VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Bắc Lệ

公同 · Đền Công Đồng Bắc Lệ

Cửa đền trọng nhất của Mẫu Thượng Ngàn, dựng trên một quả đồi giữa rừng Hữu Lũng, nơi thanh đồng khắp nước vẫn tìm về.

Xếp hạng
1992
di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
Tượng thờ
19 pho
tạc bằng gỗ mít, còn giữ trong đền
Chính hội
20 tháng 9
âm lịch, hội mở từ ngày 18

Xe rời quốc lộ, men theo con đường nhỏ dọc đường sắt, rồi quý vị leo mấy chục bậc đá lên một quả đồi thấp. Trên đỉnh đồi là mái đền ngói cũ, xung quanh là cây cổ thụ khép tán kín tới mức giữa trưa dưới sân vẫn râm. Trong cung, mười chín pho tượng gỗ mít ngồi im trong khói nhang, phía trên là những tấm hoành phi chạm nổi đã ngả màu.

Chỗ này không phải một ngôi đền làng. Đây là cửa đền, tiếng nhà nghề chỉ những nơi thờ mà giới thanh đồng coi là trọng, phải về trình, phải về hầu. Trong hệ Tứ Phủ, Bắc Lệ là cửa đền lớn nhất của Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản miền rừng núi.

Mẫu Thượng Ngàn Và Chầu Bé

Tên đầy đủ của nơi này là đền Công Đồng Bắc Lệ. Chữ công đồng 公同 chỉ cả một tập hợp thần linh cùng ngự chứ không phải một vị riêng lẻ: đền thờ Mẫu Thượng Ngàn ở ngôi chính, cùng với đó là hàng Quan, hàng Chầu, hàng Cô, hàng Cậu của hệ Tứ Phủ. Ai bước vào đây mà chỉ tìm một pho tượng để lễ thì sẽ thấy bối rối, vì lối bài trí ở đây là lối bài trí của cả một triều thần.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, vũ trụ chia làm bốn phủ, mỗi phủ một vị Mẫu và một sắc áo: Thiên phủ miền trời sắc đỏ, Địa phủ miền đất sắc vàng, Thoải phủ miền sông nước sắc trắng, Nhạc phủ miền rừng núi sắc xanh. Mẫu Thượng Ngàn là vị đứng đầu Nhạc phủ, cai quản rừng, núi, cây cối và muông thú, cũng là vị được cho là dạy người miền núi cách phát nương, giữ rừng và làm ăn với đất dốc. Dưới các Mẫu là hàng Quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu, mỗi vị mang một phủ, một sắc áo và một bản văn riêng. Điều người theo tín ngưỡng này trông đợi là sự che chở trong đời sống đang diễn ra chứ không phải một cõi khác sau khi chết.

Theo sử liệu

Chầu Bé Bắc Lệ là vị gắn chặt nhất với chính mảnh đất này, và cũng là vị mà các nguồn ghi khác nhau nhiều nhất. Có nguồn xếp bà là vị thứ mười một trong hàng mười hai Chầu Bà của Tứ Phủ, người dân tộc Nùng sinh tại vùng Bắc Lệ; nguồn khác lại kể bà là con gái của Mẫu Thượng Ngàn, hoặc coi bà là một hóa thân của chính Mẫu. Ngay khăn áo trong giá hầu cũng được ghi hai đằng, chỗ nói áo đen theo lối thổ cẩm vùng cao, chỗ nói áo xanh của Nhạc phủ. Ngày tiệc cũng vậy, nguồn ghi mười hai, mười chín hoặc hai mươi tháng Chín âm lịch. Chúng tôi ghi lại cả mấy cách chứ không chọn một cách làm chuẩn. Điểm các nguồn thống nhất: Chầu Bé là vị hay được thỉnh nhất trong hàng Chầu, và miếu thờ riêng của bà nằm ngay trong khuôn viên đền Bắc Lệ.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất, nhiều người gọi gộp mọi vị Mẫu là Mẫu Liễu Hạnh. Không đúng: Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Thượng Thiên, đứng đầu Thiên phủ, cửa đền gốc ở Phủ Dầy Nam Định; còn Bắc Lệ là cửa đền của Mẫu Thượng Ngàn, đứng đầu Nhạc phủ. Hai vị cùng hệ Tứ Phủ nhưng khác ngôi và khác phủ. Thứ hai, chữ công đồng trong tên đền không phải một danh hiệu thần, mà là cách gọi ban thờ chung của cả hệ thống thần linh; nhiều đền phủ khác cũng có ban công đồng, riêng ở đây chữ ấy đi thẳng vào tên gọi.

