Quý vị đi hết con đường từ thị trấn cũ vào chân phía tây bắc núi Sam thì gặp một khối mái ngói xanh nhiều tầng, góc mái vút lên như mũi thuyền, dựng sát vào sườn đá. Trước cửa là dòng người xếp hàng không dứt, tay bưng mâm trái cây và bó nhang lớn. Bên trong, dưới lớp áo mão thay hằng năm, là một pho tượng đá ngồi, khuôn mặt được tô vẽ lại, đôi mắt bằng thủy tinh.
Ngôi miếu này giữ hai lớp thời gian chồng lên nhau. Lớp trên là nơi thờ của người Việt đi khai khẩn miền Tây Nam Bộ từ đầu thế kỷ 19, còn lớp dưới là chính pho tượng, thứ mà giới nghiên cứu cho rằng có tuổi lớn hơn ngôi miếu nhiều thế kỷ.

IBà Chúa Xứ là vị nào
Danh hiệu Bà Chúa Xứ nói thẳng chức phận của vị được thờ, trong đó chúa là chủ, xứ là vùng đất. Đây là vị nữ thần làm chủ một xứ sở, che chở cho người sống trên đất ấy. Trong tư liệu chữ Hán, danh hiệu thường viết là 主處聖母, đọc là Chúa Xứ Thánh Mẫu. Cách gọi ấy thuộc một lớp tín ngưỡng rất rộng ở Nam Bộ là thờ các nữ thần đất đai, thường mang chữ Bà hoặc Chúa ở đầu danh hiệu. Bà Chúa Xứ là vị được thờ phổ biến và có nơi thờ quy mô lớn trong lớp ấy.
Theo cách người đi lễ ở đây tự nói về việc mình làm, Bà không cai quản một cõi khác sau khi chết mà cai quản chính vùng đất này, và những gì người ta cầu đều thuộc về đời sống đang diễn ra như mưa thuận, mùa màng, buôn bán, sức khỏe. Lệ vay lộc Bà rồi trả lễ vào năm sau là biểu hiện rõ của lối tin ấy, một quan hệ có qua có lại giữa người và thần chứ không phải một lời khấn suông. Chính vì gắn với việc làm ăn cụ thể mà nơi này quy tụ được cả bốn cộng đồng sống quanh vùng biên là người Việt, Khmer, Chăm và Hoa, mỗi bên đọc vị nữ thần ấy theo cách của mình mà vẫn đứng chung một sân miếu.
Truyền thuyết được kể nhiều ở đây là chuyện rước tượng từ đỉnh núi xuống. Chuyện kể pho tượng vốn ngự trên đỉnh núi Sam. Khi quân Xiêm sang quấy nhiễu, thấy tượng quý định khiêng đi nhưng không nhấc nổi, tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng. Sau đó dân làng muốn đưa tượng xuống dựng miếu, hàng chục tới bốn mươi thanh niên khỏe mạnh hợp sức cũng không chuyển được. Qua miệng một cô gái lên đồng tự xưng là Bà Chúa Xứ, Bà dạy rằng phải chọn chín cô gái đồng trinh tắm rửa sạch sẽ lên khiêng. Chín cô khiêng được nhẹ nhàng, tới chỗ chân núi hôm nay thì tượng bỗng nặng trĩu không nhích thêm, dân làng hiểu là Bà chọn chỗ ấy và lập miếu tại đó. Đây là truyền tụng dân gian, không phải sử biên niên, và giá trị của nó là cho thấy cộng đồng khai khẩn đã tự giải thích vì sao ngôi miếu đứng đúng chỗ này.
Nhiều người coi Bà Chúa Xứ và Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một, hoặc coi Bà là một hóa thân của Mẫu Liễu. Thực ra hai vị thuộc hai hệ thần linh khác nhau. Mẫu Liễu Hạnh đứng đầu hệ Tứ phủ của Đạo Mẫu Bắc Bộ, dưới có hàng Chầu, hàng Quan, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu, kèm nghi lễ hầu đồng và hát chầu văn. Bà Chúa Xứ thuộc lớp nữ thần đất đai Nam Bộ, không nằm trong thứ bậc Tứ phủ, và nghi thức chính ở miếu là lễ tế theo lối đình miếu chứ không phải các giá hầu. Cả hai đều là nữ thần và đều được gọi bằng chữ Mẫu, nhưng chừng ấy không đủ để gộp làm một.
