VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Hòe Nhai

Hồng Phúc tự, chùa Hồng Phúc, tổ đình Hồng Phúc Hòe Nhai

Ngôi chùa cổ trên phố Hàng Than, nơi dòng thiền Tào Động lần đầu dựng chốn tổ ở miền Bắc vào cuối thế kỷ 17 và giữ mạch truyền tới hôm nay.

Tông phái
Tào Động
tổ đình đầu tiên của dòng này ở miền Bắc
Bia đá
28 tấm
quý nhất là tấm dựng năm 1703
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Bộ Văn hóa xếp hạng ngày 21 tháng 1 năm 1989

Từ phố Hàng Than rẽ vào cổng số 19, quý vị sẽ thấy một tòa tiền đường hai tầng tám mái đứng sau khoảng sân nhỏ, trong sân có những ngọn tháp gạch ba tầng đã ngả màu. Bước vào chính điện, nhìn sang phía bên trái, có một pho tượng lạ mắt: một người đội mũ miện, mặc triều phục, quỳ gối, trên lưng đỡ một pho tượng Phật. Người đi chùa lâu năm ở Hà Nội đều biết pho tượng ấy, và phần lớn đến đây lần đầu là vì nó.

Nhưng với người trong nhà thiền, Hòe Nhai được nhớ vì một lẽ khác. Đây là Hồng Phúc tự, ngôi chùa mà từ cuối thế kỷ 17 đã thành chốn tổ của dòng thiền Tào Động ở miền Bắc. Các chùa Tào Động ở đồng bằng Bắc Bộ, khi kể dòng truyền của mình, đều lần ngược về hai vị tổ đã trụ ở mảnh đất này: Thiền sư Thủy Nguyệt và Thiền sư Chân Dung Tông Diễn.

IChốn Tổ Của Dòng Tào Động

Thiền tông Trung Hoa sau đời Lục Tổ Huệ Năng chia ra năm nhà, gọi là ngũ gia, trong đó hai nhà sống dai nhất là Lâm TếTào Động. Tào Động mang tên hai vị tổ lập nhà: Thiền sư Động Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch, đều sống ở thế kỷ 9. Ở Việt Nam, phần lớn chùa Bắc Tông hôm nay theo các dòng Lâm Tế. Tào Động là dòng ít chùa hơn, và ở miền Bắc, gốc của nó nằm ở Hòe Nhai.

Theo giáo nghĩa

Tào Động và Lâm Tế cùng một gốc thiền, cùng nhắm tới chỗ thấy tánh, nhưng khác nhau ở cách dẫn người tu. Lâm Tế nổi về lối đánh thẳng: tiếng hét, cây gậy, những câu hỏi đáp đột ngột, và về sau là phép khán thoại đầu, tức ôm lấy một câu công án cho tới khi mối nghi vỡ ra. Tào Động đi lối thâm mật: dùng giáo lý ngũ vị quân thần để chỉ năm tầng quan hệ giữa chánh và thiên, giữa cái tuyệt đối và cái tương đối, và chuộng lối ngồi thiền lặng lẽ soi chiếu mà đời Tống gọi là mặc chiếu, không cầm một đề mục, không mong một phút bừng ngộ. Nói gọn cho dễ nhớ: Lâm Tế như lưỡi dao chặt thẳng vào gốc, Tào Động như người làm ruộng cày sâu từng luống.

Hai lối ấy không loại trừ nhau. Ở Việt Nam, nhiều thiền sư Tào Động vẫn dùng công án, và nhiều chùa Lâm Tế vẫn ngồi thiền lặng lẽ. Chỗ phân biệt rõ nhất ở một chùa cụ thể là dòng truyền và bài kệ đặt pháp danh, chứ không phải ở nghi lễ hằng ngày.

Theo sử liệu

Người đưa Tào Động về miền Bắc là Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt. Theo tạp chí Nghiên cứu Phật học, năm 28 tuổi ngài sang Trung Hoa tham học với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo, tổ đời 35 tông Tào Động, được truyền pháp sau sáu năm, thành tổ đời 36, rồi về nước. Ngài được tôn là tổ khai sáng Hồng Phúc tự, tháp của ngài mang tên Linh Quang.

Đệ tử của ngài là Thiền sư Chân Dung Tông Diễn, người trụ trì Hòe Nhai và dưới thời ngài chùa thành tổ đình Tào Động, rồi truyền tiếp cho Tam tổ Từ Sơn Hành Nhất. Nguồn vênh nhau về năm sinh năm mất của cả hai vị, xin ghi thẳng: tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi Thủy Nguyệt 1636 tới 1704 và Tông Diễn 1638 tới 1709, còn trang Chốn Thiêng và nhiều tư liệu khác ghi Thủy Nguyệt 1637 tới 1704 và Tông Diễn 1640 tới 1711. Năm ngài Thủy Nguyệt về nước cũng được ghi khác nhau: có nơi ghi năm 1667, có nơi chỉ ghi sáu năm sau khi sang học.

