Đứng ở khoảng sân trước ngũ môn, quý vị thấy ba mái đền xếp cạnh nhau chứ không xếp nối nhau: đền Thiên Trường ở giữa, đền Cố Trạch bên trái, đền Trùng Hoa bên phải. Ba toà nhìn ra cùng một hướng, cùng một sân, cùng một hồ nước phía trước. Cách bày ấy không phải kiểu thường gặp ở đền miếu Bắc Bộ, vốn hay dàn theo một trục dọc từ ngoài vào trong.
Lý do nằm dưới chân quý vị. Mảnh đất này vốn là Tức Mặc, quê gốc của họ Trần, và ba ngôi đền hôm nay đứng trên nền cũ của hành cung Thiên Trường, nơi các Thượng hoàng nhà Trần về ngự sau khi nhường ngôi. Đây không phải một ngôi đền được dựng ở một chỗ đẹp; đây là một cung điện đã mất, để lại chỗ trống cho đền dựng lên sau.

壹Mười Bốn Vị Vua Và Hưng Đạo Đại Vương
Nơi này thờ hai lớp đối tượng. Lớp thứ nhất là mười bốn vị hoàng đế nhà Trần, tức toàn bộ các vua của triều đại ấy, được thờ ở đền Thiên Trường bằng bài vị và ở đền Trùng Hoa bằng tượng đồng. Lớp thứ hai là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng thân quyến, được thờ ở đền Cố Trạch.
Xét theo lối thờ tự cổ truyền, đây là hình thức thờ tổ tiên của một dòng họ đã được nâng lên tầm quốc gia. Ban đầu là việc con cháu họ Trần và dân làng Tức Mặc thờ vua cha; về sau, khi triều đại đã lùi vào quá khứ, các vị ấy chuyển sang vị thế của nhân thần, tức người thật được thờ như thần. Riêng Hưng Đạo Đại Vương đi thêm một bước nữa: ông được dân gian tôn là Đức Thánh Trần và trở thành một vị thánh có hệ thống thờ tự riêng, với đền phủ trải khắp Bắc Bộ và với những nghi thức không còn nằm trong khuôn khổ giỗ chạp của một họ.
Về mặt khảo được, nền móng của việc thờ tự ở đây là hành cung Thiên Trường, dựng năm 1239 dưới sự trông coi của quan Phùng Tá Chu, với khu trung tâm rộng khoảng 8 hecta. Trong hành cung có hai cung chính: cung Trùng Quang là nơi các Thượng hoàng về ngự, và cung Trùng Hoa là nơi vua đương triều về chầu cha. Đây là chỗ riêng của nhà Trần, gắn với lệ nhường ngôi sớm rồi lui về làm Thượng hoàng, một lệ mà triều đại này giữ khá đều. Thái miếu nhà Trần trên đất này bị phá trong thế kỷ 15, và các ngôi đền hiện nay đều dựng sau đó rất lâu, trên nền cũ.
貳Từ Hành Cung Đến Ba Toà Đền
Lịch sử ở đây chia làm hai đoạn tách bạch: đoạn hành cung thuộc thế kỷ 13 và 14, rồi một khoảng đứt quãng, sau đó mới tới đoạn dựng đền, kéo dài từ cuối thế kỷ 17 tới tận năm 2000.
- 1239Dựng hành cung Thiên TrườngHành cung được dựng trên đất Tức Mặc, quê gốc họ Trần, do quan Phùng Tá Chu trông coi. Khu trung tâm rộng khoảng 8 hecta.
- Thế kỷ 13Cung Trùng Quang và cung Trùng HoaHai cung chính trong hành cung: Trùng Quang cho các Thượng hoàng về ngự, Trùng Hoa cho vua đương triều về chầu.
- Thế kỷ 15Thái miếu bị pháThái miếu nhà Trần trên đất này bị phá hủy trong giai đoạn quân Minh chiếm đóng. Khu vực bỏ hoang một thời gian dài trước khi được dựng lại thành đền.
- 1695Dựng đền Thiên TrườngĐền được dựng bằng gỗ lim trên nền cung Trùng Quang cũ, thay cho nơi thờ tạm mà dân làng lập trước đó. Đây là mốc thường được lấy làm năm khởi dựng của khu đền.
