VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Lớn Hà Nội

· Nhà thờ Chính toà Thánh Giuse

Nhà thờ chính toà của Tổng giáo phận Hà Nội, công trình Gothic sớm nhất còn đứng nguyên vẹn giữa lòng phố cổ.

Khánh thành
Dịp Giáng Sinh
các nguồn ghi 1886 hoặc 1887, xem phần lịch sử
Hai tháp chuông
Khoảng 31 m
tư liệu ghi 31 m hoặc 31,5 m
Chuông
Năm quả
một lớn bốn nhỏ, nối với bộ máy đồng hồ

Đi hết phố Nhà Thờ, quý vị bước ra một khoảng sân nhỏ và bất ngờ thấy cả một mặt tiền đá xám dựng đứng trước mặt. Hai tháp vuông vươn lên hai bên, giữa là cửa sổ hoa hồng và một cây thánh giá; mặt tường loang màu thời gian, chỗ đen chỗ xám, khiến công trình trông già hơn tuổi thật. Phía dưới, trên vỉa hè hẹp, xe cộ và hàng quán vẫn chạy sát chân tường.

Người Hà Nội gọi đây là Nhà thờ Lớn, một cái tên đặt theo kích thước. Tên chính thức thì khác: Nhà thờ Chính toà Thánh Giuse. Hai chữ trong tên ấy nói hai việc riêng biệt. Chính toà cho biết vị trí của ngôi nhà thờ này trong tổ chức của Giáo hội Công giáo, còn Thánh Giuse là vị thánh mà nhà thờ được dâng kính. Hiểu hai chữ ấy thì hiểu vì sao một nhà thờ giữa phố cổ lại giữ vai trò khác hẳn các nhà thờ xung quanh.

Nhà thờ Lớn Hà Nội
Nhà thờ Lớn Hà Nội. Ảnh: Gryffindor, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Ý Nghĩa

Trong nếp Công giáo, mỗi nhà thờ đều được dâng kính một vị thánh hoặc một tước hiệu, và tước hiệu ấy trở thành tên chính thức đồng thời là bổn mạng của nhà thờ. Ở đây vị bổn mạng là Thánh Giuse, người được Giáo hội kính là cha nuôi của Chúa Giêsu. Lễ kính ngài rơi vào ngày mười chín tháng Ba theo lịch phụng vụ, và đó là ngày lễ riêng của ngôi nhà thờ này.

Theo giáo nghĩa

Chữ chính toà cần được giải thích cho rõ, vì nó không phải một tính từ chỉ độ lớn. Trong tổ chức của Giáo hội Công giáo, thế giới được chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một vị giám mục coi sóc. Nhà thờ nào có đặt cathedra, tức chiếc ghế hay ngai toà của vị giám mục ấy, thì gọi là nhà thờ chính toà.

Ngai toà không phải một món đồ trang trí mà là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc. Vì thế nhà thờ chính toà được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận: các nghi lễ trọng nhất trong năm của giáo phận được cử hành tại đây, và vị giám mục chủ sự. Ngôi nhà thờ này là chính toà của Tổng giáo phận Hà Nội, nên nó giữ vai trò ấy cho cả một vùng rộng chứ không riêng giáo xứ tại chỗ.

Theo sử liệu

Về mặt tư liệu, tên gọi Nhà thờ Lớn là cách gọi dân gian, hình thành vì đây là ngôi nhà thờ có quy mô lớn nhất trong khu vực vào thời điểm nó dựng xong. Tên gọi ấy tồn tại song song với tên chính thức suốt hơn một thế kỷ và tới nay vẫn được dùng nhiều hơn cả.

Con phố chạy dọc mặt tiền mang tên phố Nhà Thờ, còn phố nơi ghi địa chỉ chính thức của nhà thờ mang tên phố Nhà Chung. Cả hai tên phố đều đặt theo công trình chứ không ngược lại.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay bị lẫn. Thứ nhất, nhiều người gọi gộp nơi này là Nhà thờ Đức Bà do quen miệng với ngôi ở Sài Gòn. Hai công trình khác nhau cả về vị bổn mạng lẫn về lối kiến trúc: nơi đây dâng kính Thánh Giuse và theo lối Gothic, ngôi trong Nam dâng kính Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội và theo lối Roman cải biên với tường gạch đỏ để trần.