Dòng Tào Động miền Bắc có bài kệ riêng để đặt pháp danh theo từng đời, bắt đầu bằng bốn chữ Tịnh trí thông tông. Mỗi đời tu sĩ lấy một chữ theo thứ tự trong kệ làm chữ đầu pháp danh, nhìn chữ ấy là biết người ấy thuộc đời thứ mấy kể từ tổ. Các nguồn chép phần còn lại của bài kệ không giống nhau, nên thư viện chỉ nêu bốn chữ mở đầu, không chép nguyên bài.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người nghĩ Tào Động vào Việt Nam chỉ bằng một ngả. Thực ra có hai ngả tách biệt. Ở Đàng Ngoài, dòng này đến qua Thiền sư Thủy Nguyệt và lấy Hòe Nhai làm gốc. Ở Đàng Trong, cuối thế kỷ 17 lại có Thiền sư Thạch Liêm Đại Sán từ Quảng Đông sang Thuận Hóa, mở một nhánh Tào Động khác ở phía nam. Hai nhánh cùng tên tông, nhưng không cùng thầy truyền và không cùng chốn tổ. Khi nói Hòe Nhai là tổ đình Tào Động, cần hiểu là tổ đình của nhánh miền Bắc.

IITừ Chùa Thời Lý Tới Tổ Đình Tào Động

Tên Hòe Nhai nghĩa là phố cây hòe, tên phố có từ thời Lý Trần. Chùa nằm bên con đường nước xưa từ thành Thăng Long ra bến Đông Bộ Đầu. Tương truyền chùa có từ thời Lý, nhưng lịch sử khảo được của chùa bắt đầu từ thời Lê Trung Hưng, khi dòng Tào Động về trụ trì và dựng lại.

  • Thời LýKhởi dựng theo truyền ngôn
    Tư liệu của chùa và các bài giới thiệu đều ghi chùa có từ thời Lý. Câu đối trong chùa cũng nhắc tới lớp tiền Lý hậu Lê, nhưng chưa có hiện vật thời Lý nào còn lại để đối chiếu.
  • Cuối thế kỷ 17Tào Động về trụ trì
    Thiền sư Thủy Nguyệt trụ trì và dựng lại chùa. Chùa mang tên chữ Hồng Phúc tự và trở thành chốn tổ của Tào Động miền Bắc.
  • 1687Đại trùng tu
    Mốc trùng tu lớn mà phần đông tư liệu giới thiệu chùa ghi lại.
  • 1698Bia Chính Hòa năm thứ 19
    Bia ghi công đức bà Nguyễn Thị Phán, pháp hiệu Từ Dụ, cùng sư Chân Dung trong việc mở rộng chùa.
  • 1703Bia Chính Hòa năm thứ 24
    Tấm bia được coi là quý nhất trong 28 tấm bia của chùa, do Tiến sĩ Hà Tông Mục soạn văn.
  • 1899Dựng tiền đường trong
    Tòa tiền đường phía trong được dựng lại, sửa tiếp năm 1920.
  • 1989Di tích quốc gia
    Ngày 21 tháng 1 năm 1989, Bộ Văn hóa xếp hạng chùa là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
  • Thế kỷ 21Trùng tu toàn diện
    Chùa được trùng tu gần như toàn bộ, giữ bố cục cũ và các hiện vật.
Theo sử liệu

Về các lần trùng tu, nguồn không khớp nhau. Nhiều bài giới thiệu ghi hai lần đại trùng tu năm 1687 và năm 1899. Trang Chốn Thiêng, dựa vào hệ bia, lại kê một chuỗi mốc dài hơn: 1698, 1699, 1703, 1812, 1894, 1920 cùng một số mốc về sau, và thêm rằng khoảng đời Tự Đức sư Quang Hựu mở rộng chùa, năm 1891 sư Chính Bình tu bổ. Hai cách kê không loại nhau, vì một bên nêu mốc lớn, một bên kê theo từng tấm bia, nhưng năm 1687 chưa thấy bia nào trong chuỗi của Chốn Thiêng xác nhận. Thư viện ghi cả hai.

IIINội Công Ngoại Quốc Và Hai Mươi Tám Tấm Bia

Chùa rộng chừng 3.000 mét vuông, dựng theo lối nội công ngoại quốc: khối thờ Phật ở trong làm thành hình chữ công, tức tiền đường, thiêu hương và thượng điện nối nhau, còn nhà Tổ, dãy hành lang và trai phòng bao ra ngoài thành một vòng như chữ quốc. Đây là lối dựng quen của chùa lớn đồng bằng Bắc Bộ thời Lê.