- 1852Đại tu đền Thiên TrườngĐợt sửa lớn. Theo tư liệu địa phương, trong khi tu sửa đã phát hiện một tấm bia đá, và sự việc này gắn với việc lập đền Cố Trạch.
- Thế kỷ 19Dựng đền Cố TrạchĐền thờ Hưng Đạo Đại Vương được dựng bên trái đền Thiên Trường. Niên đại cụ thể được các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
- 2000Dựng đền Trùng HoaNgôi đền thứ ba được dựng trên nền cung Trùng Hoa cũ, đặt tượng đồng mười bốn vị hoàng đế nhà Trần, làm theo phong cách kiến trúc thời Hậu Lê.
- 2012Di tích quốc gia đặc biệtDi tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1419 ký ngày 27 tháng 9 năm 2012, trong đợt xếp hạng thứ ba.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm dựng đền Cố Trạch, tư liệu của báo địa phương gắn việc lập đền với năm 1852, năm đại tu đền Thiên Trường và phát hiện tấm bia đá; trong khi một số bài báo khác ghi đền được dựng năm 1894. Cả hai đều nằm trong thế kỷ 19 và cả hai đều gắn với cùng một câu chuyện phát hiện bia, nên nhiều khả năng một mốc là năm khởi ý và một mốc là năm hoàn thành; nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số.
參Ba Toà Trên Một Sân
Vào khu đền, quý vị qua hồ nước rồi tới ngũ môn, sau đó là một sân rộng mở ra trước cả ba toà. Cách bày ngang hàng này giữ đúng vị trí nền cũ: đền Thiên Trường ngồi trên nền cung Trùng Quang, đền Trùng Hoa ngồi trên nền cung Trùng Hoa. Nói cách khác, bố cục kiến trúc ở đây là bản sao của bố cục cung điện đã mất.
Đền Thiên Trường
Toà giữa, cũng là toà chính. Tiền đường năm gian, kích thước khoảng 12 mét nhân 6,60 mét, bộ cửa gỗ lim chạm đề tài lưỡng long chầu nguyệt. Nối vào trong là thiêu hương, mặt bằng hình vuông cạnh 6,40 mét, hệ cột gỗ lim cao 3,58 mét. Trong cùng là hậu cung, khoảng 12,70 mét nhân 8,50 mét, bộ cánh cửa cao 3,10 mét, mỗi cánh chạm một bài thơ chữ Hán. Trong đền thờ bài vị mười bốn vị vua Trần, không đặt tượng.
Đền Cố Trạch
Toà bên trái, thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng phu nhân, vương phụ, vương mẫu và Thiên Thành công chúa. Bố cục theo lối tiền chữ Nhất hậu chữ Đinh, gọn hơn đền Thiên Trường. Tên Cố Trạch nghĩa là nền nhà cũ, chỉ chỗ ở cũ của Hưng Đạo Đại Vương trên đất này.
Đền Trùng Hoa
Toà bên phải, mới nhất trong ba toà, dựng từ năm 2000. Kiến trúc bốn mái, đầu đao uốn cong theo phong cách thời Hậu Lê. Hậu cung khoảng 10,70 mét nhân 6,70 mét, chân tảng đá chạm cánh sen. Điểm khác biệt lớn nhất so với đền Thiên Trường là ở đây thờ tượng đồng mười bốn vị hoàng đế chứ không thờ bài vị. Người đi lễ vì thế có thể thấy cùng một danh sách các vị được thờ theo hai lối bày khác hẳn nhau, chỉ cách nhau một cái sân.
Cách khu đền không xa là chùa Phổ Minh, ngôi chùa gắn với nhà Trần, có ngọn tháp cao 19,51 mét trên đế vuông cạnh 5,20 mét và toà tiền đường chín gian dài 24,93 mét. Đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng chung trong một hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt, nên đi một nơi mà bỏ nơi kia là mới thấy nửa phần.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên đáng nói là chỗ này không được chọn theo phép xem đất theo nghĩa thông thường. Nhà Trần dựng hành cung ở Tức Mặc vì đây là quê gốc của họ, và ba ngôi đền về sau chỉ đứng lại đúng trên nền ấy. Khi đọc thế đất ở đây, ta đọc thế đất của một làng quê được nâng lên thành cung điện, chứ không đọc một huyệt được thầy địa lý tìm ra rồi mới dựng nhà lên.
