VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Phủ Tây Hồ

Phủ Mẫu Tây Hồ

Phủ thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh trên một mũi đất nhô ra hồ Tây, nơi đông người lui tới bậc nhất trong các chốn thờ Mẫu giữa nội thành Hà Nội.

Vị trí
bán đảo Quảng An
số 52 Đặng Thai Mai, phường Tây Hồ, Hà Nội
Xếp hạng
Di tích quốc gia
quyết định ngày 13 tháng 2 năm 1996
UNESCO ghi danh
2016
thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, ngày 1 tháng 12

Con đường vào phủ là một dải đất hẹp chạy giữa hai bên mặt nước, hàng quán bún ốc và bánh tôm nối nhau tới tận cổng. Qua cổng ngoài có đắp bốn chữ Phong đài nguyệt các (Đài gió gác trăng) và cửa tam quan hai tầng tám mái có bốn chữ Tây Hồ hiển tích, quý vị bước vào một khoảng sân nhỏ có cây si cổ thụ, và ngay sau lưng vẫn là hồ Tây. Đây là một nơi thờ tự nằm gọn trên một mũi đất, ba mặt là nước.

Điều làm phủ này khác các phủ Mẫu khác không nằm ở quy mô. Phủ Tây Hồ không lớn, không phải một quần thể trải rộng như Phủ Dầy. Cái riêng của nó là chỗ đứng, một phủ thờ Mẫu nằm ngay trong lòng một đô thị lớn, được người thành phố lui tới đều đặn vào mùng một và ngày rằm, chứ không chỉ đông vào mùa hội. Nếp thờ Mẫu ở đây vì thế gắn vào nhịp sống hằng tháng của một thành phố.

Phủ Tây Hồ
Phủ Tây Hồ. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThánh Mẫu Liễu Hạnh và cuộc gặp bên hồ

Chữ phủ ở đây chỉ nơi thờ Mẫu, khác với chùa của nhà Phật và khác với đền thờ nhân thần hay thành hoàng. Vị được thờ chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị đứng đầu hệ thống Tứ phủ và là vị nữ thần trong hàng Tứ bất tử của người Việt.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, thế giới chia làm các phủ do các vị Mẫu cai quản. Thiên phủ là miền trời sắc đỏ, Địa phủ là miền đất sắc vàng, Thoải phủ là miền sông nước sắc trắng, về sau thêm Nhạc phủ là miền rừng núi sắc xanh. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tôn là Mẫu Thượng Thiên, đứng đầu hệ thống ấy. Dưới hàng Mẫu là hàng Chầu, hàng Quan, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu, mỗi vị mang một phủ, một sắc áo, một bản chầu văn riêng. Người theo tín ngưỡng này tin rằng Mẫu che chở cho đời sống hiện tại của con người, ban sức khỏe và tài lộc, chứ không hứa hẹn một cõi khác sau khi chết.

Theo sử liệu

Truyền thuyết gắn với chính mảnh đất này kể về cuộc gặp giữa Phùng Khắc Khoan, người đời quen gọi là Trạng Bùng, với Liễu Hạnh công chúa bên hồ Tây. Các tư liệu kể hai bản hơi khác nhau ở chi tiết. Truyện Vân Cát thần nữ của Đoàn Thị Điểm kể cuộc xướng họa thơ bên hồ Tây giữa Phùng Khắc Khoan cùng hai người bạn họ Lý, họ Ngô với vị tiên nữ. Còn các bài giới thiệu di tích tại địa phương (như trên báo Dân Sinh và tạp chí Thế Giới Di Sản) kể rằng vào một chiều mùa thu sau khi đi sứ nhà Minh về, Phùng Khắc Khoan đi thuyền dạo hồ Tây tới thôn Tây Hồ, ghé quán trà có biển đề Tây Hồ phong nguyệt, cùng nữ chủ nhân tâm đầu ý hợp làm bài thơ Tây Hồ ngự quán. Hôm sau và nửa tháng sau ông quay lại tìm thì cả người lẫn quán đều không còn, dân làng bèn lập đền phủ thờ tại chỗ ấy. Đây là lớp truyền tụng và văn chương, không phải sử biên niên. Về năm mất của Phùng Khắc Khoan, phần lớn sử liệu ghi ông sinh năm 1528 và mất năm 1613, trong khi một số bài giới thiệu di tích ghi nhầm thành năm 1631. Thư viện nêu rõ cả hai để quý vị tiện đối chiếu.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất, phủ không phải chùa. Trong phủ không có tăng ni, hệ thần linh và nghi thức đều khác nhà Phật, tuy ở điện Sơn Trang vẫn có ban thờ Phật và Quan Âm theo lối thờ tự nhiều lớp quen thuộc của người Việt. Thứ hai, Phủ Tây Hồ không phải nơi thờ Mẫu gốc. Gốc của tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh nằm ở Phủ Dầy thuộc vùng Vụ Bản, còn Phủ Tây Hồ là một trung tâm lớn ở kinh thành Thăng Long gắn với truyền thuyết riêng về cuộc gặp bên hồ.