Tiền đường hai tầng tám mái

Tòa ngoài cùng, mái chồng hai tầng. Theo Chốn Thiêng, chùa có hai lớp bái đường, mỗi lớp năm gian, lớp trong dựng năm 1899.

Chính điện

Ba gian, bày tượng Phật theo lối chùa Bắc. Chùa giữ khoảng 68 pho tượng bằng gỗ quý, đất nện và đồng.

Nhà Tổ

Bảy gian, thờ các vị tổ Tào Động đã trụ ở đây, đứng đầu là Thiền sư Thủy Nguyệt và Thiền sư Chân Dung Tông Diễn.

Hệ bia

28 tấm bia đá, niên đại trải từ cuối thế kỷ 17 tới giữa thế kỷ 20, trong đó có bia ghi các ngày kỵ đặt sau hậu Phật.

Tháp trong sân

Những ngọn tháp gạch ba tầng, hai ngọn được các nguồn tả là cổ, đứng trong sân trước.

Pho tượng vua cõng Phật

Ở phía bên trái chính điện có pho tượng cao hơn ba mét, sơn son thếp vàng: một vị vua đội mũ miện, mặc triều phục, quỳ gối, trên lưng là tượng Phật ngồi. Tích truyền gắn pho tượng với vua Lê Hy Tông. Vua từng ban lệnh hạn chế tăng sĩ, Thiền sư Tông Diễn dâng lời khuyên rằng đạo Phật lấy trí đức làm đầu, vua nghe mà tỉnh, cho tạc tượng mình cõng Phật để tỏ lòng sám hối. Vì thế nhiều người còn gọi đây là tượng Sám hối.

Đó là tích truyền, không phải điều chép trong chính sử. Nhưng điều chắc chắn là thời Lê Hy Tông, cuối thế kỷ 17 sang đầu thế kỷ 18, trùng khít với thời Thiền sư Tông Diễn trụ trì Hòe Nhai và với tấm bia năm 1703 dựng ở đây. Pho tượng vì thế đứng làm chứng cho mối giao giữa triều đình Lê Trịnh và dòng Tào Động trong buổi đầu dòng ấy bén rễ ở kinh thành.

Chỗ hay hiểu lầm

Có người hiểu pho tượng là hình ảnh nhà vua chịu nhục trước nhà chùa. Cách đọc ấy chệch khỏi nghĩa của tượng. Trong nhà Phật, cõng Phật trên lưng là hình ảnh của người gánh lấy đạo, tức đem giáo pháp vào chính việc của mình mà mang đi. Tượng không nói một vị vua bị hạ xuống, mà nói một vị vua nhận việc hộ trì đạo Phật như gánh nặng tự nguyện. Đó cũng là cách chùa giới thiệu pho tượng với người đến lễ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bia hay văn bản của chùa. Các bài giới thiệu chùa chỉ ghi một điều về hướng: cửa chùa quay về hướng tây. Phần còn lại dưới đây là kiến giải, xin quý vị phân biệt với tư liệu.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là hướng tây. Đền miếu Bắc Bộ phần nhiều chuộng hướng nam, còn Hòe Nhai lại mở cửa về tây. Tư liệu của Phật Giáo Hà Nội giải thích rằng chùa nhìn về đất Phật ở phương tây. Đọc theo phong thủy, đây là trường hợp hướng theo nghĩa chứ không hướng theo khí hậu: người dựng chùa chấp nhận nắng chiều gắt để cửa chính mở về phương mà giáo lý coi là quê của Phật.

Xét về nước, chùa nằm trên dải đất ven con đường nước cũ từ kinh thành ra sông Hồng ở bến Đông Bộ Đầu. Phố cổ Hà Nội vốn là vùng đất bãi, có nhiều lạch nước chảy về sông. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì dòng nước dẫn khí, và một ngôi chùa đứng bên đường nước cũ là đứng trên mạch dẫn ấy. Nay đường nước đã lấp thành phố, nhưng dấu của nó còn trong tên các phố quanh đây.

Về bố cục, lối nội công ngoại quốc tạo một vòng khép quanh khối thờ. Theo lối đọc cổ truyền, vòng ngoài giữ khí, khối trong tụ khí, và nhà Tổ đặt phía sau làm chỗ tựa. Với một tổ đình, cách xếp ấy hợp lẽ: các vị tổ ngồi sau lưng Phật, giữ chỗ dựa cho cả dòng truyền. Cuối cùng là cây hòe mà phố mang tên. Hòe trong lối nghĩ xưa là cây của bậc công khanh, trồng trước cửa để mong sự bền vững. Một tổ đình thiền nằm trên phố cây hòe, đọc theo nghĩa ấy, là chỗ gốc rễ được giữ lâu.

