VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Đức Kinh Chương 73 Tới 81: Nguyên Văn, Phiên Âm, Dịch Nghĩa Và Giải Nghĩa Từng Câu

道德經 · Lão Tử, Ngũ Thiên Ngôn

Chín chương cuối quay về chỗ mềm thắng chỗ cứng: sống thì mềm, chết thì cứng, nước mềm nhất mà xoi được đá, và chương cuối nói về lời nói của chính cuốn sách.

Thuộc đạo
Đạo Giáo
Niên đại
Định hình quãng thế kỷ 4 tới 3 trước Công nguyên
Bản xưa nhất là thẻ tre Quách Điếm, khai quật năm 1993
Độ dài
81 chương, khoảng 5.000 chữ
Trang này gồm 9 chương cuối phần Đức Kinh
Thường tụng khi
Đọc để hiểu, không thuộc loại kinh tụng theo nghi lễ

Mạch Của Chín Chương Này

Chín chương trước khép lại ở chương 72, chỗ nói rằng dân thôi sợ cái oai thì cái oai lớn mới đến, và thánh nhân tự biết mình mà không tự tỏ mình ra. Chín chương từ 73 tới 81 đây là chín chương cuối của Đạo Đức Kinh, cũng là chín chương cuối phần Đức Kinh, và trang này khép lại trọn tám mươi mốt chương của cả bộ.

Mạch riêng của chúng: chuỗi chương này quay về chỗ mềm thắng cứng rồi nói cho tận. Chương 76 lấy thân người sống và thân người chết ra làm bằng, chương 78 lấy nước ra làm bằng. Giữa hai chương ấy là mấy chương nặng nhất của cả sách về việc cầm quyền: chương 74 về hình phạt, chương 75 về dân đói, chương 77 về chỗ thừa và chỗ thiếu. Chương 80 vẽ một cảnh nước nhỏ dân ít đã gây tranh luận suốt hai nghìn năm, còn chương 81 nói về lời nói, và đọc như một lời tựa bị đặt ở cuối sách.

Đọc rời thì chín chương này dễ thành chín câu châm ngôn rời nhau: lưới trời thưa mà không sót, mềm thắng cứng, nước nhỏ dân ít, lời thật không đẹp. Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi lập luận khép vòng. Cái mềm là cái còn sống, cho nên người trên càng ra tay mạnh càng hỏng việc; cho nên phép trời là bớt chỗ thừa thêm chỗ thiếu chứ không phải ngược lại; và cho nên một cuốn sách nói những điều ấy tất phải nói bằng lối nghe như nói ngược. Chương 78 gọi thẳng lối nói ấy là chính ngôn nhược phản, chương 81 mở đầu bằng việc phân biệt lời thật với lời đẹp: đó là hai chỗ cuốn sách quay lại nói về chính nó.

Chương 73: Nhậm Vi

Chương 73, phần Đức Kinh. Nổi tiếng vì hai câu kết về lưới trời.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1勇於敢則殺,Dũng ư cảm tắc sát,Kẻ dũng theo lối dám làm thì chết,
2勇於不敢則活。Dũng ư bất cảm tắc hoạt.kẻ dũng theo lối dám không làm thì sống.
3此兩者,或利或害。Thử lưỡng giả, hoặc lợi hoặc hại.Hai lối ấy, có lối lợi có lối hại.
4天之所惡,孰知其故?Thiên chi sở ố, thục tri kỳ cố?Điều trời không ưa, ai biết được cớ vì sao?
5是以聖人猶難之。Thị dĩ thánh nhân do nan chi.Cho nên thánh nhân cũng coi đó là việc khó.
6天之道,不爭而善勝,Thiên chi đạo, bất tranh nhi thiện thắng,Đạo của trời: không tranh mà thắng được,
7不言而善應,Bất ngôn nhi thiện ứng,không nói mà ứng được,
8不召而自來,Bất triệu nhi tự lai,không gọi mà tự đến,
9繟然而善謀。Thản nhiên nhi thiện mưu.thư thả mà tính được xa.
10天網恢恢,Thiên võng khôi khôi,Lưới trời rộng thênh thang,
11疏而不失。Sơ nhi bất thất.thưa mà không để sót.
勇於敢則殺,勇於不敢則活
Dũng ư cảm tắc sát, dũng ư bất cảm tắc hoạt

Chữ cảm là dám, là xông tới. Chương đặt hai lối dũng cạnh nhau: dám làm và dám không làm. Cái sức nén mình lại, không ra tay khi chưa phải lúc, ở đây cũng được gọi là dũng, và được nói là lối giữ được mạng.