Thứ hai, việc công trình được nói là lấy cảm hứng từ Nhà thờ Đức Bà Paris khiến không ít người tưởng đây là bản sao thu nhỏ. Không phải. Điểm chung chỉ nằm ở ngôn ngữ tạo hình Gothic, ở mặt tiền hai tháp và ở cửa sổ hoa hồng; còn quy mô, mặt bằng, vật liệu và cả cách trang trí nội thất thì khác hẳn, trong đó phần đồ gỗ trong lòng nhà thờ mang rõ dấu tay thợ Việt.

Từ Nền Chùa Báo Thiên Tới Ngôi Nhà Thờ Gạch

Khu đất mà nhà thờ đang đứng có một lớp lịch sử dài hơn bản thân công trình. Trước khi có nhà thờ, đây là đất của chùa Báo Thiên, tên đầy đủ là Sùng Khánh Báo Thiên tự, một ngôi chùa lớn của kinh thành Thăng Long thời Lý. Chúng tôi ghi việc này theo lối sử liệu, tức chỉ nêu điều các tư liệu chép, không kèm bình luận.

  • 1057Chùa Báo Thiên và tháp Đại Thắng Tư Thiên
    Đời Lý Thánh Tông, chùa Sùng Khánh Báo Thiên cùng ngọn tháp Đại Thắng Tư Thiên được dựng ở khu đất phía tây hồ Hoàn Kiếm. Tháp về sau đổ, chùa hư hại dần qua nhiều thế kỷ.
  • Cuối thế kỷ 19Khu đất chuyển sang dựng nhà thờ
    Khi chùa cũ đã hoang phế, khu nền được dùng làm nơi dựng nhà thờ chính toà. Trước khi có công trình xây gạch, một nhà thờ tạm bằng gỗ đã được dựng tại chỗ.
  • 1882Bắt đầu công cuộc xây dựng
    Tư liệu của Tổng giáo phận ghi khoảng xây dựng bắt đầu từ năm 1882. Tư liệu kiến trúc lại ghi công trình khởi công năm 1884; đây là chỗ các nguồn còn ghi khác nhau.
  • 1886Thánh lễ đầu tiên
    Tư liệu của Tổng giáo phận ghi thánh lễ đầu tiên được cử hành trong nhà thờ mới vào ngày hai mươi bốn tháng Mười Hai năm 1886, tức đêm Giáng Sinh.
  • 1887Lễ cung hiến
    Cũng theo tư liệu ấy, lễ cung hiến chính thức diễn ra ngày hai mươi ba tháng Mười Hai năm 1887. Nhiều tư liệu kiến trúc gộp hai mốc và ghi gọn là khánh thành dịp Giáng Sinh.
  • 1895Bộ máy đồng hồ và hệ chuông
    Bộ máy đồng hồ ba mặt cùng hệ thống năm quả chuông được chế tạo tại Pháp năm 1895 rồi lắp lên hai tháp. Đồng hồ và chuông nối với nhau thành một cơ cấu chung.
  • Những thập niên gần đâyCác đợt tu bổ
    Các hạng mục được tu bổ gồm nền cung thánh và bàn thờ bằng đá, phần hầm phía dưới, lớp sơn mặt ngoài, hai tháp chuông, bộ máy đồng hồ và phần cổng. Việc tu bổ tiến hành theo từng hạng mục chứ không làm một đợt lớn.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn vênh nhau mà chúng tôi ghi thẳng ra đây thay vì chọn bừa một con số. Thứ nhất là năm khánh thành. Tư liệu của Tổng giáo phận phân biệt rõ hai mốc: thánh lễ đầu tiên đêm Giáng Sinh năm 1886 và lễ cung hiến ngày hai mươi ba tháng Mười Hai năm 1887. Trong khi đó nhiều tư liệu kiến trúc và báo chí chỉ ghi một mốc, có bài ghi khánh thành dịp Giáng Sinh năm 1886, có bài ghi năm 1887. Cách đọc hợp lý nhất là coi đây là hai sự kiện khác nhau bị gộp làm một.