VNgày Giỗ Tổ Và Lễ Trong Năm

Là một tổ đình, Hòe Nhai giữ đều các ngày giỗ tổ của dòng Tào Động bên cạnh những ngày lễ chung của nhà Phật. Các ngày dưới đây theo tư liệu Chốn Thiêng tổng hợp từ bia ký kỵ của chùa, tính theo âm lịch.

Các ngày giỗ tổ và lễ chính của chùa. Nguồn: Chốn Thiêng, trang chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc tự)..
Ngày âm lịchLễGhi chú
Mùng 6 tháng 3Giỗ Tổ Thủy NguyệtNgày kỵ của vị tổ đưa Tào Động về miền Bắc, tổ khai sáng Hồng Phúc tự.
Mùng 8 tháng 4Phật Đản và giỗ chungNgày lễ Phật Đản theo lệ cũ miền Bắc, chùa đồng thời cúng giỗ chung các vị tổ.
16 tháng 7Giỗ Tổ Chân DungNgày kỵ Thiền sư Chân Dung Tông Diễn, người đưa chùa thành tổ đình.
Mùng 5 tháng 10Vía Tổ Đạt MaNgày tưởng niệm Sơ tổ Thiền tông, chung cho mọi dòng thiền.
14 tháng 11Giỗ Tổ Tịnh GiácMột vị tổ trong dòng truyền của chùa.
17 tháng 11Vía A Di Đà và giỗ chungNgày cúng giỗ chung lần thứ hai trong năm.

Ngoài các ngày ấy, chùa đông người vào rằm và mùng một, và vào tháng Giêng. Người trong dòng Tào Động từ các chùa ở đồng bằng Bắc Bộ thường về Hòe Nhai vào ngày giỗ Tổ Thủy Nguyệt, như con cháu về nhà thờ họ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 19 phố Hàng Than, phường Ba Đình (phường Nguyễn Trung Trực cũ, quận Ba Đình cũ), Hà Nội
Đường tới
Chùa ở số 19 phố Hàng Than, phường Ba Đình, Hà Nội, gần đầu cầu Long Biên. Từ khu phố cổ đi bộ lên phía bắc một quãng là tới, đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm cách chùa chừng 900 mét.
Toạ độ
21.0424, 105.8473
Khi tới nơi

Đây là tổ đình đang có tăng chúng tu học, không phải bảo tàng. Lệ thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện và nhà Tổ, đi nhẹ nói khẽ. Không chạm tay vào pho tượng vua cõng Phật và các tấm bia đá. Muốn chụp ảnh trong chính điện hay nhà Tổ, xin hỏi người trông coi chùa trước. Vào ngày giỗ tổ, nhường chỗ trước ban thờ cho chư tăng hành lễ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Hòe Nhai

Contribute photos, information or video for Hoe Nhai Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Hòe Nhai thuộc dòng thiền nào

Thuộc dòng thiền Tào Động. Đây là tổ đình đầu tiên của dòng này ở miền Bắc, do Thiền sư Thủy Nguyệt khai sáng cuối thế kỷ 17 và đệ tử là Thiền sư Chân Dung Tông Diễn phát triển. Các chùa Tào Động ở đồng bằng Bắc Bộ đều lần dòng truyền về đây.

Tào Động khác Lâm Tế thế nào

Hai dòng cùng gốc Thiền tông Trung Hoa. Lâm Tế nổi về lối đánh thẳng bằng tiếng hét, cây gậy và phép khán thoại đầu. Tào Động chuộng lối ngồi lặng soi chiếu, gọi là mặc chiếu, và giáo lý ngũ vị quân thần. Ở một chùa cụ thể, chỗ khác rõ nhất là dòng truyền và bài kệ đặt pháp danh.

Tượng vua cõng Phật ở chùa Hòe Nhai là vua nào

Tích truyền gắn pho tượng với vua Lê Hy Tông. Vua từng hạn chế tăng sĩ, được Thiền sư Tông Diễn khuyên giải, rồi cho tạc tượng mình quỳ cõng Phật để tỏ lòng sám hối. Đây là tích truyền, không chép trong chính sử, nhưng khớp với thời Tông Diễn trụ trì chùa.

Chùa Hòe Nhai còn gọi là gì

Tên chữ là Hồng Phúc tự, nên còn gọi là chùa Hồng Phúc hay tổ đình Hồng Phúc Hòe Nhai. Tên Hòe Nhai nghĩa là phố cây hòe, tên phố có từ thời Lý Trần. Chùa ở số 19 phố Hàng Than, Hà Nội.

Chùa Hòe Nhai có bao nhiêu bia đá

Chùa giữ 28 tấm bia đá. Quý nhất là tấm dựng năm 1703, niên hiệu Chính Hòa thứ 24, do Tiến sĩ Hà Tông Mục soạn. Tấm năm 1698 ghi việc mở rộng chùa nhờ công đức bà Nguyễn Thị Phán và sư Chân Dung.

Đọc Tiếp