VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Hùng

雄王廟 · Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Nghĩa Lĩnh

Nơi thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, đầu mối của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở tầm cả nước, với ba ngôi đền xếp theo ba tầng núi và ngày giỗ chung.

Núi Nghĩa Lĩnh
175 m
độ cao so với mặt nước biển
Đường lên đền Thượng
khoảng 495 bậc
225 rồi 168 rồi 102 bậc đá
UNESCO ghi danh
2012
tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Qua khỏi Đại môn, quý vị bắt đầu leo. Hai trăm hai mươi lăm bậc đá đưa lên đền Hạ, một trăm sáu mươi tám bậc nữa lên đền Trung, một trăm linh hai bậc sau chót lên đền Thượng ở đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, cao 175 mét so với mặt nước biển. Càng lên cao rừng càng dày, tiếng người dưới chân núi tắt dần, và ba ngôi đền hiện ra lần lượt như ba chặng của một việc phải làm cho hết.

Đây không phải một ngôi đền lớn. Đây là một quả núi được xếp thành nơi thờ, mỗi tầng núi một lớp nghĩa. Điều làm nơi này khác mọi nơi thờ tự khác trong thư viện này nằm ở chỗ nó không thờ tổ tiên của một dòng họ hay một làng, mà thờ tổ tiên chung, thứ mà người Việt gọi gọn trong hai chữ Đất Tổ. Ngày giỗ ở đây cũng vì thế mà không phải giỗ của một nhà.

Đền Hùng
Đền Hùng. Ảnh: Thang Nguyen from Nottingham, United Kingdom, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

Các Vua Hùng Được Thờ

Đối tượng thờ ở đây là các Vua Hùng, những người được truyền tụng đã dựng nước Văn Lang và đóng đô ở vùng đất Phong Châu, tức khu vực Việt Trì và phụ cận ngày nay. Cùng thờ trong khu di tích còn có Quốc Tổ Lạc Long Quân, Tổ Mẫu Âu Cơ, hai vị công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, cùng các tướng lĩnh thời Hùng Vương được thờ rải rác trong vùng.

Theo giáo nghĩa

Trong cách nghĩ của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người chết không mất đi mà chuyển sang một trạng thái khác và vẫn dự phần vào đời sống con cháu. Cúng giỗ là cách giữ mối liên hệ ấy. Điều riêng ở Đền Hùng là mối liên hệ ấy được kéo giãn ra khỏi phạm vi một gia đình: người đến đây không nhận mình là con cháu của một người có tên trên gia phả, mà nhận mình thuộc về một nguồn chung. Câu uống nước nhớ nguồn và cách người Việt gọi nhau là đồng bào, tức cùng một bọc, đều nằm trong mạch nghĩ ấy. Bàn thờ ở đây vì thế là một bàn thờ gia tiên phóng lớn tới cỡ cả nước.

Theo sử liệu

Về phần khảo được, tên Hùng Vương và nước Văn Lang xuất hiện trong thư tịch tương đối muộn. Các bản chép sớm còn lại thuộc thế kỷ 14 và 15, gồm Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quáiĐại Việt sử lược; tới Đại Việt sử ký toàn thư hoàn thành năm 1479, họ Hồng Bàng và các Vua Hùng được xếp vào phần Ngoại kỷ, tức phần mà chính sử cũ đã coi là chưa thể khảo cứu chắc chắn. Ở hướng khảo cổ, các nền văn hóa nối nhau trên lưu vực sông Hồng là Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun rồi Đông Sơn cho thấy một tiến trình xã hội có thật, đủ lâu để sinh ra một hình thức nhà nước sơ khai. Hai mạch ấy không trùng khít: truyền thuyết cho một cái tên, khảo cổ cho một tiến trình, và chỗ nối giữa chúng vẫn còn được bàn.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất là con số mười tám đời Hùng Vương. Nhiều người hiểu thành mười tám ông vua nối nhau. Đem con số ấy đặt cạnh khung niên đại quen được nhắc trong truyền tụng, từ năm 2879 tới năm 258 trước Công nguyên, tức khoảng 2622 năm, thì mỗi đời phải kéo dài trung bình gần 146 năm, một con số không đứng vững được. Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu hiểu chữ đời ở đây theo nghĩa chi hay ngành, mỗi chi gồm nhiều người nối nhau, chứ không phải một cá nhân. Cũng cần nói thêm rằng bản thân con số mười tám mang tính ước lệ trong văn hóa cổ phương Đông, gặp lại ở nhiều truyền thuyết khác. Nói gọn: mười tám là một cách nói về sự nối dài, không phải một phép đếm.