IITừ quán bên hồ đến phủ trong phố

Không có văn bản đương thời nào cho biết chắc chắn năm khởi dựng phủ. Các tài liệu giới thiệu di tích đều gắn việc lập phủ với truyền thuyết về cuộc gặp của Phùng Khắc Khoan vào khoảng đầu thế kỷ 17, nhưng đó là suy ra từ truyền tụng chứ không phải từ bia ký. Những gì thấy được hôm nay là kết quả của nhiều lần tu bổ nối nhau vào thế kỷ 19, thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21.

  • Cuối thế kỷ 16 tới đầu thế kỷ 17Truyền thuyết cuộc gặp
    Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh công chúa tại quán bên hồ Tây và xướng họa thơ. Đây là lớp truyền tụng dân gian và văn học, không có văn bản hành chính đương thời xác nhận.
  • Khoảng thế kỷ 17Dựng nơi thờ theo truyền tụng
    Theo các tài liệu giới thiệu di tích, phủ được dựng tại thôn Tây Hồ cổ trên bán đảo Quảng An để thờ Thánh Mẫu sau cuộc gặp của Trạng Bùng.
  • Thế kỷ 19 đến 20Lớp di vật và kiến trúc hiện còn
    Hệ thống hoành phi, câu đối, chuông đồng, khám thờ và tượng thờ hiện còn trong phủ phần lớn mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, cho thấy quy mô phủ được mở rộng lớn trong giai đoạn này.
  • 1996Xếp hạng di tích quốc gia
    Phủ Tây Hồ được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo quyết định ngày 13 tháng 2 năm 1996 của Bộ Văn hóa Thông tin. Các nguồn ghi tên loại hình là di tích lịch sử văn hóa hoặc di tích lịch sử nghệ thuật.
  • 2006Xây dựng lại điện Sơn Trang
    Theo cổng thông tin quận Tây Hồ, điện Sơn Trang trong khuôn viên phủ được xây dựng lại vào năm 2006 với quy mô hai tầng lầu (ba tầng mái cong).
  • 2016UNESCO ghi danh
    Ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại kỳ họp thứ mười một của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể họp ở Addis Ababa, Ethiopia, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Theo sử liệu

Về niên đại thực tế của ngôi phủ, một số khảo cứu dẫn trên Wikipedia lưu ý rằng các sách địa chí và khảo cứu cổ tích Hà Nội biên soạn vào cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 như Thăng Long cổ tích khảo, Long Biên bách nhị vịnh, Tây Hồ chí hay Hà Thành linh tích cổ lục chưa thấy chép riêng về Phủ Tây Hồ, nên có khả năng ban đầu đây là một đền miếu nhỏ của thôn Tây Hồ rồi mới phát triển thành phủ lớn về sau.

Về số lượng tượng thờ trong phủ, các nguồn cũng ghi vênh nhau khá xa. Bài viết trên báo Dân Sinh và Thế Giới Di Sản nêu con số gần ba trăm pho tượng lớn nhỏ tại các ban thờ, trong khi cổng thông tin Tây Hồ 360 lại ghi hơn năm mươi pho tượng có giá trị. Khoảng chênh này nhiều khả năng đến từ phạm vi đếm, khi một bên đếm riêng các pho tượng cổ chính, còn một bên đếm toàn bộ tượng lớn nhỏ trong cả điện Sơn Trang (gồm hàng chục pho tượng cô sơn trang trong ba động), lầu Cô, lầu Cậu và các ban phụ. Thư viện ghi rõ cả hai con số theo nguồn.