Xét về nước, vùng này thuộc châu thổ hạ lưu sông Hồng, đất phẳng, sông ngòi dày. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi: dòng chảy đóng vai trò dẫn khí, còn ao hồ đóng vai trò tụ khí. Hồ nước nằm trước ngũ môn của khu đền chính là một minh đường có thủy tụ theo đúng nghĩa ấy, và việc đào hồ trước cửa đền là một cách bù lại chỗ thiếu của địa hình bằng phẳng.
Về bố cục, cái đáng chú ý nhất là ba toà đền dàn ngang trên một sân chứ không xếp nối theo trục dọc. Đọc theo lối phong thủy, một trục dọc dẫn khí đi sâu vào trong, còn một hàng ngang thì trải khí ra bề rộng, lấy sân chung làm điểm hội tụ. Cách bày này hợp với chức năng của nơi thờ có nhiều lớp đối tượng ngang vai: mười bốn vị vua ở giữa và bên phải, vị tướng lớn ở bên trái, không ai đứng sau lưng ai. Nếu xếp dọc, thứ tự trước sau sẽ thành thứ tự trên dưới, và điều đó không hợp với quan hệ vua tôi trong cùng một dòng họ.
Sau cùng là lớp nghĩa của nền cũ. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất từng là nơi ở của người quyền quý thì mang theo dấu của người ấy, và dựng đền đúng trên nền cũ là cách giữ lấy dấu ấy chứ không để mất. Việc đền Trùng Hoa năm 2000 vẫn được đặt đúng vào nền cung Trùng Hoa xưa, dù cách nhau bảy trăm năm, cho thấy nguyên tắc này được giữ rất chặt. Đó là một lối phong thủy thiên về ký ức hơn là thiên về hình thế.
伍Hội Xuân, Hội Thu Và Lễ Khai Ấn
Khu đền có hai kỳ hội trong năm: hội xuân vào tháng Giêng, trong đó có lễ khai ấn, và hội thu vào tháng Tám, gắn với ngày giỗ Hưng Đạo Đại Vương. Lễ hội đền Trần được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Đêm 14 rạng ngày 15 tháng Giêng | Lễ khai ấn | Dân làng Tức Mặc rước ấn từ đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường làm lễ, tiến hành vào giờ Tý. |
| Rằm tháng Giêng trở đi | Phát ấn | Ấn được đóng trên giấy và phát cho người về dự, mang ý nghĩa cầu phúc theo dòng chữ khắc trên ấn. |
| Mùng 1 tới 30 tháng Tám | Hội thu | Kỳ hội mùa thu, tập trung trong khoảng mười ngày từ mùng 10 tới 20 tháng Tám. |
| Ngày 20 tháng Tám | Giỗ Hưng Đạo Đại Vương | Ngày trọng nhất của hội thu, có tế và dâng hương tại đền Cố Trạch. |
| Trong hội thu | Rước kiệu, rước nước, tế cá | Rước kiệu từ làng Tức Mặc; nghi thức rước nước và tế cá được phục dựng từ năm 2014, gắn với nghề sông nước của tổ tiên họ Trần. |
Khu di tích hiện giữ hai quả ấn. Quả nhỏ khắc hai chữ Trần miếu theo lối chữ triện. Quả lớn khắc bốn chữ Trần miếu tự điển theo lối chữ chân phương, nghĩa là điển lệ thờ tự tại miếu nhà Trần, kèm dòng chữ Tích phúc vô cương, nghĩa là ban phúc dài lâu không bờ bến. Chính bốn chữ ấy nói ra chức năng thật của quả ấn.
Có hai chỗ hay hiểu lầm về lễ khai ấn, xin nói thẳng bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, đây không phải ấn vua ban chức tước. Chữ khắc trên ấn là Trần miếu tự điển, tức điển lệ thờ tự ở miếu, và dòng chữ đi kèm là Tích phúc vô cương, tức ban phúc. Giám đốc Bảo tàng Nam Định, ông Nguyễn Văn Thư, nói rõ rằng quả ấn này không gắn với một cấp hành chính hay một chức quan nào, mà chỉ mang ý nghĩa về điển lệ thờ tự. Đây là ấn của nhà miếu, không phải ấn của triều đình; xin ấn để cầu thăng quan tiến chức là hiểu chệch khỏi nội dung khắc trên chính quả ấn ấy. Cần nói thêm rằng quả ấn đang dùng là ấn gỗ được khắc lại về sau, chứ không phải vật của thời Trần còn lại.
