhắc tới như dấu vết của chức năng ấy.
  • 1077 hoặc 1078Bà mất khi phát lương cho dân
    Bản kể phổ biến chép Bà mất ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1077), còn một số bài giới thiệu địa phương ghi ngày 10 tháng Giêng năm Mậu Ngọ (1078), trong thời gian gắn với cuộc kháng chiến chống quân Tống trên sông Như Nguyệt.
  • Sau năm 1077Dân lập đền thờ trong cụm Cổ Mễ
    Nhà vua truy phong Phúc Thần, dân làng Cổ Mễ lập đền thờ trên khu đất kho cũ ở sườn núi Kho, nằm trong quần thể đình, chùa, đền Cổ Mễ.
  • Đầu thế kỷ 20Nhà máy giấy Đông Dương và việc giữ đền
    Thời Pháp thuộc, người Pháp lập nhà máy giấy Đông Dương ở khu vực núi Kho, còn ngôi đền nhỏ có hai cây đa lớn nằm lọt trong khuôn viên nhà máy. Khi chủ người Pháp định phá đền để lấy mặt bằng, dân làng và công nhân phản đối quyết liệt, cuối cùng chủ nhà máy phải giữ nguyên đền và mở một lối đi nhỏ cho người dân vào lễ.
  • 1989Xếp hạng di tích quốc gia
    Đền Bà Chúa Kho được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1989. Từ cuối thập niên 1970 tới sau năm 1989, đền được khôi phục và mở rộng quy mô lớn trên nền cũ.
  • Cuối thế kỷ 20Tục vay lộc lan rộng khắp cả nước
    Dù từ thời Pháp thuộc đã có thương nhân ở Hà Nội, Hải Phòng tìm về lễ, nhưng phải từ những thập niên cuối thế kỷ 20 khi kinh tế thị trường mở rộng, tục vay vốn đầu năm và trả lễ cuối năm tại đền mới bùng lên mạnh mẽ.
  • 2025Sắp xếp địa giới hành chính
    Theo Nghị quyết 1658/NQ-UBTVQH15 năm 2025, các phường Kim Chân, Đáp Cầu, Thị Cầu và Vũ Ninh cũ hợp nhất thành phường Vũ Ninh mới thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đền Bà Chúa Kho thuộc khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Theo sử liệu

Một điểm đáng ghi nhận về mặt tư liệu là phần lớn những gì được kể về ngôi đền trước thế kỷ 20 đều đến từ lời truyền trong làng chứ không từ văn bản đương thời. Chuyện chủ nhà máy giấy Đông Dương đầu thế kỷ 20 định phá đền rồi phải dừng lại cũng được báo Phụ Nữ Việt Nam thuật lại theo lối giai thoại truyền khẩu của người dân Cổ Mễ, với những chi tiết mang màu linh ứng chứ không phải biên bản hành chính. Thư viện ghi lại vì nó là một phần ký ức của cộng đồng giữ đền, đồng thời nói rõ nó thuộc lớp truyền khẩu.

Từ mốc 1989 trở đi thì tư liệu chắc chắn hơn. Đền nằm trong danh mục di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, có hồ sơ và có ban quản lý, các đợt tu bổ, mở rộng sân và lối đi trong những thập niên gần đây đều được ghi nhận trong tư liệu của địa phương.

IIIKiến trúc bám sườn núi

Đền không dàn trên mặt bằng phẳng như phần lớn đền miếu đồng bằng, mà bám theo độ dốc từ thấp lên cao ở sườn đông nam của núi Kho. Các lớp công trình vì thế nối nhau bằng bậc đá, càng vào trong càng cao, và người đi lễ thực chất đang leo dần lên núi. Đây là điểm khiến bố cục ở đây khác hẳn một ngôi đền đồng bằng cùng quy mô.

Cổng tam quan, sân dưới và hai dãy tả vu, hữu vu

Lớp ngoài cùng rộng rãi, nơi tập trung đông người vào mùa lễ. Hai bên sân là dãy nhà tả vu và hữu vu, khu vực viết sớ và sắm lễ, một sinh hoạt đã thành nếp riêng của ngôi đền này.

