Từ thành phố Vinh đi về phía tây chừng vài cây số, quý vị gặp một khuôn viên đền rộng nằm trên dải đất thấp kề mặt nước. Ngoài cùng là tam quan, sau tam quan là bức tắc môn chắn tầm nhìn thẳng vào điện, rồi tới đài trung thiên, lầu cô và lầu cậu đứng hai bên. Trong ba tòa điện phía trong, cột kèo chạm long lân quy phụng theo lối thời Nguyễn, khói nhang đặc và tiếng đàn nguyệt vọng ra từ một chiếu hầu nào đó.
Người xứ Nghệ gọi nơi này bằng cái tên chữ là Mỏ Hạc Linh Từ, nghĩa là ngôi đền thiêng ở chỗ đất hình mỏ con hạc. Còn giới thanh đồng cả miền Trung thì gọi ngắn gọn: cửa đền Ông Mười.
壹Quan Hoàng Mười Là Vị Nào
Tên gọi Mỏ Hạc Linh Từ ghép chữ Nôm với chữ Hán: mỏ hạc tả thế đất, còn linh từ 靈祠 là chữ Hán chỉ ngôi đền thiêng. Cách đặt tên ấy cho thấy nơi này được nhớ trước hết bằng chỗ đất nó đứng, sau mới tới vị được thờ.
Trong hệ Tứ Phủ, dưới hàng các Mẫu và hàng Ngũ Vị Tôn Quan là hàng Thập Vị Quan Hoàng, tức mười vị Ông Hoàng, mỗi vị mang một phủ và một sắc áo riêng. Các vị này được coi là những đấng vừa có phần thiên giới vừa có phần trần thế, thường gắn với một vùng đất cụ thể và một lớp công trạng cụ thể. Quan Hoàng Mười đứng cuối hàng ấy về thứ tự nhưng lại là một trong hai vị hay ngự đồng nhất, cùng với Quan Hoàng Bảy. Khăn áo của ngài trong giá hầu là sắc vàng, và điều người ta thường trình lên ngài là chuyện học hành, thi cử, công danh, chữ nghĩa. Vì thế cửa đền này quanh năm đông người trẻ và học trò, khác hẳn nhiều cửa đền khác trong cùng hệ.
Thân thế trần thế của Quan Hoàng Mười là chỗ các nguồn vênh nhau rõ nhất, và cần nói ngay rằng đây là những thuyết khác nhau chứ không phải các mảnh của một câu chuyện.
Thuyết Lê Khôi. Nhà nghiên cứu địa phương Hoàng Hùng lập luận Quan Hoàng Mười chính là Lê Khôi, một danh tướng trong họ Lê Lợi thời Lê sơ, từng trấn giữ đất Nghệ An và mất ở vùng Nam Giới, tức phía nam Hà Tĩnh ngày nay, cách Hưng Nguyên không xa. Ông dẫn các bản văn hát về Hoàng Mười có chi tiết trùng với tiểu sử Lê Khôi, trong đó có việc đánh Chiêm Thành và chi tiết đối phương nhận ra ngài qua chức Tư Mã.
Thuyết Nguyễn Xí. Hướng này đồng nhất ngài với Nguyễn Xí, khai quốc công thần quê Nghi Lộc, người phò tá bốn đời vua Lê và có công khuyến nông ở xứ Nghệ. Lý lẽ chính là niên đại: đền được ghi dựng năm 1634, tương đối gần với thời của Nguyễn Xí, và vùng thờ trùng với vùng ngài cai quản.
Hai thuyết khác. Có nguồn kể ngài là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con vua Lý Công Uẩn, người từng coi châu Nghệ An. Có nguồn lại ghi tên ngài là Nguyễn Duy Lạc, một vị quan văn võ toàn tài trấn nhậm đất này. Bên cạnh đó, lớp truyền tụng của chính tín ngưỡng kể ngài là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình giáng trần, theo khởi nghĩa Lam Sơn rồi hóa.
Không thuyết nào trong số trên được coi là đã chứng minh. Điều các nguồn thống nhất chỉ có hai điểm: ngài là một vị tướng hoặc quan cai trị gắn với xứ Nghệ, và ngài được dân nhớ vì thương người nghèo. Quý vị xin giữ cả mấy thuyết chứ đừng lấy một thuyết làm kết luận.
Chỗ hay nhầm: nhiều người tưởng chỉ có một nơi thờ Quan Hoàng Mười. Thực ra ngoài đền này ở Nghệ An còn có đền Củi bên kia sông thuộc Hà Tĩnh cũng thờ ngài và cũng rất đông người về hầu. Hai nơi không tranh nhau: đền ở Hưng Nguyên được coi là đền chính gắn với vùng ngài trấn nhậm, đền Củi là một cửa đền lớn khác trên cùng dòng sông. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi cả hai trong một chuyến.
貳Bốn Thế Kỷ Bên Dòng Sông
Tư liệu di tích ghi đền được dựng năm 1634, thời Hậu Lê. Từ đó tới nay đền qua nhiều lần hư hỏng và dựng lại, nhưng lớp hiện vật quý nhất là hệ thống hai mươi mốt đạo sắc phong của các triều đại thì còn giữ được, cùng bản thần tích chữ Hán và hệ tượng pháp.
