VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Trần Nam Định

Đền Thiên Trường, Cố Trạch, Trùng Hoa

Ba toà đền dựng trên nền hành cung của nhà Trần ở đất Tức Mặc, nơi thờ mười bốn vị vua cùng vị tướng lớn nhất của triều đại ấy.

Hành cung Thiên Trường
1239
dựng dưới đời Trần, khu trung tâm khoảng 8 hecta
Đền Thiên Trường
1695
dựng bằng gỗ lim, thờ bài vị 14 vị vua Trần
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2012

Đứng ở khoảng sân trước ngũ môn nhìn vào, quý vị thấy ba mái đền quay mặt về hướng nam, xếp ngang cạnh nhau chứ không xếp nối nhau. Đền Thiên Trường nằm ở giữa, đền Cố Trạch nằm ở phía đông (bên phải người nhìn từ sân vào, tức bên tả theo thế đền tọa bắc hướng nam), còn đền Trùng Hoa nằm ở phía tây (bên trái người nhìn từ sân vào, tức bên hữu của đền). Ba toà nhìn ra cùng một hướng, cùng một sân và cùng một hồ nước phía trước. Cách bày ấy không phải kiểu thường gặp ở đền miếu Bắc Bộ, vốn hay dàn theo một trục dọc từ ngoài vào trong.

Lý do nằm dưới chân quý vị. Mảnh đất này vốn là hương Tức Mặc, quê gốc của họ Trần, và ba ngôi đền hôm nay đứng trên nền cũ của hành cung Thiên Trường, nơi các Thái thượng hoàng nhà Trần về ngự sau khi nhường ngôi. Đây không phải một ngôi đền được dựng ở một chỗ đẹp ngẫu nhiên, mà là một cung điện đã mất để lại chỗ trống cho đền dựng lên sau.

Đền Trần Nam Định
Đền Trần Nam Định. Ảnh: Hoangvantoanajc, giấy phép CC0, nguồn Wikimedia Commons.

IMười bốn vị vua và Hưng Đạo Đại Vương

Nơi này thờ hai lớp đối tượng. Lớp thứ nhất là mười bốn vị hoàng đế nhà Trần cùng các vị thủy tổ họ Trần, được thờ ở đền Thiên Trường bằng bài vị và ở đền Trùng Hoa bằng tượng đồng. Lớp thứ hai là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến và gia tướng, được thờ ở đền Cố Trạch.

Theo giáo nghĩa

Xét theo lối thờ tự cổ truyền, đây là hình thức thờ tổ tiên của một dòng họ đã được nâng lên tầm quốc gia. Ban đầu là việc con cháu họ Trần và dân làng Tức Mặc thờ vua cha. Về sau, khi triều đại đã lùi vào quá khứ, các vị ấy chuyển sang vị thế của nhân thần, tức người thật được thờ như thần. Riêng Hưng Đạo Đại Vương đi thêm một bước nữa khi được dân gian tôn là Đức Thánh Trần và trở thành một vị thánh có hệ thống thờ tự riêng, với đền phủ trải khắp Bắc Bộ cùng những nghi thức không còn nằm trong khuôn khổ giỗ chạp của một họ.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, nền móng của việc thờ tự ở đây là hành cung Thiên Trường (trước gọi là cung Tức Mặc), dựng năm 1239 dưới sự trông coi của quan Phùng Tá Chu với khu trung tâm rộng khoảng 8 hecta. Năm 1262, vua Trần Thái Tông đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường. Trong hành cung có hai cung chính gồm cung Trùng Quang là nơi các Thái thượng hoàng về ngự, và cung Trùng Hoa là nơi vua đương triều về chầu cha. Đây là chỗ riêng của nhà Trần, gắn với lệ nhường ngôi sớm rồi lui về làm Thái thượng hoàng mà triều đại này giữ khá đều. Thái miếu và cung điện nhà Trần trên đất này bị hủy hoại vào đầu thế kỷ 15, và các ngôi đền hiện nay đều dựng sau đó rất lâu trên nền cũ.

IITừ hành cung đến ba toà đền

Lịch sử ở đây chia làm hai đoạn tách bạch, gồm đoạn hành cung thuộc thế kỷ 13 và 14, rồi một khoảng đứt quãng, sau đó mới tới đoạn dựng đền kéo dài từ cuối thế kỷ 17 tới năm 2000.