Thứ hai, tục phát ấn quy mô lớn là việc mới gần đây. Tại một hội thảo khoa học năm 2009, các nhà nghiên cứu cho biết chưa tìm được thư tịch cổ nào chép về lễ khai ấn ở đây; nhà nghiên cứu Tống Trung Tín gọi đó là một sáng tạo riêng của Nam Định. Ở hướng ngược lại, có ý kiến dẫn một bài thơ của tiến sĩ Đỗ Hựu viết năm 1478 để cho rằng lễ khai ấn đã có từ thế kỷ 15. Hai luồng ý kiến này chưa gặp nhau và chúng tôi ghi cả hai. Nhưng điều mà các nguồn đều thống nhất là về quy mô: trước đây khai ấn chỉ là một lễ nhỏ trong làng, và việc phát ấn cho hàng vạn người kéo về chỉ thành hình từ khoảng năm 2000 trở đi. Nói cách khác, nghi thức có thể cũ, nhưng cái đám đông thì mới.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Nằm ở phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, cách trung tâm thành phố chừng ba cây số về phía bắc. Chùa Phổ Minh nằm ngay gần khu đền, đi bộ được.
- Toạ độ
- 20.4353, 106.1697
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào bài vị, tượng đồng và bộ cửa chạm, đặt tiền vào hòm công đức. Đêm khai ấn rằm tháng Giêng là lúc đông người nhất trong năm, lối vào phân luồng một chiều, xin quý vị theo hướng dẫn tại chỗ. Đi đền Trần nên tính đi cả chùa Phổ Minh gần đó, vì hai nơi nằm chung một hồ sơ di tích.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Trần Nam Định thờ ai
Thờ mười bốn vị hoàng đế nhà Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đền Thiên Trường thờ bài vị mười bốn vị vua, đền Trùng Hoa thờ tượng đồng cũng mười bốn vị ấy, còn đền Cố Trạch thờ Hưng Đạo Đại Vương cùng phu nhân, vương phụ, vương mẫu và Thiên Thành công chúa.
Vì sao đền lại có tới ba toà
Vì ba toà đứng trên nền của hành cung Thiên Trường dựng năm 1239. Đền Thiên Trường nằm trên nền cung Trùng Quang, nơi các Thượng hoàng về ngự; đền Trùng Hoa dựng năm 2000 nằm trên nền cung Trùng Hoa, nơi vua đương triều về chầu; đền Cố Trạch dựng thế kỷ 19 trên nền nhà cũ của Hưng Đạo Đại Vương.
Ấn đền Trần có phải ấn vua ban chức tước không
Không. Ấn khắc bốn chữ Trần miếu tự điển, nghĩa là điển lệ thờ tự tại miếu nhà Trần, kèm dòng Tích phúc vô cương nghĩa là ban phúc dài lâu. Giám đốc Bảo tàng Nam Định cho biết quả ấn không gắn với cấp hành chính hay chức quan nào. Đây là ấn của nhà miếu, không phải ấn của triều đình.
Lễ khai ấn có phải lệ cổ không
Nguồn vênh nhau. Hội thảo khoa học năm 2009 cho biết chưa tìm được thư tịch cổ nào chép về lễ này; ở hướng khác có ý kiến dẫn bài thơ năm 1478 của tiến sĩ Đỗ Hựu để cho rằng lễ đã có từ thế kỷ 15. Các nguồn đều thống nhất ở một điểm: việc phát ấn cho hàng vạn người chỉ thành hình từ khoảng năm 2000.
Đền Trần nay thuộc tỉnh nào
Khu đền nằm ở phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc tỉnh Ninh Bình. Tên gọi Đền Trần Nam Định vẫn được giữ vì gắn với địa danh cũ và với tên gọi quen dùng trong tư liệu.