Xe rời quốc lộ, men theo con đường nhỏ dọc đường sắt, rồi quý vị leo mấy chục bậc đá lên một quả đồi thấp. Trên đỉnh đồi là mái đền ngói cũ, xung quanh là cây cổ thụ khép tán kín tới mức giữa trưa dưới sân vẫn râm. Trong cung, mười chín pho tượng gỗ mít ngồi im trong khói nhang, phía trên là những tấm hoành phi chạm nổi đã ngả màu.
Chỗ này không phải một ngôi đền làng. Đây là cửa đền, tiếng nhà nghề chỉ những nơi thờ mà giới thanh đồng coi là trọng, phải về trình, phải về hầu. Trong hệ Tứ Phủ, Bắc Lệ là một trong những cửa đền lớn của Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản miền rừng núi.

IMẫu Thượng Ngàn Và Chầu Bé
Tên đầy đủ của nơi này là đền Công Đồng Bắc Lệ, tên chữ trong một số tư liệu tôn giáo là Bắc Lệ Linh Từ. Chữ công đồng 公同 chỉ cả một tập hợp thần linh cùng ngự chứ không phải một vị riêng lẻ, trong đó đền thờ Mẫu Thượng Ngàn ở ngôi chính, cùng với hàng Quan, hàng Chầu, hàng Cô, hàng Cậu của hệ Tứ Phủ. Ai bước vào đây mà chỉ tìm một pho tượng để lễ thì sẽ thấy bối rối, vì lối bài trí ở đây là lối bài trí của cả một triều thần.
Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, vũ trụ chia làm bốn phủ, mỗi phủ một vị Mẫu và một sắc áo gồm Thiên phủ miền trời sắc đỏ, Địa phủ miền đất sắc vàng, Thoải phủ miền sông nước sắc trắng và Nhạc phủ miền rừng núi sắc xanh. Mẫu Thượng Ngàn là vị đứng đầu Nhạc phủ, cai quản rừng, núi, cây cối và muông thú, cũng là vị được cho là dạy người miền núi cách phát nương, giữ rừng và làm ăn với đất dốc. Dưới các Mẫu là hàng Quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu, mỗi vị mang một phủ, một sắc áo và một bản văn riêng. Điều người theo tín ngưỡng này trông đợi là sự che chở trong đời sống đang diễn ra chứ không phải một cõi khác sau khi chết.
Chầu Bé Bắc Lệ là vị gắn chặt nhất với chính mảnh đất này, và cũng là vị mà các nguồn ghi khác nhau nhiều nhất. Có nguồn xếp bà là vị thứ mười một hoặc mười hai trong hàng Thập Nhị Chầu Bà của Tứ Phủ, người dân tộc Nùng sinh tại vùng Bắc Lệ, trong khi nguồn khác lại kể bà là con gái của Mẫu Thượng Ngàn, hoặc coi bà là một hóa thân của chính Mẫu. Ngay khăn áo trong giá hầu cũng được ghi hai đằng, chỗ nói áo đen theo lối thổ cẩm vùng cao, chỗ nói áo xanh của Nhạc phủ. Ngày tiệc cũng vậy, nguồn ghi mười hai, mười chín hoặc hai mươi tháng Chín âm lịch. Thư viện ghi lại cả mấy cách chứ không chọn một cách làm chuẩn. Điểm các nguồn thống nhất là Chầu Bé rất hay được thỉnh trong hàng Chầu, và miếu thờ riêng của bà nằm ngay trong khuôn viên đền Bắc Lệ.
Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất, nhiều người gọi gộp mọi vị Mẫu là Mẫu Liễu Hạnh. Điều đó không đúng vì Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Thượng Thiên, đứng đầu Thiên phủ, cửa đền gốc ở Phủ Dầy Nam Định, còn Bắc Lệ là cửa đền của Mẫu Thượng Ngàn, đứng đầu Nhạc phủ. Hai vị cùng hệ Tứ Phủ nhưng khác ngôi và khác phủ. Thứ hai, chữ công đồng trong tên đền không phải một danh hiệu thần, mà là cách gọi ban thờ chung của cả hệ thống thần linh, nhiều đền phủ khác cũng có ban công đồng nhưng riêng ở đây chữ ấy đi thẳng vào tên gọi.