Một Ngôi Đền Không Rõ Năm Sinh

Đây là điểm cần nói thẳng ngay từ đầu: năm khởi dựng đền Bắc Lệ chưa có mốc chắc, và các nguồn ghi lệch nhau tới mấy thế kỷ. Tư liệu du lịch của tỉnh Lạng Sơn ghi đền dựng khoảng thế kỷ 16 tới 17. Một số bài khảo tả lại ghi đền hình thành vào cuối thế kỷ 19. Trong khi đó, tấm văn bia mang niên hiệu Khải Định thứ tư, tức năm 1919, chép rằng trước đó nơi này chỉ là một am thờ nhỏ và hay bị hỏa hoạn, nên mới có lần dựng lại năm ấy.

Ba con số ấy không loại trừ nhau hoàn toàn: một am thờ nhỏ có thể có từ rất sớm mà công trình bằng gỗ ngói thì mãi sau mới dựng. Nhưng đúng là chưa có văn bản nào chốt được năm khởi dựng, nên quý vị gặp con số nào cũng nên hỏi con số ấy lấy từ đâu.

  • Thế kỷ 16 tới 17Lớp khởi dựng sớm nhất
    Tư liệu của ngành du lịch Lạng Sơn ghi đền được dựng vào khoảng này. Đây là mốc truyền lại, không có văn bản đương thời làm chứng.
  • 1919Dựng lại theo văn bia
    Văn bia niên hiệu Khải Định thứ tư chép rằng trước đó chỉ là am thờ nhỏ hay bị hỏa hoạn, lần này dựng lại thành ngôi đền ba gian.
  • 1933Trùng tu
    Một trong các đợt tu sửa lớn của nửa đầu thế kỷ 20.
  • 1940Trùng tu
    Tiếp tục tôn tạo, giữ khung kiến trúc đã định hình từ lần dựng lại năm 1919.
  • 1973Tu sửa
    Đợt sửa chữa sau một thời gian dài đền xuống cấp và mất mát nhiều tượng gỗ cùng đồ thờ.
  • 1989Tôn tạo
    Đợt tôn tạo đưa đền về dáng vẻ gần với hiện nay.
  • 1992Di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2018Phục dựng lễ hội
    Lễ hội đền Công Đồng Bắc Lệ với đám rước kiệu sang đền Đèo Kẻng được phục dựng và duy trì từ năm này.

Kiến Trúc Và Tượng Thờ

Đền dựng theo lối hình chữ Đinh, gồm ba gian, diện tích lòng đền khoảng 125 mét vuông. Đây là quy mô nhỏ nếu so với các phủ lớn ở đồng bằng, và cái nhỏ ấy là một phần của ấn tượng: đền không lấy bề thế mà lấy chỗ đứng, một khối nhà thấp nép giữa tán cây già trên đỉnh đồi.

Mái đền

Làm theo kiểu được gọi là long triều lưỡng nghi, hình thức mái mang ý niệm trời đất và âm dương giao hòa.

Mười chín pho tượng gỗ mít

Hệ tượng thờ còn giữ được, tạc bằng gỗ mít, xếp theo thứ bậc của hệ Tứ Phủ từ ban công đồng phía ngoài vào cung cấm phía trong.

Hoành phi câu đối

Các bức chạm trổ công phu treo trong đền, trong đó có bức đề bốn chữ Hưng Tiên Hiền Từ trên ban thờ chính.

Miếu Chầu Bé

Nơi thờ riêng Chầu Bé Bắc Lệ, đặt trong khuôn viên đền, phía bên trái nếu đứng nhìn từ sân vào.