IIIBa lớp phủ chính và các ban thờ

Khuôn viên phủ chia làm mấy khối tách bạch, gồm phủ chính ba lớp, điện Sơn Trang đứng riêng bên phải, cùng lầu Cô, lầu Cậu, khu nhà khách và đền Kim Ngưu ở kề bên. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi hết các ban chứ không chỉ vào một chỗ, và trật tự các ban chính là trật tự của hệ thần linh Tứ phủ.

Phủ chính

Qua cổng ngoài đắp bốn chữ Phong đài nguyệt các và tam quan hai tầng tám mái đề Tây Hồ hiển tích là một nhà phương đình hai tầng tám mái, rồi tới phủ chính làm theo lối chữ Tam gồm ba nếp nhà chạy song song từ ngoài vào trong:

  • Tiền tế, còn gọi là ban Công Đồng, thờ chung các vị trong hệ Tứ phủ, có treo bức hoành phi Thiên tiên trắc giáng và Mẫu nghi thiên hạ.
  • Trung tế, đặt hương án và thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu cùng Ngũ Vị Tôn Quan.
  • Hậu cung, thờ tượng Tam tòa Thánh Mẫu đặt trên bệ cao, gồm Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Liễu Hạnh) mặc áo đỏ ở giữa, một bên là Mẫu Thượng Ngàn mặc áo xanh và một bên là Mẫu Thoải mặc áo trắng.

Điện Sơn Trang

Tòa nhà đứng riêng bên phải phủ chính, dựng kiểu chồng diêm ba tầng tám mái cong. Các nguồn mô tả cách bài trí bên trong có đôi chỗ khác nhau theo thời điểm. Báo Dân Sinh và Thế Giới Di Sản ghi tầng gác trên thờ Quan Âm Nam Hải, còn tầng dưới có ba gian làm thành ba động Sơn Trang (Động Đào Nguyên ở giữa, hai bên là Động Tuyết Sơn và Động Hương Tích) thờ Bà Chúa Sơn Trang cùng các cô bộ nàng hầu. Bài viết trên tạp chí Người Hà Nội lại ghi tầng trên thờ Phật cùng Tam tòa Thánh Mẫu, tầng dưới thờ Mẫu Thượng Ngàn và hai mươi bốn cô sơn trang. Sơn Trang là lớp thần linh gắn với miền rừng núi trong hệ Tứ phủ, nên ban thờ ở đây bày lễ vật miền núi và lấy sắc xanh làm chủ.

Lầu Cô, lầu Cậu, cây si cổ thụ và đền Kim Ngưu

Trong khuôn viên còn có lầu Cô và lầu Cậu, hai công trình nhỏ thờ hàng Cô và hàng Cậu, tức lớp thần linh trẻ tuổi đứng cuối hệ Tứ phủ, hầu cận các Mẫu và các Quan, nên ban thờ thường bày quạt, nón, gương lược và đồ chơi. Trước sân phủ có một cây si cổ thụ hàng trăm năm tuổi tỏa bóng mát đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam, và kề bên phủ còn có đền Kim Ngưu nhắc tích Trâu Vàng tạo nên hồ Tây.

Một điểm về màu sắc mà quý vị có thể nhận ra ngay là các màu đỏ, vàng, trắng, xanh trong phủ không bày tùy hứng mà ứng với bốn phủ. Đứng ở giữa phủ chính mà nhìn màu áo trên các pho tượng và màu vải phủ trên các ban, quý vị đọc được thứ tự thần linh mà không cần hỏi ai.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên và cũng là điều rõ nhất là phủ nằm trên một mũi đất nhô ra mặt nước, ba mặt là hồ Tây, chỉ một dải đất hẹp nối vào bờ. Trong phép xem đất, nước là thứ tụ khí. Một điểm đất được nước bao gần khắp thì khí đến mà không tán đi được, và trong sách vở lối đất ấy được xếp vào hàng hiếm. Ở giữa một thành phố lớn, chỗ như vậy lại càng hiếm, vì đất ven hồ hầu như đã bị nhà cửa lấp kín từ lâu.