IIMột Ngôi Đền Không Rõ Năm Sinh
Điểm cần nói thẳng ngay từ đầu là năm khởi dựng đền Bắc Lệ chưa có mốc chắc, và các nguồn ghi lệch nhau tới mấy thế kỷ. Tư liệu du lịch của tỉnh Lạng Sơn ghi đền dựng khoảng thế kỷ 16 tới 17. Một số bài khảo tả của Ban Tôn giáo Chính phủ lại ghi đền hình thành vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong khi đó, tấm văn bia mang niên hiệu Khải Định thứ tư, tức năm 1919, chép rằng trước đó nơi này chỉ là một am thờ nhỏ bằng tranh tre nứa lá và ba lần bị hỏa hoạn, nên mới có lần dựng lại năm ấy.
Ba con số ấy không loại trừ nhau hoàn toàn, bởi một am thờ nhỏ có thể có từ rất sớm mà công trình bằng gỗ ngói thì mãi sau mới dựng. Nhưng đúng là chưa có văn bản nào chốt được năm khởi dựng, nên quý vị gặp con số nào cũng nên hỏi con số ấy lấy từ đâu.
- Thế kỷ 16 tới 17Lớp khởi dựng sớm nhấtTư liệu của ngành du lịch Lạng Sơn ghi đền được dựng vào khoảng này, trong khi bài giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Đây là các mốc truyền lại, chưa có văn bản đương thời làm chứng.
- 1919Dựng lại theo văn biaVăn bia niên hiệu Khải Định thứ tư chép rằng trước đó chỉ là am thờ nhỏ ba lần bị hỏa hoạn, lần này dựng lại thành ngôi đền ba gian.
- 1933Trùng tuMột trong các đợt tu sửa lớn của nửa đầu thế kỷ 20.
- 1940Trùng tuTiếp tục tôn tạo, giữ khung kiến trúc đã định hình từ lần dựng lại năm 1919.
- 1973Tu sửaĐợt sửa chữa sau một thời gian dài đền xuống cấp và mất mát nhiều tượng gỗ cùng đồ thờ.
- 1989 tới 1990Tôn tạoĐợt tôn tạo lớn đưa đền về dáng vẻ gần với hiện nay, tư liệu du lịch tỉnh ghi năm 1989 còn bài giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi năm 1990.
- 1992Di tích cấp tỉnhĐền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 535/1992/UB-QĐ ngày 25 tháng 10 năm 1992 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (một số nguồn ghi nhầm là cấp quốc gia, đến năm 2025 tỉnh mới lập hồ sơ đề nghị nâng hạng cấp quốc gia).
- 2018 và 2023Phục dựng lễ hội và ghi danh di sản quốc giaLễ hội đền Công Đồng Bắc Lệ với đám rước kiệu sang đền Đèo Kẻng được phục dựng từ năm 2018, rồi ngày 14 tháng 2 năm 2023 được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 230/QĐ-BVHTTDL.
IIIKiến Trúc Và Tượng Thờ
Đền dựng theo lối hình chữ Đinh, diện tích lòng đền khoảng 125 mét vuông. Khởi thủy từ lần dựng năm 1919 đền gồm ba gian, tới đợt tôn tạo năm 1990 nhà tiền tế được mở thành năm gian và phía trong chia ba cung. Đây vẫn là quy mô nhỏ nếu so với các phủ lớn ở đồng bằng, và cái nhỏ ấy là một phần của ấn tượng, bởi đền không lấy bề thế mà lấy chỗ đứng, một khối nhà thấp nép giữa tán cây già trên đỉnh đồi.
Làm theo kiểu được gọi là long triều lưỡng nghi, hình thức mái mang ý niệm trời đất và âm dương giao hòa.
Hệ tượng thờ cổ tạc bằng gỗ mít cao từ 0,4 mét tới 1,5 mét, xếp theo thứ bậc của hệ Tứ Phủ từ ban công đồng phía ngoài vào cung cấm phía trong.
Các bức chạm trổ công phu treo trong đền, trong đó có bức đề bốn chữ Hưng Tiên Hiền Từ và bức đề Thánh Cung Vạn Tuế trên ban thờ chính.
Nơi thờ riêng Chầu Bé Bắc Lệ và Cô Bé đặt trong khuôn viên đền, phía bên trái nếu đứng nhìn từ sân vào.