Từ Miếu Trên Núi Đến Khu Di Tích

Các công trình trên núi Nghĩa Lĩnh không dựng cùng một lúc. Lớp cũ nhất còn thấy được thuộc khoảng thế kỷ 17 và 18; lớp trùng tu lớn thuộc đầu thế kỷ 20; và một số hạng mục lớn dưới chân núi chỉ mới hoàn thành trong hai mươi năm gần đây.

  • Thế kỷ 17 đến 18Đền Hạ và đền Giếng
    Theo hồ sơ di tích, đền Hạ được xây dựng lại trong khoảng thế kỷ 17 tới 18 theo lối chữ nhị, còn đền Giếng, tên chữ là Ngọc Tỉnh, được dựng trong thế kỷ 18 theo lối chữ Công.
  • 1917Ấn định ngày giỗ Tổ và dựng Đại môn
    Tấm bia ở đền Thượng do Bùi Ngọc Hoàn soạn ghi năm Khải Định thứ hai, tức 1917, Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mùng mười tháng Ba làm ngày quốc tế hằng năm. Cùng năm, Đại môn dưới chân núi được dựng, cao 8,5 mét, hai tầng tám mái.
  • 1917 đến 1922Đợt trùng tu lớn
    Đường bậc đá lên núi được làm lại. Các tư liệu ghi số bậc khác nhau, chi tiết nêu ở mục kiến trúc.
  • 1968Tôn tạo cột đá thề
    Cột đá thề trước đền Thượng được tôn tạo, hình vuông, cao 1,3 mét, rộng 0,3 mét, gắn với truyền tụng về lời thề của Thục Phán trước các Vua Hùng.
  • 2004Đền Tổ Mẫu Âu Cơ
    Khởi dựng năm 2001, khánh thành tháng 12 năm 2004, đặt trên núi Vặn, có 553 bậc đá dẫn lên đền.
  • 2009Đền Lạc Long Quân và xếp hạng đặc biệt
    Đền Lạc Long Quân khởi công năm 2007, khánh thành năm 2009, khuôn viên 13,79 hecta. Cùng năm, di tích lịch sử Đền Hùng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1272 ký ngày 12 tháng 8.
  • 2012UNESCO ghi danh
    Ngày 6 tháng 12 năm 2012, tại kỳ họp thứ bảy của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể họp ở Paris, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, với 24 trên 24 phiếu.
Theo sử liệu

Cần phân biệt hai thứ hay bị gộp làm một. Thứ nhất là khu di tích, tức các đền, lăng, chùa trên và quanh núi Nghĩa Lĩnh, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2009. Thứ hai là tín ngưỡng, tức tập quán thờ cúng Hùng Vương của cộng đồng, thứ được UNESCO ghi danh năm 2012; điều được ghi danh là tập quán thực hành, không phải công trình kiến trúc. Theo số liệu công bố nhân dịp mười năm ghi danh, cả nước có 1.417 di tích thờ Hùng Vương và các nhân vật thời Hùng Vương, riêng Phú Thọ có 345 di tích.

Ba Đền, Lăng Và Đền Giếng

Bố cục ở đây là bố cục theo chiều dựng chứ không theo chiều nằm. Đền miếu đồng bằng thường dàn theo một trục ngang từ tam quan vào hậu cung; ở Nghĩa Lĩnh, trục ấy dựng đứng lên theo sườn núi, mỗi chặng nghỉ là một ngôi đền. Người đi lễ không đi vào mà đi lên, và độ mệt của chân thành một phần của lễ.

Đền Hạ

Chặng thứ nhất, xây dựng lại khoảng thế kỷ 17 tới 18, kiến trúc kiểu chữ nhị gồm tiền bái và hậu cung. Truyền tụng gắn nơi này với chuyện Mẫu Âu Cơ sinh bọc trăm trứng. Ngay cạnh là chùa Thiên Quang, dựng theo lối nội công ngoại quốc, có hai tháp sư bốn tầng.

Đền Trung

Tên chữ là Hùng Vương Tổ miếu. Nhà ba gian hình chữ nhất, dài 7,2 mét, rộng 3,7 mét, quay hướng nam. Truyền tụng cho đây là nơi các Vua Hùng cùng Lạc hầu Lạc tướng bàn việc nước, và là nơi Lang Liêu dâng bánh chưng bánh dày.

Đền Thượng

Trên đỉnh núi, gồm nghi môn, nhà chuông trống, tiền tế, đại bái và hậu cung. Các tài liệu di tích ghi tên chữ của đền là Kính Thiên lĩnh điện, tức điện thờ trời trên đỉnh núi. Đây là nơi cử hành nghi lễ trọng nhất trong ngày giỗ Tổ. Trước đền là cột đá thề.