Hai câu sau hạ giọng ngay: hai lối ấy có lối lợi có lối hại, mà điều trời không ưa thì không ai biết cớ. Câu thị dĩ thánh nhân do nan chi bị một số nhà chú giải coi là câu lọt vào từ chương 63; thư viện giữ theo bản Vương Bật và ghi rõ.

天網恢恢,疏而不失
Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất

Trước hai câu kết là bốn vế vẽ cách trời làm việc: không tranh mà thắng, không nói mà ứng, không gọi mà tự đến, thư thả mà tính được xa. Chữ thiện ở cả bốn vế là khéo, là giỏi ở việc ấy; chữ mưu không phải bày kế mà là cái trật tự tự nó đã tính trước.

Khôi khôi là rộng lớn, sơ là thưa. Hai câu kết chữa lại cả đoạn trên: trời không tranh không nói không gọi, nhưng thưa không phải là hở. Cần phân biệt với câu quen miệng lưới trời lồng lộng thưa mà không lọt, vì chữ cuối câu ấy là chữ lậu, còn nguyên văn chép chữ thất, nghĩa là để sót.

Chương 74: Chế Hoặc

Chương 74, phần Đức Kinh. Chương bàn về giới hạn của hình phạt nặng.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1民不畏死,Dân bất úy tử,Dân không sợ chết,
2奈何以死懼之?Nại hà dĩ tử cụ chi?thì đem cái chết ra dọa họ sao được?
3若使民常畏死,Nhược sử dân thường úy tử,Nếu khiến dân vẫn còn sợ chết,
4而為奇者,Nhi vi kỳ giả,mà có kẻ làm điều quái lạ trái phép,
5吾得執而殺之,Ngô đắc chấp nhi sát chi,ta bắt được rồi đem giết đi,
6孰敢?Thục cảm?thì còn ai dám?
7常有司殺者殺。Thường hữu ty sát giả sát.Việc giết vốn đã có kẻ giữ phận ấy làm.
8夫代司殺者殺,Phù đại ty sát giả sát,Thay kẻ giữ phận ấy mà giết,
9是謂代大匠斲。Thị vị đại đại tượng trác.gọi là thay thợ cả mà đẽo gỗ.
10夫代大匠斲者,Phù đại đại tượng trác giả,Kẻ thay thợ cả mà đẽo gỗ,
11希有不傷其手矣。Hy hữu bất thương kỳ thủ hĩ.hiếm khi không tự làm thương tay mình.
民不畏死,奈何以死懼之
Dân bất úy tử, nại hà dĩ tử cụ chi

Câu mở đầu là một câu hỏi ngặt: khi dân đã không còn sợ chết nữa thì đem cái chết ra đe còn tác dụng gì. Lập luận đi từ chỗ rất giản dị, rằng hình phạt chỉ có sức khi người chịu còn thiết sống; đẩy dân tới chỗ không thiết sống thì hình phạt nặng nhất cũng thành lời nói suông.

Đây là văn luận thời Chiến Quốc, cùng thời ấy có phái chủ trương hình phạt phải nặng và phải rõ, và chương 74 đứng ở phía đối lại. Thư viện giải nghĩa văn bản và nêu bối cảnh ấy, dừng ở đó.

常有司殺者殺,是謂代大匠斲
Thường hữu ty sát giả sát, thị vị đại đại tượng trác

Ty sát giả là kẻ giữ việc giết; câu này nói việc ấy vốn đã có người giữ phận, không phải phần của mình. Kẻ ấy là ai thì các nhà chú giải hiểu khác nhau. Một lối, thấy ở Hà Thượng Công, coi đó là trời, tức lẽ tự nhiên; một lối coi đó là chức quan giữ hình pháp vốn có trong nước, tức nói người trên đừng vượt phép tắc mà tự tay xử.