Bố cục bên trong theo lối quen của đền phủ Bắc Bộ gồm đệ nhị cung (tiền đường), trung cung rồi đệ nhất cung (hậu cung). Ngoài cùng là ban công đồng thờ chung Ngũ Vị Tôn Ông và các vị trong hệ Tứ Phủ, cung giữa thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, trong cùng là cung cấm đặt tượng Mẫu Thượng Ngàn cùng Chầu Đệ Nhị và Chầu Bé. Màu sắc trong đền không bày tùy hứng mà đỏ, vàng, trắng, xanh đều ứng với bốn phủ, nên quý vị chỉ cần đọc màu là đọc được thứ tự thần linh.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên đập vào mắt là đền đặt trên đỉnh một quả đồi chứ không đặt dưới chân. Vùng Hữu Lũng là đất trung du chuyển tiếp lên miền núi, gò đồi nối nhau, và giữa những gò ấy đền chọn đúng một điểm cao vừa phải. Theo phép xem đất, chỗ nhô lên giữa các gò thấp là chỗ khí kết, còn việc không chọn ngọn cao nhất là để tránh thế cô lộ, tức trơ trọi hứng gió bốn mặt. Đền ngồi ở giữa, đủ cao để có thế và đủ thấp để có che.
Thứ hai là rừng làm áo. Đền nằm lọt giữa tán cây cổ thụ khép kín, và trong phép xem đất lớp cây già bao quanh đóng vai lớp che chắn giữ khí, giống như vai trò của tường thành hay dãy núi thấp ở nơi khác. Ở đây cái che ấy không do người dựng mà do rừng. Điều này hợp với chính vị được thờ, bởi một cửa đền của Mẫu Thượng Ngàn mà không có rừng vây quanh thì mất đi cái cốt của nó, và phần lớn sức nặng mà người đi lễ cảm thấy ở Bắc Lệ đến từ chỗ ấy.
Thứ ba là ngũ hành. Nhạc phủ ứng hành Mộc, sắc xanh, cai miền rừng núi. Một ngôi đền thờ vị Mẫu của Nhạc phủ, đặt trên gò đất giữa rừng cây già, ở vùng trung du có núi đá vôi bao quanh và dòng sông Thương chảy qua thung lũng phía tây bắc, thì theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị, tức thần đứng đúng hành của mình. Cái trùng khớp giữa vị thần, cảnh đất và sắc áo trong giá hầu không phải chuyện tình cờ mà là nguyên tắc chọn chỗ.
Sau cùng là thế mở. Bắc Lệ nằm trên trục đi lên biên giới phía bắc, sát đường sắt và đường bộ, chứ không phải một nơi khuất nẻo. Điều này giải thích vì sao một ngôi đền nhỏ giữa rừng lại thành cửa đền lớn của giới thanh đồng, khi đất có khí mà lại có đường tới, hai thứ ấy cộng lại mới làm nên một nơi hành hương.
VLễ Tiết Trong Năm
Đền có nhịp lễ tiết trải suốt năm chứ không dồn vào một kỳ. Năm dịp dưới đây là các dịp đông người nhất, tính theo âm lịch.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tới rằm tháng Giêng | Lễ đầu năm | Kỳ đông nhất về số người đi lễ, người các tỉnh về xin lộc đầu năm và trình việc cả năm. |
| Tháng Tư | Lễ vào hè | Lễ mở đầu mùa nóng, theo lệ cũ là dịp cầu cho một mùa yên ổn. |
| Tháng Bảy | Lễ ra hè | Lễ khép lại mùa hè, cặp đôi với lễ vào hè tháng Tư. |
| 18 tới 20 tháng Chín | Chính hội đền Bắc Lệ | Kỳ hội lớn nhất trong năm, mở từ ngày 18 tới 20 tháng Chín âm lịch, gồm lễ tắm ngai, lễ chính tiệc và đám rước Mẫu lên đền Đèo Kẻng rồi rước về, đại tế với các thủ tục đón thần, dâng hương, dâng hoa, dâng trà. |
| Tháng Chạp | Lễ tất niên | Lễ tạ cuối năm, người đi lễ về trả lễ những việc đã trình từ đầu năm. |
Ngoài lịch trên, Bắc Lệ còn một nhịp riêng không nằm trong lịch nào là lệ của giới thanh đồng. Người đã trình đồng mở phủ trong hệ Tứ Phủ, dù ở Hà Nội, Nam Định hay xa hơn nữa, phần lớn đều giữ lệ ít nhất một lần về Bắc Lệ để hầu. Nhiều người coi đây là cửa đền phải qua khi bắt đầu con đường ấy, và cũng là nơi về hầu vào các kỳ trọng trong năm. Vì thế quanh năm ở đền vẫn có các buổi hầu đồng nối nhau, đông nhất vào tháng Giêng và tháng Chín.