Tiền tế (Cung Công Đồng)

Lớp nhà đầu tiên sau sân, đặt hương án thờ hội đồng Tứ phủ và là nơi diễn ra phần lớn việc dâng hương thường ngày. Hệ hoành phi câu đối treo ở đây ca ngợi công đức của Bà và ghi tên người cung tiến qua các đợt tu bổ.

Trung từ (Cung Đệ Nhị)

Nếp nhà ở giữa nối liền sau Tiền tế, bài trí các ban thờ thuộc hệ thống Tam Tòa Thánh Mẫu theo nếp thờ Mẫu Bắc Bộ.

Hậu cung (Cung Bà Chúa Kho)

Lớp trong cùng và cao nhất, còn gọi là Cung Thượng hay Cung cấm, nơi đặt pho tượng Bà Chúa Kho. Không gian thâm nghiêm và hẹp hơn các lớp ngoài, khách vào lễ thường đi theo hàng dọc hai bên.

Cung Sơn Trang, lầu Cô, lầu Cậu và ban Ngũ Hổ

Các ban thờ phụ đặt quanh khuôn viên theo đúng cấu trúc một nơi thờ Mẫu, trong đó cung Sơn Trang gắn với miền rừng núi đặt ở phía cao của sườn núi Kho.

Về vật liệu và dáng vẻ, đền mang lối kiến trúc đền miếu Bắc Bộ quen thuộc với mái ngói mũi hài, đầu đao cong đắp lưỡng long chầu nguyệt, cột gỗ lim, hệ cửa bức bàn chạm tứ linh và tứ quý. Nhiều hạng mục được khôi phục và tu bổ từ cuối thế kỷ 20 trở lại đây, nên quý vị sẽ thấy dấu vết kiến trúc mới nằm trên nền đất cổ. Đó là tình trạng chung của những ngôi đền từng trải qua biến cố chiến tranh và có lượng khách hành hương rất lớn hằng năm.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong thần tích hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Thế đất ở đây rất rõ, khi đền tựa núi, nhìn ra đồng và hướng về phía sông. Trong phép xem đất, đó là thế tọa sơn hướng thủy chuẩn mực mà sách vở mô tả, tức lưng có núi làm chỗ dựa, mặt có khoảng mở và dòng nước ở phía xa. Ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi núi thưa và phần lớn đền miếu phải lấy gò đất hoặc mặt ao thay núi thay sông, một ngôi đền có đủ cả hai vế là chuyện không thường gặp.

Đỉnh núi Kho ở ngay phía tây bắc sau lưng đền vừa là chỗ tựa vừa là huyền vũ, tức phần đất cao che lưng. Sách địa lý cổ cho rằng lưng có chỗ tựa vững thì khí không tán về phía sau, và thế đất ấy chủ về giữ chứ không chủ về phát tán. Đọc theo lối này thì hình thể của khu đất trùng với chức năng mà thần tích trao cho vị thần được thờ, đó là một nơi để chứa và giữ. Thư viện ghi nhận sự trùng khớp đó như một cách đọc, không khẳng định người xưa đã chọn đất vì lý do ấy.

Về hướng, mặt đền quay về phía đông nam mở xuống vùng đất thấp, đón được ánh sáng và gió lành, tránh được luồng gió mùa đông bắc lạnh thổi từ phía sau núi. Khoảng đất thấp phía trước đóng vai trò minh đường, tức chỗ đất bằng trước cửa để khí tụ lại trước khi vào. Dòng sông Cầu (sông Như Nguyệt) uốn lượn ở phía bắc và đông bắc cách đó không xa đóng vai trò thủy ở phương viễn. Nước không chảy sát chân đền nhưng vẫn bao bọc lấy dải đất Cổ Mễ và Thị Cầu, theo lối đọc cổ truyền là thế thủy ôm giữ khí cho cả vùng.