Thay thợ cả mà đẽo thì hiếm khi không tự làm thương tay mình. Câu ấy đáng nhớ vì nó không lấy lý mà lấy hậu quả để nói: không bảo giành việc người khác là sai đạo lý, chỉ nói làm thế thì tự thương mình.

Chương 75: Tham Tổn

Chương 75, phần Đức Kinh. Ba câu song song quy cái tệ của dân về cái làm quá của người trên.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1民之饑,Dân chi cơ,Dân bị đói,
2以其上食稅之多,Dĩ kỳ thượng thực thuế chi đa,là vì người trên ăn vào phần thuế quá nhiều,
3是以饑。Thị dĩ cơ.cho nên đói.
4民之難治,Dân chi nan trị,Dân khó cai trị,
5以其上之有為,Dĩ kỳ thượng chi hữu vi,là vì người trên bày ra quá nhiều việc,
6是以難治。Thị dĩ nan trị.cho nên khó trị.
7民之輕死,Dân chi khinh tử,Dân coi nhẹ cái chết,
8以其上求生之厚,Dĩ kỳ thượng cầu sinh chi hậu,là vì người trên tìm cách sống cho dày,
9是以輕死。Thị dĩ khinh tử.cho nên coi nhẹ cái chết.
10夫唯無以生為者,Phù duy vô dĩ sinh vi giả,Chỉ kẻ không lấy việc dưỡng sống làm điều phải lo,
11是賢於貴生。Thị hiền ư quý sinh.mới hơn được kẻ coi trọng sự sống của mình.
民之饑,以其上食稅之多
Dân chi cơ, dĩ kỳ thượng thực thuế chi đa

Ba câu đầu chương dựng cùng một khuôn: nêu một cái tệ của dân, quy về một cái làm quá của người trên, rồi nhắc lại cái tệ ấy. Dân đói vì người trên ăn thuế nhiều; dân khó trị vì người trên bày nhiều việc; dân coi nhẹ cái chết vì người trên tìm cách sống cho dày.

Thực thuế là ăn vào phần thuế. Đọc chương này phải đặt vào thời Chiến Quốc, thời mà phép thu của các nước đã vượt xa mức một phần mười của chế độ cũ. Thư viện dừng ở chỗ ấy, không đem câu này soi sang bất cứ thời nào về sau.

夫唯無以生為者,是賢於貴生
Phù duy vô dĩ sinh vi giả, thị hiền ư quý sinh

Chương nói người trên lo dưỡng sống cho mình quá mức thì dân hóa ra coi nhẹ cái chết, vì phần bị vét đi để làm nên cái dày kia chính là phần sống của dân.

Hai câu cuối gọn mà khó. Chữ hiền ở đây là hơn, là trội hơn, không phải hiền lành. Câu ấy không dạy bỏ mạng sống; nó nói càng đem cái sống của mình ra làm trung tâm mọi tính toán thì càng giữ không nổi, đúng mạch chương 13 nói về sủng và nhục.

Chương 76: Giới Cường

Chương 76, phần Đức Kinh. Chương nói gọn nhất chủ đề mềm thắng cứng.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1人之生也柔弱,Nhân chi sinh dã nhu nhược,Người lúc sống thì mềm và yếu,
2其死也堅強。Kỳ tử dã kiên cường.lúc chết thì cứng và rắn.
3萬物草木之生也柔脆,Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy,Cỏ cây muôn vật lúc sống thì mềm và giòn,
4其死也枯槁。Kỳ tử dã khô cảo.lúc chết thì khô teo cứng lại.
5故堅強者死之徒,Cố kiên cường giả tử chi đồ,Cho nên cứng rắn là hạng thuộc về chết,
6柔弱者生之徒。Nhu nhược giả sinh chi đồ.mềm yếu là hạng thuộc về sống.
7是以兵強則不勝,Thị dĩ binh cường tắc bất thắng,Vì vậy quân cứng mạnh thì không thắng,
8木強則折。Mộc cường tắc chiết.cây cứng thì gãy.
9強大處下,Cường đại xử hạ,Cái mạnh và lớn ở chỗ dưới,
10柔弱處上。Nhu nhược xử thượng.cái mềm và yếu ở chỗ trên.
人之生也柔弱,其死也堅強
Nhân chi sinh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường

Đây là một quan sát ai cũng kiểm được: thân người lúc sống thì mềm, khớp còn co giãn; lúc chết thì cứng lại. Chương 76 lấy chỗ ấy làm bằng rồi rút ra một quy tắc rộng hơn.