Nhìn ở góc nhân học, một buổi hầu đồng là chỉnh thể gồm âm nhạc, khăn áo, vũ đạo, ngôn ngữ nghi lễ và quan hệ cộng đồng, tiến hành theo trình tự đã quy ước qua nhiều đời. Chính tính chỉnh thể ấy là lý do UNESCO ghi danh thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016, và lễ hội đền Bắc Lệ cũng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023 theo Quyết định số 230/QĐ-BVHTTDL. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng cũ, tỉnh Lạng Sơn
- Đường tới
- Nằm trên đồi Bắc Lệ thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng cũ, tỉnh Lạng Sơn, cách ga Bắc Lệ khoảng 500 mét bên trục đường bộ và đường sắt đi lên phía bắc. Đền dựng trên đồi nên đoạn cuối phải leo bậc đá.
- Toạ độ
- 21.5153, 106.4289
Đền đang thờ tự và rất đông vào tháng Giêng cùng kỳ hội tháng Chín, nên lệ nhà cần giữ. Vài điều thường được nhắc gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung, không chen ở cửa cung cấm, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Gặp buổi hầu đang diễn ra, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu, không đi cắt ngang giữa thanh đồng và ban thờ, không chiếu đèn máy ảnh vào mặt người đang hầu.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Bắc Lệ
Contribute photos, information or video for Bac Le TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bắc Lệ thờ ai
Ngôi chính thờ Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu đứng đầu Nhạc phủ cai quản rừng núi trong hệ Tứ Phủ. Cùng thờ trong đền là Tam Tòa Thánh Mẫu, Chầu Bé Bắc Lệ và các vị thuộc hàng Quan, hàng Chầu, hàng Cô, hàng Cậu. Tên đầy đủ là đền Công Đồng Bắc Lệ (còn gọi Bắc Lệ Linh Từ), chữ công đồng chỉ cả tập hợp thần linh cùng ngự.
Đền Bắc Lệ có từ năm nào
Chưa có mốc chắc và các nguồn ghi lệch nhau. Tư liệu du lịch Lạng Sơn ghi khoảng thế kỷ 16 tới 17, bài giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, còn văn bia niên hiệu Khải Định thứ tư năm 1919 chép rằng trước đó chỉ là am thờ nhỏ ba lần bị hỏa hoạn nên mới dựng lại. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1992 theo Quyết định số 535/1992/UB-QĐ, và lễ hội đền được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023.
Chầu Bé Bắc Lệ là ai
Vị thánh nữ gắn với chính vùng đất này, có miếu thờ riêng trong khuôn viên đền. Nguồn vênh nhau khi có nguồn xếp bà là vị thứ mười một hoặc mười hai trong hàng mười hai Chầu Bà và là người dân tộc Nùng sinh tại Bắc Lệ, nguồn khác kể bà là con gái của Mẫu Thượng Ngàn hoặc một hóa thân của chính Mẫu.
Mẫu Thượng Ngàn khác Mẫu Liễu Hạnh chỗ nào
Cùng hệ Tứ Phủ nhưng khác ngôi và khác phủ. Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Thượng Thiên đứng đầu Thiên phủ, sắc đỏ, cửa đền gốc ở Phủ Dầy Nam Định. Mẫu Thượng Ngàn đứng đầu Nhạc phủ, cai miền rừng núi, sắc xanh, và Bắc Lệ là một trong những cửa đền trọng của vị này.
Lễ hội đền Bắc Lệ vào ngày nào
Hội mở từ ngày 18 tới ngày 20 tháng Chín âm lịch, chính hội ngày 20. Có lễ tắm ngai, đám rước kiệu từ đền Bắc Lệ sang đền Đèo Kẻng rồi rước về, cùng lễ đại tế với các thủ tục đón thần, dâng hương, dâng hoa, dâng trà. Ngoài kỳ này đền còn lễ đầu năm, lễ vào hè tháng Tư, lễ ra hè tháng Bảy và lễ tất niên tháng Chạp.