Thứ hai là năm khởi công: tư liệu của Tổng giáo phận ghi khoảng xây dựng từ năm 1882, tư liệu kiến trúc ghi năm 1884. Bảng dữ liệu của thư viện lấy mốc 1886 cho năm khánh thành. Quý vị nên coi các con số còn lại là điều cần đối chiếu thêm chứ chưa phải kết luận đã chốt.

Gothic, Hai Tháp Và Năm Quả Chuông

Công trình theo lối Gothic châu Âu, thứ ngôn ngữ kiến trúc lấy chiều cao và ánh sáng làm phương tiện chính. Đặc trưng của lối này thấy đủ ở đây: vòm nhọn, cửa sổ cao và hẹp, cửa sổ hoa hồng giữa mặt tiền, hai tháp vuông kèm hai bên.

Vật liệu thì lại rất địa phương. Tường xây gạch nung, phủ lớp vữa theo cách làm bản xứ, mái lợp ngói; chính lớp vữa ấy qua hơn một thế kỷ đã loang thành màu xám đen quen thuộc mà ai cũng nhận ra. Phần đồ gỗ bên trong, gồm các bàn thờ chạm và thếp vàng, làm theo lối thợ Việt, nên trong một khung Gothic lại có những mảng chạm mang khí vị của đình chùa Bắc Bộ.

Hai tháp chuông

Hai khối vuông ở hai bên mặt tiền, cao khoảng 31 mét theo tư liệu Tổng giáo phận. Trên đỉnh mỗi tháp có thánh giá bằng đá. Đây là phần định hình bóng dáng của công trình khi nhìn từ xa.

Năm quả chuông

Bộ chuông gồm một quả lớn và bốn quả nhỏ, chế tạo tại Pháp năm 1895, treo trên tháp và nối với bộ máy đồng hồ thành một cơ cấu chung.

Bộ máy đồng hồ ba mặt

Đồng hồ lắp trên mặt tiền, có ba mặt nhìn được từ bên ngoài, cùng niên đại với bộ chuông. Đây là một trong những hạng mục đã qua tu bổ gần đây.

Cửa sổ hoa hồng và cửa kính màu

Cửa sổ tròn lớn đặt giữa mặt tiền, phía trên là cây thánh giá. Hệ cửa kính màu trong lòng nhà thờ bố trí theo cụm ba ô, vẽ các tích trong Kinh Thánh, làm nhiệm vụ lọc ánh sáng thành màu trước khi đưa vào trong.

Cung thánh và các bàn thờ gỗ

Phần trong cùng, nơi đặt ngai toà của vị giám mục giáo phận. Các bàn thờ gỗ chạm và thếp vàng ở khu vực này là chỗ dấu tay thợ Việt hiện rõ nhất trong toàn bộ công trình.

Các nguồn công bố chênh nhau khá xa ở phần chiều dài và chiều rộng, nhiều khả năng vì mỗi nguồn đo một phạm vi khác nhau, có nguồn đo lòng nhà thờ, có nguồn đo cả phần cung thánh và bậc thềm. Bảng này ghi song song hai cột để quý vị tự đối chiếu, thư viện không chọn bừa một con số. Nguồn: Tư liệu của Tổng giáo phận Hà Nội và bài chuyên khảo kiến trúc..
Số đoTư liệu Tổng giáo phậnTư liệu kiến trúc
Chiều dài công trình55 m64,5 m
Chiều rộng33 m20,5 m
Chiều cao hai tháp chuông31 m31,5 m
Chiều cao mái17 mKhông thấy ghi
Số quả chuông55