  • 1239Dựng hành cung ở Tức Mặc
    Hành cung được dựng trên đất Tức Mặc, quê gốc họ Trần, do quan Phùng Tá Chu trông coi. Khu trung tâm rộng khoảng 8 hecta. Năm 1262 đổi hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường.
  • Thế kỷ 13Cung Trùng Quang và cung Trùng Hoa
    Hai cung chính trong hành cung, gồm cung Trùng Quang cho các Thái thượng hoàng về ngự và cung Trùng Hoa cho vua đương triều về chầu.
  • Đầu thế kỷ 15Cung điện và Thái miếu bị phá
    Các cung điện và Thái miếu nhà Trần trên đất Tức Mặc bị hủy hoại trong giai đoạn quân Minh chiếm đóng. Về sau dân làng lập miếu thờ trên nền cũ.
  • 1695Dựng đền Thiên Trường bằng gỗ
    Năm Chính Hòa thứ 16 (1695), đền Thiên Trường được dựng bằng gỗ lim trên nền Thái miếu và cung Trùng Quang cũ. Đền được mở rộng các năm 1773, 1854, 1895 và 1907 - 1908.
  • 1852 / 1868Phát hiện bia cổ Hưng Đạo thân vương cố trạch
    Trong đợt tu sửa đền Thiên Trường dưới triều Tự Đức, dân làng đào được mảnh bia đá vỡ khắc chữ 'Hưng Đạo thân vương cố trạch' (nhà cũ của Hưng Đạo thân vương) ở phía đông đền Thiên Trường.
  • 1894 - 1895Hoàn thành đền Cố Trạch
    Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương được dựng ở phía đông đền Thiên Trường, hoàn thành năm Thành Thái thứ 7 (1895) và đặt tên là Cố Trạch từ (đền Nhà Cũ).
  • 2000Dựng đền Trùng Hoa
    Ngôi đền thứ ba được dựng ở phía tây đền Thiên Trường, trên nền cung Trùng Hoa cũ, đặt tượng đồng mười bốn vị hoàng đế nhà Trần theo phong cách kiến trúc truyền thống.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2012 (trước đó đã xếp hạng cấp quốc gia năm 1962).
Theo sử liệu

Chỗ này các nguồn ghi có độ chênh, xin nói rõ. Về việc phát hiện mảnh bia đá cổ và dựng đền Cố Trạch, một số tư liệu địa phương gắn mốc phát hiện bia và lập đền với năm 1852 khi đại tu đền Thiên Trường. Trong khi đó, văn bia Trùng kiến Hưng Đạo thân vương cố trạch bi ký tại đền (được dẫn trong hồ sơ di tích và báo chí trung ương) chép rằng vào năm Tự Đức thứ 21 (1868), khi tu sửa đền Thiên Trường, người dân đào được mảnh bia vỡ khắc sáu chữ Hưng Đạo thân vương cố trạch ở phía đông đền. Đến năm Thành Thái thứ 6 (1894), Tổng đốc Phạm Văn Toán cùng dân làng quyên góp dựng đền thờ riêng ngay trên nền đất ấy, hoàn thành vào năm 1895. Thư viện ghi đầy đủ cả hai mạch tư liệu để người đọc tiện đối chiếu.

IIIBa toà trên một sân

Vào khu đền, quý vị qua hồ nước hình chữ nhật rồi tới hệ thống cổng ngũ môn (trên cổng chính khắc ba chữ Hán Chính nam môn và hai chữ Trần miếu), sau đó là một sân rộng mở ra trước cả ba toà đều quay mặt về hướng nam. Cách bày ngang hàng này giữ đúng vị trí nền cũ, trong đó đền Thiên Trường ngồi trên nền cung Trùng Quang ở giữa, đền Trùng Hoa ngồi trên nền cung Trùng Hoa ở phía tây, còn đền Cố Trạch nằm ở phía đông. Nói cách khác, bố cục kiến trúc ở đây phản ánh trực tiếp bố cục cung điện và phủ đệ xưa.

Đền Thiên Trường

Toà giữa, cũng là toà chính, gồm 9 toà 31 gian trên tổng diện tích hơn 2.500 mét vuông. Tiền đường năm gian, kích thước khoảng 12 mét nhân 6,60 mét, bộ cửa gỗ lim chạm đề tài lưỡng long chầu nguyệt. Nối vào trong là toà thiêu hương (còn gọi là mỹ tự), mặt bằng gần vuông cạnh 6,40 mét, hệ cột gỗ lim cao 3,58 mét. Trong cùng là trung đường và chính tẩm (hậu cung), khoảng 12,70 mét nhân 8,50 mét, bộ cánh cửa cao 3,10 mét, mỗi cánh chạm một bài thơ chữ Hán. Trong đền thờ bài vị các vị thủy tổ họ Trần và mười bốn vị hoàng đế nhà Trần, không đặt tượng tại đây.