IITừ am tre lá tới ngôi miếu hôm nay
Ngôi miếu lớn dần cùng vùng đất. Đầu thế kỷ 19, khi kênh Vĩnh Tế được đào và cư dân Việt vào định cư đông ở vùng biên, một am thờ nhỏ dựng lên dưới chân núi. Từ am tre lá ấy tới khối kiến trúc hôm nay là chặng hơn hai trăm năm với ít nhất bốn lần thay đổi lớn.
- Khoảng 1820Dựng am tre láTheo Ban Quản trị Lăng miếu núi Sam, miếu ban đầu dựng đơn sơ bằng tre lá ở vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, trùng với thời kỳ đào kênh Vĩnh Tế.
- 1870Xây lại bằng gạch hồ ô dướcNgôi miếu được xây lại bằng gạch hồ ô dước, thay kết cấu tre lá ban đầu.
- 1962 tới 1965Tu sửa bằng đá miểng và mở rộngNăm 1962 miếu được tu sửa bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965 Hội quý tế nới rộng nhà khách và làm hàng rào chánh điện.
- 1972 tới 1976Tái thiết toàn bộNgôi miếu được tái thiết lớn từ năm 1972 và hoàn thành năm 1976 theo thiết kế của hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng, mang bố cục chữ Quốc, dạng tháp hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lợp ngói đại ống xanh.
- 1980Di tích quốc giaCụm di tích núi Sam gồm miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An và chùa Hang được xếp hạng cấp quốc gia theo Quyết định số 92-VHTT/QĐ ngày 10 tháng 7 năm 1980.
- 2001 và 2014Lễ hội cấp quốc gia và di sản phi vật thể quốc giaLễ hội Vía Bà được công nhận lễ hội cấp quốc gia năm 2001, sau đó đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19 tháng 12 năm 2014.
- 2024UNESCO ghi danhNgày 4 tháng 12 năm 2024, tại kỳ họp thứ 19 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 ở Asunción, Paraguay, lễ hội được ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Cần lưu ý mốc 1820 là niên đại do Ban Quản trị Lăng miếu ghi theo truyền thống của nơi thờ, không phải niên đại rút ra từ văn bia hay chính sử, và nó trùng với giai đoạn đào kênh Vĩnh Tế dưới thời Thoại Ngọc Hầu (1819 tới 1824). Về đơn vị hành chính, nơi thờ vốn ở phường Núi Sam thuộc thành phố Châu Đốc cũ. Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, phường Núi Sam cũ đã sáp nhập vào phường Vĩnh Tế thuộc tỉnh An Giang.
IIINgôi miếu và pho tượng
Khuôn viên miếu rộng khoảng 3.000 mét vuông. Bố cục miếu theo kiểu chữ Quốc, tức các dãy nhà quây kín bốn mặt quanh một lõi ở giữa, khối ngoài xử lý thành dạng tháp hoa sen nở. Mái làm tam cấp ba tầng, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vươn cong và vút cao như mũi thuyền. Hình dáng ấy là kết quả của đợt tái thiết từ năm 1972 tới năm 1976, không phải kiến trúc gốc thời khai khẩn.
Lõi ở giữa quần thể, gồm hai tầng lầu, nơi đặt pho tượng Bà trên bệ cao. Phía trước là bàn thờ Hội đồng, hai bên là bàn thờ Tiền hiền và Hậu hiền, cùng bàn thờ Cô (thờ một pho tượng gỗ nhỏ) và bàn thờ Cậu (thờ một thạch trụ linga bằng đá).
Không gian võ ca dành cho hát bội và các nghi thức tế lễ trong kỳ Vía Bà, nằm cùng hệ nhà khách, phòng làm việc của Ban Quý tế trong bố cục chữ Quốc bốn mặt.