Lăng Hùng Vương

Nằm ngay dưới đền Thượng, mặt bằng hình vuông, mái kiểu bát giác, trang trí hình rồng. Tương truyền là mộ của vua Hùng thứ sáu. Hạng mục này nối lễ thờ thần với lễ tảo mộ của tục thờ tổ tiên.

Đền Giếng

Tên chữ là Ngọc Tỉnh, dựng thế kỷ 18, kiểu chữ Công với nhà tiền bái và hậu cung mỗi phần ba gian, ở sườn đông nam chân núi. Thờ hai vị công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. Trong đền có giếng nước mà truyền tụng cho là nơi hai bà soi gương chải tóc.

Đền Tổ Mẫu Âu Cơ và đền Lạc Long Quân

Hai công trình mới, hoàn thành năm 2004 và năm 2009, đặt tách khỏi núi Nghĩa Lĩnh. Việc dựng thêm hai đền này đưa cặp Lạc Long Quân và Âu Cơ vào cùng quần thể với các Vua Hùng, khép kín mạch truyền thuyết về nguồn gốc.

Theo sử liệu

Về số bậc đá, các nguồn ghi vênh nhau và xin nói rõ ngay để quý vị khỏi nhầm. Cách kể phổ biến chia làm ba chặng: từ Đại môn lên đền Hạ 225 bậc, từ đền Hạ lên đền Trung 168 bậc, từ đền Trung lên đền Thượng 102 bậc, cộng lại khoảng 495 bậc. Nhưng tư liệu về đợt trùng tu những năm 1917 tới 1922 lại nhắc tới con số 539 bậc được xây bằng tiền cung tiến. Hai con số này không khớp, và chúng tôi chưa tra được tài liệu nào giải thích dứt điểm phần chênh. Quý vị nên coi con số 495 là con số hay được dùng nhất chứ không phải con số duy nhất.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay ngọc phả. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là chỗ đứng của quả núi. Nghĩa Lĩnh cao 175 mét, không phải núi lớn, nhưng nó nằm ở rìa vùng trung du, chỗ đồi gò cuối cùng trước khi đất đổ hẳn xuống đồng bằng. Trong phép xem đất, một điểm cao đứng lẻ ở nơi giao giữa hai dạng địa hình được coi là chỗ khí dừng lại: vừa có gốc để nối vào mạch, vừa có tầm nhìn thoáng ra phía trước.

Kế đến là nước. Không xa chân núi là chỗ ba dòng lớn gặp nhau: sông Hồng, sông Lô và sông Đà hợp lưu ở khu vực Việt Trì. Theo lối nhìn cổ truyền, nơi nhiều dòng nước tụ về là nơi khí tụ, và một điểm cao trông xuống chỗ hợp lưu ấy có đủ cả hai vế của công thức quen thuộc: sau lưng có mạch núi trung du làm chỗ tựa, trước mặt có nước lớn làm minh đường. Đây là thế tựa sơn hướng thủy ở dạng đầy đủ, khác hẳn các đền miếu giữa đồng bằng vốn phải mượn mặt hồ thay cho núi.

Thứ ba là cách xếp tầng. Ba đền Hạ, Trung, Thượng nằm trên ba cao độ của cùng một mạch núi, và đền Thượng chiếm đúng đỉnh. Trong phong thủy, đặt nơi thờ trọng nhất ở điểm cao nhất của mạch là đặt vào huyệt đỉnh, chỗ khí lên tới hết mà chưa tán. Việc lăng mộ nằm ngay dưới đền Thượng cũng đáng chú ý: dương trạch và âm trạch xếp chồng trên một trục, phần thờ ở trên, phần mộ ở dưới, cùng chung một thế đất. Cách bố trí này hiếm gặp, và nó khớp với chức năng của nơi này là nơi cúng tổ tiên chứ không đơn thuần là nơi thờ thần.

Sau cùng là hướng. Đền Trung quay hướng nam, và trục chính của cả cụm cũng nghiêng về hướng nam, hướng mà đền miếu Bắc Bộ chuộng nhất vì đón sáng và tránh gió lạnh mùa đông. Ở đây hướng nam còn thêm một lớp nghĩa: nam là hướng đồng bằng trải ra, tức hướng mà theo truyền tụng, con cháu đã đi xuống để mở đất. Nơi thờ tổ quay mặt về phía con cháu chứ không quay lưng lại.

Giỗ Tổ Mùng Mười Tháng Ba

Ngày giỗ Tổ là mùng mười tháng Ba âm lịch. Đây là ngày trọng nhất trong năm ở Đền Hùng, nhưng bản thân ngày này có một lai lịch cụ thể chứ không phải một ngày có từ vô cùng.