Đền Cố Trạch

Toà nằm ở phía đông đền Thiên Trường (bên phải nếu nhìn từ sân ngũ môn vào), còn gọi là Hạ từ, thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng thân phụ Trần Liễu, thân mẫu, Thiên Thành công chúa, bốn người con trai, Phạm Ngũ Lão và các tả hữu tướng quân. Bố cục gồm 9 toà 29 gian theo lối nội công ngoại quốc, gọn hơn đền Thiên Trường. Tên Cố Trạch nghĩa là nền nhà cũ, chỉ chỗ ở cũ của Hưng Đạo Đại Vương trên đất Tức Mặc.

Đền Trùng Hoa

Toà nằm ở phía tây đền Thiên Trường (bên trái nếu nhìn từ sân ngũ môn vào), mới nhất trong ba toà, được dựng năm 2000 trên nền cung Trùng Hoa xưa. Kiến trúc bốn mái, đầu đao uốn cong theo phong cách truyền thống, gồm 11 toà 32 gian. Hậu cung khoảng 10,70 mét nhân 6,70 mét, chân tảng đá chạm cánh sen. Điểm khác biệt lớn so với đền Thiên Trường là tại đây đặt mười bốn pho tượng đồng của mười bốn vị hoàng đế nhà Trần (tạc tại làng đúc đồng Tống Xuyên, Ý Yên) ở toà thiên hương và chính tẩm. Người đi lễ vì thế có thể thấy cùng một danh sách các vị vua được thờ theo hai lối bày khác nhau, chỉ cách nhau một khoảng sân.

Cách khu đền khoảng ba trăm mét về phía tây là chùa Phổ Minh (chùa Tháp), ngôi chùa gắn bó mật thiết với nhà Trần, nổi tiếng với ngọn tháp Phổ Minh 14 tầng cao 19,51 mét trên đế vuông cạnh 5,20 mét (nơi đặt xá lợi Phật hoàng Trần Nhân Tông) và toà tiền đường chín gian dài 24,93 mét. Đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng chung trong một hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt, nên đi một nơi mà bỏ nơi kia là mới thấy nửa phần.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là chỗ này không được chọn theo phép xem đất theo nghĩa thông thường. Nhà Trần dựng hành cung ở Tức Mặc vì đây là quê gốc của họ, và ba ngôi đền về sau chỉ đứng lại đúng trên nền ấy. Khi đọc thế đất ở đây, ta đọc thế đất của một làng quê được nâng lên thành cung điện, chứ không đọc một huyệt được thầy địa lý tìm ra rồi mới dựng nhà lên.

Xét về nước, vùng này thuộc châu thổ hạ lưu sông Hồng, đất phẳng, sông ngòi dày. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi, trong đó dòng chảy đóng vai trò dẫn khí còn ao hồ đóng vai trò tụ khí. Hồ nước nằm trước ngũ môn ở phía nam khu đền chính là một minh đường có thủy tụ theo đúng nghĩa ấy, và việc đào hồ trước cửa đền là một cách bù lại chỗ thiếu của địa hình bằng phẳng.

Về bố cục, cái đáng chú ý là cả ba toà đền đều tọa bắc hướng nam và dàn ngang trên một sân chứ không xếp nối theo trục dọc. Đọc theo lối phong thủy, một trục dọc dẫn khí đi sâu vào trong, còn một hàng ngang thì trải khí ra bề rộng, lấy sân chung làm điểm hội tụ. Cách bày này hợp với chức năng của nơi thờ có nhiều lớp đối tượng ngang vai. Tính theo thế đền tọa bắc nhìn về nam, mười bốn vị vua ngự ở trung tâm (đền Thiên Trường) và bên hữu phía tây (đền Trùng Hoa), còn vị quốc công tiết chế ngự ở bên tả phía đông (đền Cố Trạch), không ai đứng sau lưng ai. Nếu xếp dọc, thứ tự trước sau sẽ thành thứ tự trên dưới, và điều đó không hợp với quan hệ vua tôi trong cùng một dòng họ.

Sau cùng là lớp nghĩa của nền cũ. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất từng là nơi ở của người quyền quý thì mang theo dấu của người ấy, và dựng đền đúng trên nền cũ là cách giữ lấy dấu ấy chứ không để mất. Việc đền Trùng Hoa năm 2000 vẫn được đặt đúng vào nền cung Trùng Hoa xưa, dù cách nhau bảy trăm năm, cho thấy nguyên tắc này được giữ rất chặt. Đó là một lối phong thủy thiên về ký ức hơn là thiên về hình thế.