Cần phân minh một chỗ dễ lẫn nghĩa. Nhu nhược trong sách này không mang nghĩa yếu ớt đáng chê của tiếng Việt hôm nay; nó chỉ trạng thái còn mềm, còn co giãn được, còn chỗ để biến. Chữ cường cũng không hẳn là mạnh theo nghĩa tốt, mà là cứng, là đã định hình không chuyển được nữa.

萬物草木之生也柔脆,其死也枯槁
Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy, kỳ tử dã khô cảo

Vế thứ hai đem cỏ cây ra làm bằng chứng thứ hai: lúc sống thì mềm và giòn, lúc chết thì khô teo cứng lại. Nhu thúy là mềm và giòn; khô cảo là khô quắt, cứng như que củi.

Ở câu này bản Vương Bật chép bốn chữ vạn vật thảo mộc. Nhiều nhà chú giải cho rằng hai chữ vạn vật là chữ lọt vào, vì vế trước nói người, vế này chỉ nên nói cỏ cây cho cân. Thư viện giữ theo bản Vương Bật và ghi rõ chỗ này.

兵強則不勝,木強則折
Binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc chiết

Hai vế áp quy tắc trên vào hai việc: quân mạnh thì không thắng, cây cứng thì gãy. Vế quân dễ gây thắc mắc vì thường mạnh mới thắng; ý ở đây là cái mạnh đã cứng lại, không còn biến được nữa, gặp chỗ phải mềm thì vỡ.

Đây là chỗ chữ nghĩa hỏng nặng nhất trong chín chương. Bản Vương Bật chép vế sau là mộc cường tắc binh, đọc không thành nghĩa; hầu hết các nhà chú giải coi đó là chữ chép sai và sửa thành chiết, nghĩa là gãy, theo các bản khác cùng những chỗ sách xưa dẫn lại. Thư viện chép chiết và nói rõ đó là chữ đã sửa.

強大處下,柔弱處上
Cường đại xử hạ, nhu nhược xử thượng

Hai câu kết đảo một thứ bậc rất quen: cái mạnh và lớn ở chỗ dưới, cái mềm và yếu ở chỗ trên. Hiểu theo hình ảnh cây thì rõ ngay: gốc và thân to cứng ở dưới, ngọn và lá non mềm ở trên.

Các nhà chú giải hiểu hai chữ thượng và hạ theo hai lối: một lối coi là tả vị trí thật của cây; một lối coi là bậc cao bậc thấp, tức nói cái mềm mới ở bậc trên.

Chương 77: Thiên Đạo

Chương 77, phần Đức Kinh. Nổi tiếng vì hình ảnh cây cung và câu bớt chỗ thừa thêm chỗ thiếu.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1天之道,其猶張弓與?Thiên chi đạo, kỳ do trương cung dư?Đạo của trời giống như việc giương cây cung vậy chăng?
2高者抑之,Cao giả ức chi,Đầu cao thì ép xuống,
3下者舉之;Hạ giả cử chi;đầu thấp thì nâng lên;
4有餘者損之,Hữu dư giả tổn chi,chỗ thừa thì bớt đi,
5不足者補之。Bất túc giả bổ chi.chỗ thiếu thì thêm vào.
6天之道,損有餘而補不足。Thiên chi đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc.Đạo của trời là bớt chỗ thừa mà thêm vào chỗ thiếu.
7人之道則不然,Nhân chi đạo tắc bất nhiên,Đạo của người thì không thế,
8損不足以奉有餘。Tổn bất túc dĩ phụng hữu dư.bớt của chỗ thiếu để cấp thêm cho chỗ thừa.
9孰能有餘以奉天下?Thục năng hữu dư dĩ phụng thiên hạ?Ai đem chỗ thừa của mình mà cấp cho thiên hạ được?
10唯有道者。Duy hữu đạo giả.Chỉ người có đạo.
11是以聖人為而不恃,Thị dĩ thánh nhân vi nhi bất thị,Cho nên thánh nhân làm mà không cậy công,
12功成而不處,Công thành nhi bất xử,việc xong mà không ở lại chiếm chỗ,
13其不欲見賢。Kỳ bất dục hiện hiền.vì không muốn tỏ ra mình tài.
天之道,其猶張弓與
Thiên chi đạo, kỳ do trương cung dư