Hai con hạc trắng lớn đứng hầu hai bên tượng Bà tượng trưng cho cốt cách tiên thánh. Trên cao của chánh điện có các tượng thần khỏe mạnh giơ tay đỡ đầu kèo, cửa chạm trổ bát bảo và tứ linh.
Bệ đá trầm tích thạch xanh đen ngang 1,6 mét, dài 0,3 mét, giữa có lỗ vuông cạnh 0,34 mét trên đỉnh núi Sam, nơi pho tượng từng ngự trước khi rước xuống. Mỗi kỳ hội, lễ phục hiện rước tượng đều khởi hành từ đây.
Pho tượng và những cách đọc khác nhau
Pho tượng trong chánh điện là hiện vật gây tranh luận lâu năm, và các nguồn vênh nhau ở nhiều chi tiết, nên thư viện ghi lại từng cách đọc chứ không chọn một cách nào làm kết luận.
Về niên đại và kích thước, nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret khảo sát pho tượng năm 1941 và xác định đây là tượng đá sa thạch tạc khoảng cuối thế kỷ 6, thuộc lớp hiện vật của nền văn hóa cổ ở đồng bằng phía nam mà giới nghiên cứu quen gọi là Óc Eo. Loại đá dùng để tạc không có sẵn ở vùng núi Sam, tức pho tượng được đưa từ nơi khác tới. Chiều cao thì mỗi nguồn ghi một khác, Báo An Giang ghi 1,48 mét, có tài liệu ghi khoảng 1,65 mét, và một số khảo cứu nói tới con số gần 1,8 mét.
Về vị thần được tạc, Malleret xếp pho tượng vào loại tượng thần Vishnu, một trong các vị nam thần lớn của Bà La Môn giáo, trong tư thế người vương giả nghỉ ngơi. Nhà nghiên cứu Vĩnh Thông lại lập luận đây là tượng thần Shiva, dựa vào bệ đá, trục dựng và mối liên hệ với thạch trụ linga thờ tại bàn Cậu. Nhà văn Sơn Nam từng viết trong sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam rằng đây là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Còn nhà nghiên cứu Trần Văn Dũng nhận định đây là tượng nam ngồi tư thế vương giả (Maharaja), phần đầu tượng hiện nay được chế tác về sau bằng loại đá khác với phần thân, và khoảng năm 1940 tới 1946 người ta thuê thợ đắp vẽ lại khuôn mặt cho giống một phụ nữ phúc hậu, gắn thêm mắt thủy tinh.
Tóm lại, các nguồn khảo cứu thống nhất rằng pho tượng có gốc cổ và không do người Việt tạc ra từ đầu để thờ Bà Chúa Xứ, nhưng chưa thống nhất nó vốn tạc vị nào và tới núi Sam bằng cách nào.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Cái đáng nói đầu tiên là núi Sam đứng một mình. Cả vùng Châu Đốc là đồng bằng bồi tụ, phẳng gần như tuyệt đối, vậy mà giữa cánh đồng ấy nhô lên một khối núi cô độc, xưa còn có tên là Vĩnh Tế Sơn (do vua Minh Mạng đặt) hay Ngọc Lãnh Sơn. Độ cao của núi được các nguồn ghi khác nhau, phổ biến là 228 mét, có nguồn ghi 284 mét, chu vi khoảng 5.200 mét. Trong phép xem đất, một điểm nhô cao giữa vùng bằng phẳng gọi là đột, và đột là chỗ khí kết. Cả miền châu thổ chỉ có vài khối đột như thế, nên theo lối nhìn cổ truyền đây là đất hiếm. Việc gần hai trăm chùa, miếu, am tụ quanh một quả núi nhỏ không phải chuyện tình cờ.