VHội xuân, hội thu và lễ khai ấn

Khu đền có hai kỳ hội lớn trong năm gồm hội xuân vào tháng Giêng (tập trung từ ngày 11 đến 16 tháng Giêng, nổi bật với lễ khai ấn) và hội thu vào tháng Tám (tập trung từ ngày 15 đến 20 tháng Tám, gắn với lễ tưởng niệm các vua Trần và ngày hóa của Hưng Đạo Đại Vương). Lễ hội đền Trần được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014.

Các nghi thức chính trong hai kỳ hội xuân và hội thu. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đền Trần Nam Định và Ban quản lý khu di tích..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 11 và 12 tháng GiêngLễ rước kiệu Ngọc Lộ và lễ rước nước, tế cáNgày 11 rước bát hương Phật hoàng Trần Nhân Tông từ chùa Phổ Minh sang đền Thiên Trường. Ngày 12 rước nước và đánh bắt cá quả (triều đẩu), cá chép (long ngư) tại giếng Rồng về tế Thánh rồi phóng sinh ra sông Hồng.
Đêm 14 rạng ngày 15 tháng GiêngLễ khai ấnCác bậc cao niên làng Tức Mặc rước hòm ấn từ nội cung đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường làm lễ khai ấn vào giờ Tý.
Rằm tháng Giêng trở điPhát ấn lộcẤn được đóng trên giấy vàng và phát cho người dân về dự từ sáng ngày 15 tháng Giêng, mang ý nghĩa cầu phúc đầu xuân theo dòng chữ khắc trên ấn.
Tháng Tám (trọng tâm 15 tới 20 tháng Tám)Hội thu đền TrầnKỳ hội truyền thống mùa thu tưởng niệm công đức 14 vị vua Trần và Đức Thánh Trần với lễ rước kiệu Bát Cống, tế lễ cổ truyền và các trò diễn dân gian.
Ngày 20 tháng TámGiỗ Hưng Đạo Đại VươngNgày trọng của hội thu tưởng niệm ngày hóa của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (20 tháng 8 năm Canh Tý 1300) với lễ tế và dâng hương tại đền Cố Trạch.

Khu di tích hiện giữ hai quả ấn đồng đặt tại đền Cố Trạch. Quả nhỏ khắc hai chữ Trần miếu theo lối chữ triện. Quả lớn hình vuông khắc bốn chữ Trần miếu tự điển theo lối chữ chân phương (nghĩa là điển lệ thờ tự tại miếu nhà Trần), cạnh dưới khắc dòng chữ Tích phúc vô cương (nghĩa là ban phúc dài lâu không bờ bến). Chính những chữ ấy nói rõ chức năng thật của quả ấn.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm về lễ khai ấn, xin nói thẳng bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, đây không phải ấn vua ban chức tước. Chữ khắc trên ấn là Trần miếu tự điển, tức điển lệ thờ tự ở miếu, và dòng chữ đi kèm là Tích phúc vô cương, tức khuyên con cháu và bách gia giữ phúc đức dài lâu. Nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định Nguyễn Văn Thư cùng các nhà sử học đã chỉ rõ rằng quả ấn này không gắn với một cấp hành chính hay một chức quan nào, mà chỉ mang ý nghĩa về điển lệ thờ tự của nhà miếu. Xin ấn để cầu thăng quan tiến chức là hiểu chệch khỏi nội dung khắc trên chính quả ấn ấy. Hơn nữa, quả ấn hiện dùng là ấn được chế tác lại vào cuối thời Nguyễn (trên lưng ấn có khắc niên hiệu và ngày tạo tác), chứ không phải ấn tín triều chính của thời Trần còn lại.