Theo sử liệu

Theo tấm bia do Bùi Ngọc Hoàn soạn đặt ở đền Thượng, năm Khải Định thứ hai, tức năm 1917, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mùng mười tháng Ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức ngày lễ chung, để quan chức thay mặt triều đình lên đền cúng tế. Trước đó, các làng quanh vùng vẫn tự chọn ngày cúng riêng; tư liệu ghi lệ cũ của dân sở tại là cúng vào ngày mười một tháng Ba. Nói cách khác, việc thờ cúng ở đây có trước rất lâu, còn ngày mùng mười tháng Ba là một sự thống nhất về lịch, được đặt ra để cả nước cùng giỗ vào một ngày.

Các nghi thức chính trong kỳ giỗ Tổ. Nguồn: Hồ sơ di tích và các bản tin về lễ hội Đền Hùng..
Thời điểmNghi thứcNội dung
Trước ngày chínhRước kiệu của các xã quanh vùngCác đoàn rước từ những làng có đền thờ Hùng Vương trong vùng tiến về chân núi Nghĩa Lĩnh.
Mùng 10 tháng 3, buổi sángLễ dâng hương tại đền ThượngNghi lễ trọng nhất, cử hành ở đền trên đỉnh núi, có đọc chúc văn.
Mùng 10 tháng 3Dâng lễ vật cổ truyềnBánh chưng và bánh dày là lễ vật gắn với truyền tụng về Lang Liêu, được dâng lên trong ngày giỗ.
Trong kỳ hộiHát xoan và diễn xướng dân gianHát xoan Phú Thọ được trình diễn tại các đền trong vùng, cùng nhiều trò diễn và trò chơi cổ truyền.
Quanh nămLễ ở các đền thờ Hùng Vương khácTập quán thờ cúng không chỉ diễn ra ở Nghĩa Lĩnh mà ở hàng trăm di tích khác trong tỉnh và cả nước.

Một điểm đáng để ý: giỗ Tổ không phải lễ khép trong khuôn viên di tích. Vào mùng mười tháng Ba, ở rất nhiều làng có đền thờ Hùng Vương và ở nhiều gia đình, người ta cũng làm lễ. Chính mạng lưới rộng ấy, chứ không riêng một ngôi đền, mới là thứ được ghi danh năm 2012.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đường tới
Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm Việt Trì chừng mười cây số. Từ bãi xe dưới chân núi phải đi bộ theo đường bậc đá lên các đền.
Toạ độ
21.3711, 105.3236
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và cũng là một quả núi phải leo, nên lệ ở đây có hai phần. Về lễ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào hiện vật và bia đá, đặt tiền vào hòm công đức. Về đường: đi giày bám chắc và nghỉ ở các chiếu nghỉ giữa chặng. Ngày mùng mười tháng Ba người rất đông, đường bậc phân luồng một chiều lên một chiều xuống, xin quý vị theo hướng dẫn tại chỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Hùng thờ ai

Thờ các Vua Hùng, những người được truyền tụng đã dựng nước Văn Lang. Trong quần thể còn thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân, Tổ Mẫu Âu Cơ và hai vị công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa ở đền Giếng. Đây là nơi thờ tổ tiên chung chứ không phải nơi thờ tổ tiên của một dòng họ hay một làng.

Mười tám đời Hùng Vương nghĩa là mười tám ông vua phải không

Không hẳn. Nếu hiểu là mười tám người nối nhau trong khoảng 2622 năm theo khung niên đại truyền tụng thì mỗi đời phải dài gần 146 năm, con số không đứng vững. Nhiều nhà nghiên cứu hiểu chữ đời ở đây là chi hay ngành, mỗi chi gồm nhiều người, và con số mười tám mang tính ước lệ.

Lên đền Thượng phải leo bao nhiêu bậc

Cách kể phổ biến là 225 bậc từ Đại môn lên đền Hạ, 168 bậc lên đền Trung, 102 bậc lên đền Thượng, cộng khoảng 495 bậc. Xin lưu ý các nguồn ghi khác nhau: tư liệu về đợt trùng tu những năm 1917 tới 1922 nhắc tới con số 539 bậc, và phần chênh chưa có lời giải dứt điểm.

UNESCO ghi danh điều gì và vào năm nào

Ngày 6 tháng 12 năm 2012, tại kỳ họp thứ bảy của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể họp ở Paris, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán thờ cúng, không phải công trình kiến trúc.

Vì sao giỗ Tổ lại rơi vào mùng mười tháng Ba

Theo tấm bia ở đền Thượng, năm 1917 Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc xin Bộ Lễ ấn định ngày mùng mười tháng Ba hằng năm làm ngày lễ chung. Trước đó các làng tự chọn ngày riêng, lệ cũ của dân sở tại là cúng ngày mười một tháng Ba. Việc thờ cúng có trước rất lâu, chỉ ngày lễ chung là được thống nhất từ năm ấy.

Đọc Tiếp