Bố cục bên trong theo lối quen của đền phủ Bắc Bộ: tiền đường, trung cung rồi hậu cung. Ngoài cùng là ban công đồng thờ chung các vị trong hệ Tứ Phủ, trong cùng là cung cấm đặt tượng Mẫu. Màu sắc trong đền không bày tùy hứng: đỏ, vàng, trắng, xanh đều ứng với bốn phủ, và quý vị chỉ cần đọc màu là đọc được thứ tự thần linh mà không phải hỏi ai.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đập vào mắt là đền đặt trên đỉnh một quả đồi chứ không đặt dưới chân. Vùng Hữu Lũng là đất trung du chuyển tiếp lên miền núi, gò đồi nối nhau, và giữa những gò ấy đền chọn đúng một điểm cao vừa phải. Theo phép xem đất, chỗ nhô lên giữa các gò thấp là chỗ khí kết, còn việc không chọn ngọn cao nhất là để tránh thế cô lộ, tức trơ trọi hứng gió bốn mặt. Đền ngồi ở giữa: đủ cao để có thế, đủ thấp để có che.

Thứ hai là rừng làm áo. Đền nằm lọt giữa tán cây cổ thụ khép kín, và trong phép xem đất lớp cây già bao quanh đóng vai lớp che chắn giữ khí, giống như vai trò của tường thành hay dãy núi thấp ở nơi khác. Ở đây cái che ấy không do người dựng mà do rừng. Điều này hợp với chính vị được thờ: một cửa đền của Mẫu Thượng Ngàn mà không có rừng vây quanh thì mất đi cái cốt của nó, và phần lớn sức nặng mà người đi lễ cảm thấy ở Bắc Lệ đến từ chỗ ấy.

Thứ ba là ngũ hành. Nhạc phủ ứng hành Mộc, sắc xanh, cai miền rừng núi. Một ngôi đền thờ vị Mẫu của Nhạc phủ, đặt trên gò đất giữa rừng cây già, ở vùng trung du có núi đá vôi bao quanh, thì theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị, tức thần đứng đúng hành của mình. Cái trùng khớp giữa vị thần, cảnh đất và sắc áo trong giá hầu không phải chuyện tình cờ mà là nguyên tắc chọn chỗ.

Sau cùng là thế mở. Bắc Lệ nằm trên trục đi lên biên giới phía bắc, sát đường sắt và đường bộ, chứ không phải một nơi khuất nẻo. Điều này giải thích vì sao một ngôi đền nhỏ giữa rừng lại thành cửa đền của cả nước: đất có khí mà lại có đường tới, hai thứ ấy cộng lại mới làm nên một nơi hành hương.

Lễ Tiết Trong Năm

Đền có nhịp lễ tiết trải suốt năm chứ không dồn vào một kỳ. Năm dịp dưới đây là các dịp đông người nhất, tính theo âm lịch.

Năm dịp lễ tiết chính trong năm của đền. Nguồn: Theo tư liệu về đền thờ Mẫu Thượng Ngàn Bắc Lệ và bản tin lễ hội của địa phương..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Mùng 1 tới rằm tháng GiêngLễ đầu nămKỳ đông nhất về số người đi lễ, người các tỉnh về xin lộc đầu năm và trình việc cả năm.
Tháng TưLễ vào hèLễ mở đầu mùa nóng, theo lệ cũ là dịp cầu cho một mùa yên ổn.
Tháng BảyLễ ra hèLễ khép lại mùa hè, cặp đôi với lễ vào hè tháng Tư.
18 tới 20 tháng ChínChính hội đền Bắc LệKỳ hội lớn nhất trong năm, chính hội ngày 20. Có đám rước kiệu từ đền Bắc Lệ sang đền Đèo Kẻng rồi rước về, đại tế do chủ tế và ban tế thực hiện với các thủ tục đón thần, dâng hương, dâng hoa, dâng trà.
Tháng ChạpLễ tất niênLễ tạ cuối năm, người đi lễ về trả lễ những việc đã trình từ đầu năm.