Thứ hai, tục phát ấn quy mô lớn là việc mới gần đây. Tại hội thảo khoa học năm 2009, nhiều nhà nghiên cứu cho biết chưa tìm được thư tịch cổ nào chép về lễ khai ấn triều đình tại Tức Mặc, và nhà khảo cổ Tống Trung Tín nhận định đây là một nghi thức tín ngưỡng của địa phương. Ở hướng khác, có ý kiến dẫn bài thơ của tiến sĩ Đỗ Hựu viết năm Hồng Đức thứ 9 (1478) để cho rằng lệ khai ấn ở miếu Trần đã có từ thế kỷ 15. Hai luồng ý kiến này chưa gặp nhau và thư viện ghi nhận cả hai. Tuy nhiên, điều mà các nguồn đều thống nhất là về quy mô, bởi trước đây khai ấn chỉ là một nghi lễ nhỏ trong phạm vi làng Tức Mặc, còn việc in và phát ấn cho hàng vạn người thập phương kéo về chỉ mới thành hình từ khoảng năm 2000 trở đi. Nói cách khác, nghi thức có thể xưa, nhưng đám đông là chuyện mới.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Nam Định (phường Lộc Vượng cũ, thành phố Nam Định cũ), tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Nằm trên đường Trần Thừa, phường Nam Định (phường Lộc Vượng cũ, thành phố Nam Định cũ), tỉnh Ninh Bình, cách trung tâm thành phố Nam Định cũ chừng ba cây số về phía bắc. Chùa Phổ Minh nằm cách khu đền khoảng 300 mét về phía tây, đi bộ qua rất thuận tiện.
Toạ độ
20.4556, 106.168
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào bài vị, tượng đồng và bộ cửa chạm, đồng thời đặt tiền lễ vào hòm công đức. Đêm khai ấn rằm tháng Giêng là lúc đông người nhất trong năm, lối vào phân luồng một chiều và việc phát ấn chỉ bắt đầu từ sáng ngày 15 tháng Giêng, xin quý vị theo hướng dẫn của ban tổ chức tại chỗ. Đi đền Trần nên tính đi cả chùa Phổ Minh cách đó khoảng 300 mét về phía tây vì hai nơi nằm chung trong một quần thể di tích quốc gia đặc biệt.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Trần Nam Định

Contribute photos, information or video for Tran Dynasty Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Trần Nam Định thờ ai

Thờ các vị thủy tổ họ Trần, mười bốn vị hoàng đế nhà Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đền Thiên Trường thờ bài vị mười bốn vị vua, đền Trùng Hoa thờ mười bốn pho tượng đồng của các vị vua ấy, còn đền Cố Trạch thờ Hưng Đạo Đại Vương cùng thân phụ, thân mẫu, Thiên Thành công chúa, bốn người con trai và gia tướng.

Vì sao đền lại có tới ba toà xếp ngang nhau

Vì ba toà đứng trên nền cũ của hành cung Thiên Trường dựng năm 1239 và quay mặt về hướng nam. Đền Thiên Trường ở giữa nằm trên nền Thái miếu và cung Trùng Quang (nơi các Thái thượng hoàng về ngự), đền Trùng Hoa ở phía tây dựng năm 2000 trên nền cung Trùng Hoa (nơi vua đương triều về chầu), còn đền Cố Trạch ở phía đông dựng cuối thế kỷ 19 trên nền nhà cũ của Hưng Đạo Đại Vương.

Ấn đền Trần có phải ấn vua ban chức tước không

Không. Quả ấn khắc bốn chữ Trần miếu tự điển (điển lệ thờ tự tại miếu nhà Trần) kèm dòng Tích phúc vô cương (ban phúc dài lâu không bờ bến). Các nhà nghiên cứu và Bảo tàng Nam Định khẳng định quả ấn không gắn với cấp hành chính hay chức quan nào. Đây là ấn của nhà miếu để giáo huấn giữ phúc đức, không phải ấn phong quan của triều đình.

Lễ khai ấn có phải lệ cổ từ thời Trần không

Các nguồn nghiên cứu còn ý kiến khác nhau. Hội thảo khoa học năm 2009 cho biết chưa tìm thấy chính sử thời Trần chép về lễ này, trong khi một số ý kiến dẫn thơ năm 1478 của tiến sĩ Đỗ Hựu và truyền ngôn làng Tức Mặc để cho rằng lệ mở ấn nhà miếu đã có từ lâu. Các nguồn đều thống nhất rằng trước đây khai ấn chỉ là nghi thức nội bộ của làng Tức Mặc, còn việc phát ấn cho hàng vạn du khách chỉ mới hình thành từ khoảng năm 2000.

Đền Trần Nam Định nay thuộc tỉnh nào

Khu đền nằm tại phường Nam Định (trước tháng 7 năm 2025 là phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Sau đợt sáp nhập tỉnh năm 2025 giữa Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình, địa bàn này thuộc tỉnh Ninh Bình. Tên gọi Đền Trần Nam Định vẫn được dùng phổ biến để phân biệt với các đền thờ nhà Trần ở địa phương khác.

›Đọc Tiếp