Một điều đáng nói về bố cục mặt bằng: lòng nhà thờ được chia thành nhiều gian nối nhau theo chiều dài, gian giữa rộng gấp đôi hai gian bên, hai đầu là khu cung thánh và khu dưới chân hai tháp. Cách chia ấy là lối kinh điển của nhà thờ Gothic, phục vụ một mục đích cụ thể: đưa cái nhìn của người bước vào chạy thẳng theo trục dọc tới bàn thờ ở cuối lòng nhà thờ.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần một lời rào trước rõ ràng hơn mọi bài khác trong mục Địa Điểm. Công giáo không dạy phong thủy, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành, chứ không phải hướng chọn theo la bàn phong thủy. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen với lối ấy có một chỗ đối chiếu; nó không phải điều được chép trong tư liệu của nhà thờ, cũng không phải điều mà những người dựng công trình này tính tới.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chỗ đặt. Nhà thờ đứng ở đầu một con phố ngắn dẫn thẳng ra khu vực hồ Hoàn Kiếm, tức chiếm vị trí đầu trục trong một bố cục phố nhỏ. Trong phép xem đất, một công trình đặt ở đầu trục và có đường dẫn thẳng tới thì được coi là đắc thế nghênh khí: dòng người đi trên trục ấy đều hướng về nó, khiến nó thành điểm quy tụ tự nhiên của cả khu, dù chiều cao không vượt trội so với phố xá bốn bề.

Trước mặt tiền là một khoảng sân hẹp. Theo lối đọc cổ truyền, đây là minh đường, chỗ đất bằng ngay trước cửa để khí dừng lại trước khi vào. Sách xưa đòi minh đường phải rộng, bằng và sáng; ở đây thì bằng và sáng nhưng hẹp, bởi công trình nằm giữa khu phố cổ đã kín đất từ trước. Cái hẹp ấy được bù bằng chiều dài của con phố dẫn tới, thứ mà sách địa lý gọi là lai lộ, tức đường đến.

Về hình thể, hai tháp vuông vươn cao cân xứng hai bên một khối giữa thấp hơn tạo thành thế mà phong thủy gọi là song phong hộ vệ, tức hai ngọn kèm giữ ở hai bên. Bố cục đối xứng ấy được xem là thế ổn định bậc nhất, vì không bên nào lấn bên nào. Cần nhắc lại rằng mặt tiền hai tháp là một quy ước lâu đời của kiến trúc nhà thờ châu Âu, có từ trước khi công trình này ra đời nhiều thế kỷ; sự trùng khớp với một khái niệm phong thủy chỉ là trùng khớp của hình thể, không phải của chủ ý.

Cuối cùng là nền đất. Khu đất này vốn là nền một ngôi chùa lớn thời Lý, tức là một mảnh đất đã được người xưa chọn để dựng công trình thờ tự từ gần một nghìn năm trước. Con mắt phong thủy cổ truyền hay chú ý tới điều đó và gọi những mảnh đất từng nhiều lần được chọn cho việc thờ tự là đất có duyên. Chúng tôi ghi nhận xét ấy đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.

Lễ Theo Lịch Phụng Vụ

Là nhà thờ chính toà, nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội, đồng thời có mấy ngày riêng gắn với vị bổn mạng và với vai trò đứng đầu giáo phận. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc, vì giờ giấc thay đổi theo từng năm.

Các dịp lễ chính theo lịch phụng vụ. Bài không ghi giờ lễ vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm và từng dịp. Nguồn: Tư liệu của Tổng giáo phận Hà Nội và giáo xứ chính toà..
Thời điểmLễNội dung
19 tháng 3Lễ Thánh GiuseLễ bổn mạng của nhà thờ, vì đây là vị thánh mà nhà thờ được dâng kính.
1 tháng 5Lễ Thánh Giuse ThợNgày thứ hai trong năm phụng vụ kính Thánh Giuse, gắn với hình ảnh ngài là người thợ mộc.
Mùa Vọng và lễ Giáng SinhChuẩn bị và mừng Chúa giáng sinhDịp đông người nhất trong năm ở khu vực quanh nhà thờ, kể cả người không theo đạo.
Tuần Thánh và lễ Phục SinhĐỉnh cao của năm phụng vụTrong Tuần Thánh có thánh lễ Dầu, nghi lễ mang tính giáo phận do vị tổng giám mục chủ sự tại nhà thờ chính toà.
Các dịp trọng của giáo phậnNghi lễ do tổng giám mục chủ sựVì đây là nơi đặt ngai toà, những nghi lễ trọng nhất của cả giáo phận được cử hành tại đây chứ không ở nhà thờ khác.