Cuối cùng là độ dốc. Các lớp công trình lên dần theo sườn núi, khiến người đi lễ phải bước lên từng bậc mới tới được cung trong cùng. Phong thủy gọi bố cục ấy là thế tiệm tiến, tức đi lên từng nấc. Cái lợi của nó không chỉ nằm ở hình thể mà nằm ở nhịp, bởi người leo dốc thì bước chậm lại, và một chỗ thờ tự cần bước chân chậm hơn là bước chân vội.

VLễ hội và tục vay lộc

Đền đông người quanh năm, nhưng dồn lại thành hai đợt rõ rệt là đợt đầu năm để cầu lộc, vay vốn và đợt cuối năm để trả lễ, tạ ơn. Về ngày lễ hội chính trong tháng Giêng, các nguồn ghi nhận ba mốc ngày gắn liền nhau là ngày mùng mười, ngày mười hai và ngày mười bốn tháng Giêng âm lịch.

Các mốc chính trong năm của đền, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu địa phương Bắc Ninh, báo Phụ Nữ Việt Nam và các bản tin về lễ hội đền Bà Chúa Kho..
Thời điểm âm lịchViệcNội dung
Từ mùng 1 tháng GiêngKhách thập phương về lễĐền bắt đầu đông ngay từ những ngày đầu năm mới, phần lớn là người làm ăn buôn bán từ khắp các tỉnh thành.
10 hoặc 12 tháng GiêngLễ tưởng niệm ngày Bà mấtCác nguồn địa phương ở Bắc Ninh ghi ngày 10 tháng Giêng, còn báo Phụ Nữ Việt Nam và Wikipedia ghi ngày 12 tháng Giêng là ngày giỗ Bà với nghi thức dâng hương, đọc chúc văn tưởng niệm công đức.
14 và 15 tháng GiêngChính hội làng Cổ MễBáo Phụ Nữ Việt Nam ghi ngày 14 tháng Giêng là ngày chính hội đền Bà Chúa Kho, nối liền với dịp rằm tháng Giêng đông đúc bậc nhất mùa xuân.
Suốt tháng GiêngDâng sớ cầu lộc và xin vay vốnNgười tới lễ viết sớ trình bày việc làm ăn, dâng lên các ban theo thứ tự Công Đồng, Tam Tòa, Sơn Trang rồi tới cung Bà Chúa Kho.
Tháng ChạpLễ tạ cuối nămĐợt đông thứ hai trong năm. Người từng xin lộc đầu năm quay lại làm lễ tạ ơn trước khi khép lại năm âm lịch.
Chỗ hay hiểu lầm

Tục vay lộc đầu năm, trả lễ cuối năm nay gắn chặt với đền tới mức nhiều người tưởng đó là nghi thức cổ từ thời Lý. Xét theo tư liệu thì không phải. Thần tích của đền chép về một vị thần coi giữ kho lương và về sự hy sinh của bà khi phát lương cứu dân, trong đó không có nghi thức cho vay tiền bạc hay trả lãi nào cả. Việc thờ tự gốc của dân làng Cổ Mễ là thờ một vị Phúc Thần có công với nước với dân, theo lệ chung của đền miếu Bắc Bộ.

Báo Phụ Nữ Việt Nam cho biết từ thời Pháp thuộc đã có nhiều thương nhân ở Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận tìm về ngôi đền nhỏ trên núi Kho để khấn lễ cầu buôn may bán đắt. Tuy nhiên, tục làm sớ vay vốn với những con số cụ thể đầu năm rồi cuối năm quay lại trả lễ như hiện nay là lớp tập tục hình thành muộn, bùng lên từ những thập niên cuối thế kỷ 20 khi kinh tế tư nhân và hoạt động buôn bán mở rộng. Cơ chế của nó là một phép loại suy dân gian, rằng vị thần trông coi kho tàng của triều đình thì hẳn có của cải để cho người làm ăn ứng trước làm vốn.