Trương cung hiểu theo hai lối, và đây là chỗ các nhà chú giải khác nhau thật. Một lối hiểu là lắp dây vào cung: muốn tra dây thì phải ép đầu đang cao xuống, nâng đầu đang thấp lên cho hai đầu cân nhau. Một lối hiểu là giương cung mà bắn, ngắm cho bằng rồi buông.

Lối thứ nhất khớp hơn với bốn vế tiếp sau, vì bốn vế ấy nói việc làm cho cân chứ không nói việc nhắm bắn. Nhưng cả hai lối đều dẫn về một nghĩa: phép trời là việc chỉnh cho bằng. Một chỗ chữ nghĩa cần ghi: vế bất túc giả bổ chi có bản chép bất túc giả dữ chi, nghĩa là chỗ thiếu thì cấp cho.

損有餘而補不足
Tổn hữu dư nhi bổ bất túc

Câu này nêu phép trời thành một mệnh đề gọn: bớt chỗ thừa mà thêm vào chỗ thiếu. Câu sau đối lại rất thẳng: đạo của người thì không thế, bớt của chỗ thiếu để cấp thêm cho chỗ thừa. Đây là một trong ít chỗ trong sách nói toạc rằng lối người đang làm đi ngược lối trời; câu hỏi tiếp đó được trả lời gọn: chỉ người có đạo.

Ba vế cuối chương: làm mà không cậy công, việc xong mà không ở lại chiếm chỗ, vì không muốn tỏ ra mình tài. Chữ kiến trong cụm cuối đọc là hiện, nghĩa là tỏ ra; đọc lầm thành kiến với nghĩa thấy thì cả câu hóa ra không muốn thấy người tài, sai hẳn mạch.

Chữ khó trong chương 73 tới 77.
ChữÂmNghĩa trong câu
Ghét, không ưa. Ở câu này không đọc là ác
繟然thản nhiênThư thả rộng rãi, không gấp gáp. Có bản chép chữ thản viết lối khác
恢恢khôi khôiRộng lớn mênh mông
trácĐẽo gỗ, chặt gỗ
司殺者ty sát giảKẻ giữ phận việc giết, kẻ nắm quyền hành hình
枯槁khô cảoKhô quắt, teo cứng lại, nói về cây đã chết
見賢hiện hiềnTỏ ra mình tài giỏi. Chữ đầu đọc hiện, không đọc kiến

Chương 78: Nhậm Tín

Chương 78, phần Đức Kinh. Chương lấy nước làm bằng, kết bằng bốn chữ nói về cách nói của cả sách.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1天下莫柔弱於水,Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy,Trong thiên hạ không gì mềm yếu hơn nước,
2而攻堅強者莫之能勝,Nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng,mà về việc xoi mòn cái cứng rắn thì không gì thắng nổi nước,
3以其無以易之。Dĩ kỳ vô dĩ dịch chi.bởi không lấy gì thay được chỗ ấy của nó.
4弱之勝強,Nhược chi thắng cường,Yếu thắng mạnh,
5柔之勝剛,Nhu chi thắng cương,mềm thắng cứng,
6天下莫不知,Thiên hạ mạc bất tri,thiên hạ không ai không biết,
7莫能行。Mạc năng hành.mà không ai làm được.
8是以聖人云:Thị dĩ thánh nhân vân:Cho nên thánh nhân nói:
9受國之垢,Thụ quốc chi cấu,nhận lấy chỗ nhơ nhuốc của một nước,
10是謂社稷主;Thị vị xã tắc chủ;thế mới gọi là chủ của xã tắc;
11受國不祥,Thụ quốc bất tường,nhận lấy điều chẳng lành của một nước,
12是謂天下王。Thị vị thiên hạ vương.thế mới gọi là vua của thiên hạ.
13正言若反。Chính ngôn nhược phản.Lời nói ngay nghe như lời nói ngược.
天下莫柔弱於水,而攻堅強者莫之能勝
Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng

Chương 78 lấy nước ra làm bằng. Nước là thứ mềm yếu nhất, đổ vào hình nào thì theo hình ấy; nhưng về việc xoi mòn đá cứng thì không gì thắng nổi nước. Sức của nước không nằm ở một cú mạnh, nó nằm ở chỗ nước không ngừng và không cưỡng lại.

Vế dĩ kỳ vô dĩ dịch chi hiểu theo hai lối. Một lối: vì không lấy gì thay được chỗ mềm ấy của nước. Một lối: vì nước không đem cái gì ra đổi chác với vật nó gặp, nên không có chỗ cho vật kia chống lại.

弱之勝強,柔之勝剛
Nhược chi thắng cường, nhu chi thắng cương

Bốn chữ mỗi vế, hai vế gọn như một câu ngạn ngữ: yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng. Chữ cương là cứng theo lối rắn chắc, đối với chữ nhu là mềm.

Hai câu tiếp mới là chỗ sắc: thiên hạ không ai không biết, mà không ai làm được. Cái khó không ở chỗ hiểu mà ở chỗ làm, vì làm thì phải nhận phần thấp, phần chịu, phần không tranh.

受國之垢,是謂社稷主
Thụ quốc chi cấu, thị vị xã tắc chủ

Cấu là đất bẩn, chỗ nhơ; có bản chép chữ cấu viết lối khác, nghĩa là lời mắng nhiếc. Bất tường là điều chẳng lành.

Hai vế nói rằng ai nhận lấy chỗ nhơ nhuốc và điều chẳng lành của một nước thì mới thật là chủ của nước ấy: chỗ người ta tránh mới là chỗ định ra danh phận. Hai vế này được dẫn bằng ba chữ thánh nhân vân, tức dẫn lời người trước, cho thấy chúng đã là lời truyền lại chứ không phải câu tác giả mới đặt.

正言若反
Chính ngôn nhược phản

Bốn chữ này đứng riêng làm câu kết chương, và chúng không nói về nước cũng không nói về vua, chúng nói về cách nói. Chính ngôn là lời ngay, lời đúng; nhược phản là nghe như trái ngược. Đây là chìa để đọc cả sách, vì rất nhiều câu trong Đạo Đức Kinh có đúng hình dạng ấy: cái lớn thành tựu nghe như còn khuyết ở chương 45, đạo sáng nghe như tối ở chương 41.

Bốn chữ ấy cũng có hai lối hiểu. Một lối: lời đúng nghe ngược tai người thường, tức nói về cảm giác của người nghe. Một lối: muốn nói cho đúng thì phải nói ngược lại điều người ta quen nói, tức lối nói ngược là một phép chữa sai chứ không phải thói chơi chữ. Lối thứ hai giải thích được vì sao sách giữ giọng ấy suốt tám mươi mốt chương.

Chương 79: Nhậm Khế

Chương 79, phần Đức Kinh. Chương về nửa thẻ khế ước và về đạo trời không thân riêng ai.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1和大怨,Hòa đại oán,Đi hòa giải một mối oán lớn,
2必有餘怨。Tất hữu dư oán.tất còn sót lại oán dư.
3安可以為善?An khả dĩ vi thiện?Như thế sao coi là xong cho phải được?
4是以聖人執左契,Thị dĩ thánh nhân chấp tả khế,Cho nên thánh nhân giữ nửa thẻ bên trái,
5而不責於人。Nhi bất trách ư nhân.mà không đem ra đòi ở người.
6有德司契,Hữu đức ty khế,Người có đức thì giữ phần thẻ,
7無德司徹。Vô đức ty triệt.người không đức thì giữ phần thu.
8天道無親,Thiên đạo vô thân,Đạo trời không riêng thân với ai,
9常與善人。Thường dữ thiện nhân.mà thường ở về phía người khéo thuận theo nó.
是以聖人執左契,而不責於人
Thị dĩ thánh nhân chấp tả khế, nhi bất trách ư nhân

Khế là thẻ khế ước, khắc chữ rồi chẻ đôi, mỗi bên giữ một nửa để khi cần thì ghép lại làm bằng. Chữ trách ở đây là đòi, không phải trách mắng. Mạch chương mở bằng một nhận xét lạnh: hòa giải một mối oán lớn thì tất còn sót oán dư; giữ thẻ mà không đòi chính là cách không để mối oán sinh ra từ đầu.