Thế của miếu là thế lưng tựa sơn, mặt hướng đồng. Miếu không đặt trên đỉnh mà đặt ở vùng đất thấp dưới chân phía tây bắc núi Sam, lưng dựa hẳn vào vách núi phía đông nam, mặt quay về hướng tây bắc nhìn ra con đường, khu dân cư và cánh đồng làng. Khối núi phía sau đóng vai huyền vũ làm chỗ tựa, khoảng đồng rộng trước mặt đóng vai minh đường. Truyền thuyết cũng kể đúng cái thế ấy, khi tượng vốn ở trên đỉnh, được rước xuống rồi dừng lại đúng chỗ chân núi. Dù chuyện có thật hay không, nó cho thấy người xưa hiểu rằng thần không nên ngự chỗ cao trơ trọi mà nên ngự chỗ có núi che sau lưng và có người ở trước mặt.
Xét thủy, vùng này có sông Hậu chảy phía đông, kênh Vĩnh Tế chạy dọc phía tây bắc, cùng hệ kênh rạch chằng chịt của đồng bằng. Nước là thứ tụ khí, một vùng có sông lớn và kênh đào ôm lấy thì theo phép xem đất là đất tụ chứ không tán. Ngôi miếu lại ra đời gần như cùng lúc với con kênh, tức một nơi thờ dựng lên đúng vào lúc mạch nước nhân tạo được mở ra và cư dân bắt đầu bám đất.
Sau cùng là ngũ hành. Núi và đồng bằng bồi tụ đều thuộc hành Thổ, hệ sông kênh thuộc Thủy. Một vị nữ thần cai quản đất đai đặt ở chỗ Thổ dày mà kề Thủy vượng thì theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị. Chữ xứ trong danh hiệu Bà nói cùng một điều, rằng đây là vị thần của một vùng đất cụ thể, và chỗ ngự của vị ấy gắn chặt vào chính vùng đất ấy.
VLễ hội Vía Bà tháng Tư
Kỳ lễ lớn trong năm là Vía Bà, diễn ra từ ngày 22 tới ngày 27 tháng Tư âm lịch. Đây là một chuỗi nghi thức có trình tự chặt, nhiều phần cử hành vào lúc nửa đêm, và là cốt lõi của hồ sơ được UNESCO xét ghi danh.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Chiều 22 tháng Tư | Lễ phục hiện rước tượng Bà | Đoàn rước khởi hành từ bệ đá trên đỉnh núi Sam xuống miếu, diễn lại việc đưa tượng xuống chân núi theo truyền thuyết. |
| 24 giờ đêm 23 rạng 24 tháng Tư | Lễ tắm Bà | Nghi thức mộc dục cử hành vào đúng nửa đêm, dùng nước thơm nấu từ nhiều loài hoa để lau tượng và thay áo mão mới. |
| Chiều 24 hoặc ngày 25 tháng Tư | Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu | Rước bài vị và sắc phong của Thoại Ngọc Hầu cùng nhị vị phu nhân từ Sơn Lăng về miếu dự lễ (Wikipedia ghi 15 giờ chiều ngày 24 tháng Tư, còn lịch hội trên Báo An Giang năm 2024 ghi ngày 25 tháng Tư). |
| 24 giờ đêm 25 rạng 26 tháng Tư | Lễ túc yết và xây chầu | Túc yết là lễ ra mắt dâng lễ vật cúng Bà lúc nửa đêm, tiếp theo là lễ xây chầu khai trống mở đầu phần hát bội tại võ ca. |
| Rạng sáng 27 tháng Tư | Lễ chánh tế | Lễ tế trọng thể của cả kỳ hội, cử hành vào khoảng 4 giờ sáng ngày 27 theo nghi thức đình miếu Nam Bộ. |
| Chiều 27 tháng Tư | Lễ hồi sắc | Đưa bài vị và sắc phong của Thoại Ngọc Hầu cùng nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng, khép lại kỳ lễ. |
Điểm đáng chú ý trong trình tự trên là việc thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu. Một nhân vật lịch sử có thật, người chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế và mở đất vùng biên, được rước về dự lễ của một vị nữ thần đất đai. Hai lớp thờ tự ấy, một bên thần linh và một bên người khai khẩn, đặt cạnh nhau trong cùng một kỳ lễ, và đó là cách cộng đồng ở đây kể lại lịch sử lập đất của mình.