Kế đến là sự tương hợp giữa nước và vị được thờ. Trong hệ Tứ phủ, Thoải phủ là miền sông nước, sắc trắng, và Mẫu Thoải là một trong ba vị được thờ trong hậu cung ở đây. Đặt một phủ Mẫu ngay giữa mặt hồ lớn của Hà Nội là đặt nơi thờ vào đúng hành của một trong các vị được thờ. Trong phong thủy, sự trùng khớp giữa hành của đất và hành của vị chủ nơi thờ được gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Đây cũng là điểm khiến Phủ Tây Hồ khác Phủ Dầy, khi một nơi lấy các quả núi đất nhô lên giữa đồng làm mốc tụ khí, còn một nơi lấy chính mặt nước mênh mông làm nền.

Thứ ba là hướng và minh đường. Phủ quay mặt về hướng tây nam trông ra mặt hồ rộng, tức có một minh đường mở gần như không giới hạn, điều mà các đền phủ trong phố hầu như không có được. Theo lối nhìn cổ truyền, minh đường rộng và bằng phẳng là thế của nơi đón được nhiều người tới, khác với minh đường hẹp vốn hợp với nơi thờ kín đáo. Việc phủ này quanh năm đông người, đông hơn nhiều phủ Mẫu có diện tích lớn hơn nó, có thể đọc từ chính đặc điểm ấy.

Sau cùng là lớp đất của cả vùng hồ Tây. Quanh hồ này còn đền Quán Thánh trấn phương Bắc của kinh thành, chùa Trấn Quốc trên một đảo nhỏ, cùng nhiều đình đền của các làng cổ. Đọc cả vùng cùng lúc thì thấy hồ Tây không phải một mặt nước trơ trọi mà là một vành đai thờ tự bao quanh nước, mỗi nơi giữ một phần. Phủ Tây Hồ giữ phần thuộc về Mẫu, tức phần gần với đời sống thường ngày trong vành đai ấy.

VLệ ngày rằm và nghi thức hầu đồng

Khác nhiều nơi thờ tự chỉ đông vào mùa hội, Phủ Tây Hồ có nhịp riêng, đông đều đặn theo mùng một và ngày rằm hằng tháng, đông bậc nhất vào dịp Tết Nguyên đán và rằm tháng Giêng. Bên cạnh đó là hai ngày tiệc Mẫu lớn trong năm.

Các mốc lệ chính trong năm của phủ. Nguồn: Tài liệu giới thiệu di tích của địa phương và các bản tin về lễ tiết tại phủ..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Mùng 3 tháng 3Ngày giỗ MẫuNgày tiệc lớn trong năm tưởng niệm Thánh Mẫu Liễu Hạnh, có lễ dâng hương, tế lễ và các giá hầu tại phủ.
Ngày 13 tháng 8Ngày tiệc Mẫu mùa thuNgày hội chính thứ hai trong năm được các tài liệu giới thiệu di tích nêu cùng với ngày mùng ba tháng Ba.
Tết Nguyên đán và rằm tháng GiêngLễ đầu nămDịp đông người bậc nhất trong năm, nối vào lệ đi lễ đầu xuân cầu bình an và tài lộc của người Hà Nội.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLệ thường kỳNhịp lui tới đều đặn quanh năm, đặc điểm riêng của một phủ Mẫu nằm trong lòng đô thị.
Rải rác trong nămCác vấn hầuCác buổi hầu đồng do thanh đồng và bản hội tổ chức, có dàn cung văn hát chầu văn đi kèm, thời điểm tùy từng bản hội.

Hai thực hành gắn liền với nơi này là hát chầu văn và hầu đồng. Chầu văn là lối hát nghi lễ, dàn nhạc gồm đàn nguyệt, trống, phách và cảnh, lời hát kể sự tích và ca ngợi từng vị trong hệ Tứ phủ. Hầu đồng là nghi lễ trong đó người hầu, gọi là thanh đồng, lần lượt trình diễn các giá ứng với từng vị. Mỗi giá có khăn áo riêng theo sắc của phủ, có điệu múa riêng, có bản văn riêng, và thường kết thúc bằng việc phát lộc cho người dự.