Thư viện ghi điều này bằng giọng sử liệu, không nhằm khen chê ai. Một tập tục hình thành muộn vẫn là một sinh hoạt tín ngưỡng có thật của nhiều người, và điều cần nói rõ là nó thuộc lớp muộn chứ không thuộc lớp thần tích cổ, để quý vị đọc thần tích và đọc tập tục mà không lẫn hai thứ vào nhau.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Kho, làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh cũ, tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Đền nằm ở khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh, dưới chân núi Kho, cách trung tâm thành phố Bắc Ninh cũ khoảng ba tới bốn cây số về phía đông bắc và cách Hà Nội khoảng ba mươi lăm cây số. Đường vào đền có bãi gửi xe tập trung phía ngoài trước khi đi bộ lên dốc đền.
Toạ độ
21.2052, 106.0851
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của đền là lệ cần giữ. Vài điều thường được nhắc là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng và đồ thờ. Lối lên cung Bà hẹp và dốc, xin quý vị đi theo hàng, không chen lấn. Ban quản lý di tích khuyến cáo dâng lễ giản dị, văn minh, không đốt nhiều vàng mã và chỉ hóa sớ ở đúng nơi quy định. Vào tháng Giêng và tháng Chạp, lượng người đổ về rất đông, xin quý vị giữ tư trang cẩn thận.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Bà Chúa Kho

Contribute photos, information or video for Ba Chua Kho Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Bà Chúa Kho thờ ai

Thờ một nữ thần được dân gian gọi là Bà Chúa Kho, theo thần tích là người trông coi kho lương của triều đình ở vùng núi Kho vào thời Lý và mất năm 1077 (hoặc 1078) khi đang phát lương cứu dân trong cuộc kháng chiến chống quân Tống. Danh xưng này là tên gọi theo chức việc chứ không phải tên riêng, và sử liệu về thân thế Bà rất mỏng.

Bà Chúa Kho có phải là một nhân vật lịch sử có thật không

Chưa thể khẳng định dứt khoát. Không bộ chính sử nào chép một nhân vật mang danh ấy ở Cổ Mễ với đầy đủ tên họ và hành trạng. Một luồng truyền thuyết cho rằng Bà là người phụ nữ quê vùng Quả Cảm được tuyển làm hoàng phi thời Lý, còn một luồng khảo cứu cho rằng đây là chức việc coi kho đã được thần hóa. Thư viện ghi cả hai luồng và không chọn bừa một luồng làm kết luận.

Tục vay lộc đầu năm trả lễ cuối năm có từ bao giờ

Thần tích gốc của đền không chép nghi thức vay và trả nào cả. Từ thời Pháp thuộc đã có thương nhân ở Hà Nội, Hải Phòng về đền cầu buôn bán thuận lợi, nhưng tục viết sớ vay vốn đầu năm và trả lễ cuối năm rầm rộ như hiện nay là lớp tập tục hình thành muộn từ những thập niên cuối thế kỷ 20 khi hoạt động kinh doanh mở rộng.

Lễ hội đền Bà Chúa Kho diễn ra ngày nào

Các nguồn ghi ba mốc ngày liền nhau trong tháng Giêng âm lịch. Nguồn địa phương Bắc Ninh ghi ngày 10 tháng Giêng, báo Phụ Nữ Việt Nam và Wikipedia ghi ngày 12 tháng Giêng là ngày giỗ Bà mất, và ngày 14 tháng Giêng là ngày chính hội. Ngoài ra đền đông suốt tháng Giêng với người đi cầu lộc đầu năm, và đông đợt thứ hai vào tháng Chạp với người quay lại làm lễ tạ.

Vì sao gọi là đền Cổ Mễ

Vì đền nằm ở làng Cổ Mễ (nay là khu Cổ Mễ), phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh, thuộc cụm di tích đình, chùa, đền Cổ Mễ. Cổ Mễ nghĩa là gạo cũ, cùng với địa danh Cầu Gạo gần đó thường được nhắc tới như dấu vết của khu kho lương thời Lý. Đền Cổ Mễ và đền Bà Chúa Kho là hai tên gọi gắn với cùng một di tích.

›Đọc Tiếp