Ngoài lịch trên, Bắc Lệ còn một nhịp riêng không nằm trong lịch nào: lệ của giới thanh đồng. Người đã trình đồng mở phủ trong hệ Tứ Phủ, dù ở Hà Nội, Nam Định hay xa hơn nữa, phần lớn đều giữ lệ ít nhất một lần về Bắc Lệ để hầu. Nhiều người coi đây là cửa đền phải qua khi bắt đầu con đường ấy, và cũng là nơi về hầu vào các kỳ trọng trong năm. Vì thế quanh năm ở đền vẫn có các buổi hầu đồng nối nhau, đông nhất vào tháng Giêng và tháng Chín.

Theo sử liệu

Nhìn ở góc nhân học, một buổi hầu đồng là chỉnh thể gồm âm nhạc, khăn áo, vũ đạo, ngôn ngữ nghi lễ và quan hệ cộng đồng, tiến hành theo trình tự đã quy ước qua nhiều đời. Chính tính chỉnh thể ấy là lý do UNESCO ghi danh thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016, và đền Bắc Lệ là một trong những nơi thực hành ấy diễn ra dày đặc nhất. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng cũ, tỉnh Lạng Sơn
Đường tới
Nằm ở xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng cũ, tỉnh Lạng Sơn, bên trục đường bộ và đường sắt đi lên phía bắc. Đền dựng trên đồi nên đoạn cuối phải leo bậc đá.
Toạ độ
21.6197, 106.4275
Khi tới nơi

Đền đang thờ tự và rất đông vào tháng Giêng cùng kỳ hội tháng Chín, nên lệ nhà cần giữ. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung, không chen ở cửa cung cấm, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Gặp buổi hầu đang diễn ra, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu, không đi cắt ngang giữa thanh đồng và ban thờ, không chiếu đèn máy ảnh vào mặt người đang hầu.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Bắc Lệ thờ ai

Ngôi chính thờ Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu đứng đầu Nhạc phủ cai quản rừng núi trong hệ Tứ Phủ. Cùng thờ trong đền là Chầu Bé Bắc Lệ và các vị thuộc hàng Quan, hàng Chầu, hàng Cô, hàng Cậu. Tên đầy đủ là đền Công Đồng Bắc Lệ, chữ công đồng chỉ cả tập hợp thần linh cùng ngự.

Đền Bắc Lệ có từ năm nào

Chưa có mốc chắc và các nguồn ghi lệch nhau. Tư liệu du lịch Lạng Sơn ghi khoảng thế kỷ 16 tới 17, một số bài khảo tả ghi cuối thế kỷ 19, còn văn bia niên hiệu Khải Định thứ tư năm 1919 chép rằng trước đó chỉ là am thờ nhỏ hay bị hỏa hoạn nên mới dựng lại. Đền được xếp hạng di tích quốc gia năm 1992.

Chầu Bé Bắc Lệ là ai

Vị thánh nữ gắn với chính vùng đất này, có miếu thờ riêng trong khuôn viên đền. Nguồn vênh nhau: có nguồn xếp bà là vị thứ mười một trong hàng mười hai Chầu Bà và là người dân tộc Nùng sinh tại Bắc Lệ, nguồn khác kể bà là con gái của Mẫu Thượng Ngàn hoặc một hóa thân của chính Mẫu.

Mẫu Thượng Ngàn khác Mẫu Liễu Hạnh chỗ nào

Cùng hệ Tứ Phủ nhưng khác ngôi và khác phủ. Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Thượng Thiên đứng đầu Thiên phủ, sắc đỏ, cửa đền gốc ở Phủ Dầy Nam Định. Mẫu Thượng Ngàn đứng đầu Nhạc phủ, cai miền rừng núi, sắc xanh, và Bắc Lệ là cửa đền trọng nhất của vị này.

Lễ hội đền Bắc Lệ vào ngày nào

Chính hội ngày 20 tháng Chín âm lịch, hội mở từ ngày 18. Có đám rước kiệu từ đền Bắc Lệ sang đền Đèo Kẻng rồi rước về, cùng lễ đại tế với các thủ tục đón thần, dâng hương, dâng hoa, dâng trà. Ngoài kỳ này đền còn lễ đầu năm, lễ vào hè tháng Tư, lễ ra hè tháng Bảy và lễ tất niên tháng Chạp.

Đọc Tiếp