Ngày 4 tháng 12 năm 2024, tại kỳ họp thứ 19 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 họp ở Asunción, Paraguay, hồ sơ Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là di sản phi vật thể thứ 16 của Việt Nam được UNESCO ghi danh và là lễ hội truyền thống đầu tiên của Nam Bộ vào danh sách này. Cũng như với mọi hồ sơ cùng loại, điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của lễ hội, gồm nghi thức, âm nhạc, diễn xướng và vai trò gắn kết bốn cộng đồng Việt, Khmer, Chăm, Hoa, chứ không phải một phán xét về niềm tin.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Sam, phường Núi Sam cũ, nay thuộc phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang
- Đường tới
- Nằm ngay dưới chân phía tây bắc núi Sam, thuộc phường Núi Sam cũ, nay là phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang, cách trung tâm Châu Đốc cũ chừng năm tới sáu cây số. Cụm di tích núi Sam gồm cả lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An và chùa Hang, có thể đi bộ giữa các điểm.
- Toạ độ
- 10.6821, 105.0802
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và rất đông người, nhất là các tháng đầu năm và kỳ Vía Bà, nên lệ của miếu cần được giữ. Vài điều thường được nhắc là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, không chen lấn ở cửa cung, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Người đi lễ ở đây có lệ vay lộc rồi năm sau quay lại trả lễ, và lệ ấy được coi là lời hứa chứ không phải thủ tục.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
Contribute photos, information or video for Ba Chua Xu Temple of Sam MountainThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam thờ ai
Thờ Bà Chúa Xứ, vị nữ thần làm chủ vùng đất, thuộc lớp tín ngưỡng nữ thần đất đai của Nam Bộ. Danh hiệu chữ Hán thường viết là Chúa Xứ Thánh Mẫu. Người đi lễ cầu những việc thuộc đời sống đang diễn ra như mùa màng, buôn bán và sức khỏe, với lệ vay lộc rồi trả lễ năm sau.
Pho tượng Bà là tượng gì và có từ bao giờ
Các nguồn khảo cứu ghi vênh nhau. Louis Malleret khảo sát năm 1941 xác định là tượng đá sa thạch tạc khoảng cuối thế kỷ 6 thuộc văn hóa Óc Eo, và xếp vào loại tượng thần Vishnu. Nhà nghiên cứu Vĩnh Thông lập luận là tượng thần Shiva. Nhà văn Sơn Nam viết là tượng Phật đàn ông của người Khmer, còn nhà nghiên cứu Trần Văn Dũng nhận định là tượng nam ngồi tư thế vương giả có phần đầu được chế tác và đắp vẽ lại về sau. Chiều cao được các nguồn ghi từ 1,48 mét, 1,65 mét tới gần 1,8 mét.
Bà Chúa Xứ có phải là Mẫu Liễu Hạnh không
Không. Hai vị thuộc hai hệ thần linh khác nhau. Mẫu Liễu Hạnh đứng đầu hệ Tứ phủ của Đạo Mẫu Bắc Bộ, kèm hàng Chầu, hàng Quan, hàng Cô, hàng Cậu và nghi lễ hầu đồng. Bà Chúa Xứ thuộc lớp nữ thần đất đai Nam Bộ, không nằm trong thứ bậc Tứ phủ.
Lễ hội Vía Bà diễn ra ngày nào và gồm nghi thức gì
Từ ngày 22 tới 27 tháng Tư âm lịch. Trình tự gồm lễ phục hiện rước tượng Bà chiều ngày 22, lễ tắm Bà lúc nửa đêm ngày 23 rạng 24, lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu chiều ngày 24 hoặc ngày 25, lễ túc yết và xây chầu lúc nửa đêm ngày 25 rạng 26, rồi lễ chánh tế rạng sáng 27 và lễ hồi sắc chiều 27.
UNESCO ghi danh điều gì vào năm 2024
Ngày 4 tháng 12 năm 2024, tại kỳ họp thứ 19 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 họp ở Asunción, Paraguay, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, là di sản phi vật thể thứ 16 của Việt Nam được ghi danh.