Ngoài lịch phụng vụ, khu vực quanh nhà thờ còn có một nếp đời thường đã thành quen: khoảng phố trước mặt tiền từ lâu là chỗ người ta hẹn nhau và là một trong những điểm nhận diện quen thuộc nhất của phố cổ Hà Nội. Nếp ấy không thuộc phần nghi lễ, nhưng là một phần trong cách người Hà Nội sống cạnh công trình này.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 40 phố Nhà Chung, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đường tới
Nhà thờ nằm ở số 40 phố Nhà Chung, phường Hàng Trống, mặt tiền quay ra phố Nhà Thờ, đi bộ được từ khu vực hồ Hoàn Kiếm chỉ vài phút. Các phố quanh nhà thờ đều nhỏ và một chiều, phần lớn khách tới đây đi bộ.
Toạ độ
21.0288, 105.8489
Khi tới nơi

Đây là nơi cử hành phụng vụ, không phải điểm tham quan thuần túy, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ. Khi đang có Thánh lễ, khách tham quan xin giữ im lặng, không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh; nếu chỉ muốn xem kiến trúc thì xin đợi cho tới khi lễ xong. Việc vào cung thánh dành cho người có phận sự.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Nhà thờ Lớn Hà Nội tên chính thức là gì

Tên chính thức là Nhà thờ Chính toà Thánh Giuse, nhà thờ chính toà của Tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ Lớn chỉ là cách gọi dân gian, đặt theo quy mô của công trình vào thời điểm nó dựng xong, và tới nay vẫn là tên được dùng nhiều hơn cả tên chính thức.

Nhà thờ chính toà nghĩa là gì

Là nhà thờ có đặt ngai toà của vị giám mục coi sóc giáo phận. Ngai toà là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, nên nhà thờ chính toà được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận, và những nghi lễ trọng nhất trong năm của giáo phận được cử hành tại đây do vị giám mục chủ sự.

Nhà thờ được xây năm nào và khánh thành năm nào

Các nguồn ghi khác nhau. Tư liệu của Tổng giáo phận ghi khoảng xây dựng từ năm 1882, thánh lễ đầu tiên đêm Giáng Sinh năm 1886 và lễ cung hiến ngày hai mươi ba tháng Mười Hai năm 1887. Tư liệu kiến trúc lại ghi khởi công năm 1884 và khánh thành dịp Giáng Sinh, có bài ghi 1886, có bài ghi 1887.

Trước khi có nhà thờ thì khu đất này là gì

Theo các tư liệu, đây là đất của chùa Báo Thiên, tên đầy đủ là Sùng Khánh Báo Thiên tự, ngôi chùa lớn dựng đời Lý Thánh Tông năm 1057 cùng với tháp Đại Thắng Tư Thiên. Tháp về sau đổ và chùa hư hại dần qua nhiều thế kỷ; tới cuối thế kỷ 19 khu nền được dùng để dựng nhà thờ.

Tháp chuông cao bao nhiêu và có mấy quả chuông

Hai tháp cao khoảng 31 mét theo tư liệu Tổng giáo phận, một số tư liệu kiến trúc ghi 31,5 mét. Trên tháp treo năm quả chuông gồm một quả lớn và bốn quả nhỏ, chế tạo tại Pháp năm 1895, nối với bộ máy đồng hồ ba mặt lắp trên mặt tiền thành một cơ cấu chung.

Đọc Tiếp