- 1634Dựng đềnTheo tư liệu di tích, đền được dựng vào năm này, thời Hậu Lê, trên dải đất được gọi là hình mỏ hạc ở làng Xuân Am.
- Thế kỷ 18 tới 19Các đợt sắc phongĐền nhận sắc phong qua nhiều triều đại; tới nay còn giữ được hai mươi mốt đạo cùng bản thần tích viết bằng chữ Hán.
- 1995Tái thiếtSau một thời gian dài xuống cấp, đền được tái thiết theo quy mô và kiểu thức truyền thống. Phần lớn công trình hôm nay có từ đợt này.
- 2002Di tích cấp tỉnhĐền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh của Nghệ An.
- 2019Di sản phi vật thể quốc giaLễ hội đền Ông Hoàng Mười được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Một lưu ý về địa danh. Đền nằm ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh thuộc huyện Hưng Nguyên cũ. Sau các đợt sắp xếp đơn vị hành chính, xã Hưng Thịnh cũ đã nhập vào xã Thịnh Mỹ cuối năm 2024, rồi từ giữa năm 2025 thuộc về xã Hưng Nguyên của tỉnh Nghệ An. Quý vị tra cứu tư liệu cũ sẽ gặp cả ba tên gọi, và cả ba đều chỉ cùng một chỗ.
參Bố Cục Và Kiểu Thức
Khuôn viên đền rộng khoảng 10.615 mét vuông, dàn theo một trục dọc quen thuộc của đền miếu miền Trung. Kiểu thức chạm khắc theo lối thời Nguyễn, hệ gỗ chạm long, lân, quy, phụng khá dày, không để trống nhiều mảng như lối Lê.
Cổng ba lối mở vào khuôn viên. Ngay sau tam quan là tắc môn, bức bình phong chắn tầm nhìn thẳng từ ngoài vào điện, một lối bố trí quen của đền miếu miền Trung.
Đài đặt giữa sân, nơi dâng hương trước khi vào các tòa điện. Đây là điểm dừng đầu tiên trong trình tự lễ.
Hai nếp nhà nhỏ đứng hai bên sân, thờ hàng Cô và hàng Cậu trong hệ Tứ Phủ.
Thượng điện, trung điện và hạ điện xếp nối nhau theo trục dọc, càng vào trong càng hẹp và tối, theo đúng nhịp dẫn của lối thờ tự cổ.
Điểm đáng chú ý là bố cục này thờ cả hệ Tứ Phủ chứ không chỉ thờ riêng Quan Hoàng Mười. Ngài là vị chủ của cửa đền, nhưng đứng quanh vẫn đủ các hàng Mẫu, Quan, Chầu, Cô, Cậu. Đó là lý do một chiếu hầu ở đây có thể đi qua hàng chục giá chứ không dừng ở một giá Ông Mười.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Cái tên đã nói trước cách đọc. Mỏ Hạc là tên hình thế: dải đất nơi hai dòng nước gặp nhau vươn ra thành một mũi nhọn, nhìn từ trên xuống giống mỏ con hạc. Các nguồn ghi tên hai dòng nước ấy khác nhau, chỗ ghi sông Mộc và sông Vĩnh, chỗ gọi chung là chỗ hợp lưu bên sông Lam; điểm chung là đền đứng đúng vào chỗ hai dòng gặp nhau.
Trong phép xem đất, chỗ hợp lưu là chỗ thủy tụ, và thủy tụ là chỗ khí đọng. Nước đến từ hai hướng rồi gặp nhau thì dòng chậm lại, phù sa lắng xuống, đất bồi thành mũi. Người xưa đọc thế đất ấy là thế lành, và việc đặt một nơi thờ ngay trên mũi đất đó là cách giữ lấy chỗ khí đọng ấy. Cái tên hạc lại thêm một lớp nghĩa: hạc là con vật của cõi tiên, đứng đầu trong bộ tứ linh cầm, thường thấy trên lưng rùa ở các ban thờ.
Xét ngũ hành, vùng này là đất bồi ven sông, tức Thổ được Thủy nuôi. Quan Hoàng Mười là vị được trình những việc thuộc chữ nghĩa và khoa cử, mà Thủy trong phép xem đất vốn ứng với văn, với trí, với đường công danh khoa bảng. Một cửa đền của vị thánh coi việc học đặt ngay chỗ hai dòng nước tụ, theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị.
Sau cùng là chỗ đứng trong vùng. Đền nằm gần thành phố Vinh, tức gần trung tâm dân cư và đường đi lại của cả xứ Nghệ, lại kề dòng sông vốn là mạch giao thông cũ. Đất có khí mà lại có đường tới; hai thứ ấy cộng lại mới làm nên một nơi hành hương lớn chứ không chỉ một ngôi đền đẹp.