Theo sử liệu

Nhìn ở góc nhân học, một vấn hầu là một chỉnh thể gồm âm nhạc, trang phục, vũ đạo, ngôn ngữ nghi lễ và quan hệ cộng đồng, tiến hành theo một trình tự đã được quy ước qua nhiều đời. Chính tính chỉnh thể ấy là lý do Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 1 tháng 12 năm 2016, tại kỳ họp thứ mười một của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể họp ở Addis Ababa, Ethiopia. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng các giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 52 phố Đặng Thai Mai, bán đảo Quảng An, phường Quảng An cũ, nay thuộc phường Tây Hồ, Hà Nội
Đường tới
Nằm tại số 52 phố Đặng Thai Mai trên bán đảo Quảng An, thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ cũ, nay là phường Tây Hồ, Hà Nội, ở cuối một dải đất hẹp nhô ra mặt hồ. Đoạn cuối đường vào thường phải đi bộ, nhất là vào mùng một và ngày rằm.
Toạ độ
21.0557, 105.8196
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và rất đông người vào mùng một, ngày rằm, nên lệ nhà cần được giữ. Quý vị lưu ý ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung thờ, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Nếu gặp một vấn hầu, xin quý vị đứng ngoài phạm vi chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa thanh đồng với ban thờ. Việc quay phim chụp ảnh tùy người chủ buổi lễ và người trông coi phủ, hỏi trước là chắc chắn.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Phủ Tây Hồ

Contribute photos, information or video for Tay Ho Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Phủ Tây Hồ thờ ai

Thờ chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị đứng đầu hệ thống Tứ phủ và là vị nữ thần trong hàng Tứ bất tử của người Việt. Hậu cung phủ chính thờ tượng Tam tòa Thánh Mẫu gồm Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Liễu Hạnh), Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải, còn trong khuôn viên có điện Sơn Trang, lầu Cô và lầu Cậu thờ các hàng thần linh khác trong hệ Tứ phủ.

Truyền thuyết Phùng Khắc Khoan ở đây kể chuyện gì

Kể rằng Phùng Khắc Khoan (Trạng Bùng) đi thuyền dạo hồ Tây, gặp Liễu Hạnh công chúa tại quán trà bên hồ và cùng xướng họa thơ (trong truyện Vân Cát thần nữ có thêm hai người bạn họ Lý, họ Ngô). Khi ông quay lại tìm thì cả người lẫn quán đều biến mất, dân làng bèn lập đền phủ thờ tại chỗ ấy. Chuyện này thuộc lớp truyền tụng và văn chương, không phải sử biên niên.

Điện Sơn Trang thờ những vị nào

Điện Sơn Trang dựng kiểu chồng diêm ba tầng tám mái ở bên phải phủ chính. Các nguồn ghi tầng trên thờ Phật, Quan Âm Nam Hải cùng Tam tòa Thánh Mẫu, còn tầng dưới làm ba động thờ Bà Chúa Sơn Trang (Mẫu Thượng Ngàn) cùng các cô sơn trang. Ban thờ ở đây lấy sắc xanh của núi rừng làm chủ.

Lầu Cô lầu Cậu là gì

Là hai công trình nhỏ trong khuôn viên phủ, thờ hàng Cô và hàng Cậu, lớp thần linh trẻ tuổi đứng cuối hệ Tứ phủ và được coi là gần người trần. Ban thờ của các vị này thường bày quạt, nón, gương lược và đồ chơi. Có lầu Cô lầu Cậu nghĩa là nơi thờ tự này thờ trọn hệ thống Tứ phủ chứ không chỉ thờ riêng hàng Mẫu.

UNESCO ghi danh điều gì vào năm 2016

Ghi danh Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 1 tháng 12 năm 2016 tại kỳ họp thứ mười một họp ở Addis Ababa, Ethiopia. Điều được ghi danh là tập quán thực hành gồm chầu văn, hầu đồng, trang phục và lễ tiết, không phải một phán xét về niềm tin.

›Đọc Tiếp