伍Lễ Hội Tháng Mười
Kỳ hội lớn nhất trong năm rơi vào tháng Mười âm lịch, gắn với ngày được coi là ngày hóa của Quan Hoàng Mười. Ngoài ra đền còn một kỳ lễ vào tháng Ba.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước chính hội | Lễ khai quang | Nghi thức mở đầu, làm sạch và khai mở không gian thờ tự cho cả kỳ lễ. |
| Trước chính hội | Lễ yết cáo | Trình báo lên các vị được thờ về việc mở hội. |
| 9 tháng Mười | Lễ rước sắc | Rước các đạo sắc phong của đền theo nghi trượng, phần long trọng nhất của kỳ hội. |
| 9 tháng Mười | Lễ rước trên sông | Đám rước bằng thuyền trên dòng sông trước đền, tận dụng đúng thế đất hợp lưu của nơi này. |
| 10 tháng Mười | Lễ đại tế | Lễ tế chính, đúng ngày được coi là ngày hóa của Quan Hoàng Mười. |
| Sau chính hội | Lễ tạ | Lễ khép kỳ hội, đưa mọi thứ về nếp thường ngày. |
| 15 tháng Ba | Kỳ lễ tháng Ba | Kỳ lễ thứ hai trong năm, quy mô gọn hơn hội tháng Mười. |
Suốt kỳ hội và cả những ngày thường trong năm, phần sống động nhất ở đây là các buổi hầu đồng và hát chầu văn. Chầu văn ở cửa đền này mang chất dân ca Nghệ Tĩnh khá rõ trong cách luyến và cách gieo lời, khác với lối chầu văn đồng bằng Bắc Bộ. Giá Ông Hoàng Mười là giá được trông đợi nhất: khăn áo sắc vàng, và phần phát lộc thường kèm chữ, kèm bút, đúng với việc mà người ta trình lên ngài.
Năm 2019, lễ hội đền Ông Hoàng Mười được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trước đó, năm 2002, đền đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Cần phân biệt hai thứ: một bên là công trình kiến trúc được xếp hạng, một bên là tập quán thực hành lễ hội được ghi danh. Việc ghi danh nhắm vào giá trị văn hóa của tập quán, gồm nghi thức, âm nhạc và diễn xướng, chứ không phải một phán xét về niềm tin.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh cũ, nay thuộc xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
- Đường tới
- Nằm ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh thuộc huyện Hưng Nguyên cũ, tỉnh Nghệ An, cách trung tâm thành phố Vinh vài cây số về phía tây. Đền kề mặt nước nên đường vào chạy dọc bờ sông.
- Toạ độ
- 18.6786, 105.6636
Đền đang thờ tự và rất đông vào kỳ hội tháng Mười cùng các tháng đầu năm, nên lệ nhà cần giữ. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa điện, không chen ở cửa cung, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Gặp một chiếu hầu đang diễn ra, xin đứng ngoài phạm vi chiếu, không đi cắt ngang giữa thanh đồng và ban thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Ông Hoàng Mười thờ ai
Chủ của cửa đền là Quan Hoàng Mười, vị đứng cuối hàng Thập Vị Quan Hoàng trong hệ Tứ Phủ, khăn áo sắc vàng, được trình những việc thuộc học hành, thi cử và công danh. Trong đền còn thờ đủ các hàng Mẫu, Quan, Chầu, Cô, Cậu của hệ Tứ Phủ.
Quan Hoàng Mười ngoài đời là ai
Có nhiều thuyết khác nhau và chưa thuyết nào được chứng minh. Thuyết Lê Khôi cho ngài là danh tướng thời Lê sơ trấn giữ Nghệ An. Thuyết Nguyễn Xí cho ngài là khai quốc công thần quê Nghi Lộc. Ngoài ra còn thuyết Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và thuyết Nguyễn Duy Lạc, cùng lớp truyền tụng kể ngài là con Vua Cha Bát Hải Động Đình giáng trần.
Vì sao gọi là Mỏ Hạc Linh Từ
Vì thế đất. Đền dựng trên dải đất nơi hai dòng nước gặp nhau, vươn ra thành mũi nhọn, nhìn từ trên xuống giống mỏ con hạc. Mỏ hạc là chữ Nôm tả hình thế, linh từ là chữ Hán chỉ ngôi đền thiêng. Các nguồn ghi tên hai dòng nước ấy khác nhau.
Lễ hội đền Ông Hoàng Mười vào ngày nào
Chính hội ngày 10 tháng Mười âm lịch, ngày được coi là ngày hóa của Quan Hoàng Mười, với lễ đại tế. Trước đó ngày 9 có lễ rước sắc và lễ rước trên sông, mở đầu kỳ hội là lễ khai quang và lễ yết cáo, khép lại bằng lễ tạ. Đền còn một kỳ lễ vào ngày 15 tháng Ba.
Đền này khác đền Củi ở chỗ nào
Cả hai cùng thờ Quan Hoàng Mười. Đền ở làng Xuân Am thuộc Nghệ An được coi là đền chính, gắn với vùng ngài được cho là trấn nhậm, còn đền Củi nằm bên phía Hà Tĩnh trên cùng dòng sông. Người đi lễ theo lệ cũ thường đi cả hai trong một chuyến chứ không chọn một.