Nửa bên trái là nửa của ai thì các nhà chú giải không nhất trí. Một lối nói đó là nửa của bên cho, tức thánh nhân có bằng trong tay, có quyền đòi mà không đòi. Một lối nói đó là nửa của bên chịu, tức thánh nhân tự nhận lấy phần thấp.

天道無親,常與善人
Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân

Trước hai câu này là cặp đối: có đức thì giữ phần thẻ, không đức thì giữ phần thu. Chữ triệt hiểu theo hai lối, một lối coi là thu lấy lột lấy, một lối gắn với phép thuế triệt của nhà Chu.

Vô thân là không riêng thân với ai. Nhưng câu sau lại nói thường ở về phía người thiện, nghe như trái với câu trước và trái với chương 5 nói trời đất không có lòng riêng. Các nhà chú giải chữa chỗ ấy bằng cách đọc chữ dữ là đi cùng chứ không phải ban ơn, và đọc thiện nhân là người khéo thuận lẽ tự nhiên chứ không phải người tốt theo bảng đức mục. Hiểu vậy thì trời không chọn ai: ai thuận lẽ thì được lẽ ấy đưa đi.

Chương 80: Độc Lập

Chương 80, phần Đức Kinh. Chương gây tranh luận nhiều nhất, tả cảnh nước nhỏ dân ít.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1小國寡民。Tiểu quốc quả dân.Nước nhỏ, dân ít.
2使有什伯之器而不用;Sử hữu thập bá chi khí nhi bất dụng;Khiến có sẵn đồ của đội mười đội trăm mà không phải dùng đến;
3使民重死而不遠徙。Sử dân trọng tử nhi bất viễn tỉ.khiến dân coi trọng cái chết mà không phải dời đi xa.
4雖有舟輿,Tuy hữu chu dư,Dù có thuyền có xe,
5無所乘之;Vô sở thừa chi;cũng không có việc gì phải ngồi lên;
6雖有甲兵,Tuy hữu giáp binh,dù có áo giáp binh khí,
7無所陳之。Vô sở trần chi.cũng không có dịp nào phải bày ra.
8使民復結繩而用之。Sử dân phục kết thằng nhi dụng chi.Khiến dân trở lại lối thắt nút dây mà dùng.
9甘其食,美其服,Cam kỳ thực, mỹ kỳ phục,Thấy cơm mình là ngon, thấy áo mình là đẹp,
10安其居,樂其俗。An kỳ cư, lạc kỳ tục.ở yên trong chỗ mình ở, vui với tục lệ của mình.
11鄰國相望,Lân quốc tương vọng,Nước bên cạnh trông thấy nhau,
12雞犬之聲相聞,Kê khuyển chi thanh tương văn,tiếng gà tiếng chó nghe rõ sang nhau,
13民至老死不相往來。Dân chí lão tử bất tương vãng lai.mà dân đến già đến chết cũng không phải qua lại với nhau.
小國寡民
Tiểu quốc quả dân

Bốn chữ mở chương là câu tả điều kiện, không phải lời hô hào: nước nhỏ, dân ít. Bản Vương Bật chép chữ quốc; hai bản bạch thư Mã Vương Đôi chép chữ bang, cũng nghĩa là nước. Lối giải thường gặp cho chỗ khác chữ này là người chép thời Hán phải tránh chữ bang vì trùng tên Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Câu tiếp có một cụm khó, thập bá chi khí, hiểu theo hai lối. Một lối coi thập bá là đơn vị mười người trăm người trong quân ngũ, vậy đây là đồ binh của các đội ấy. Một lối coi thập bá là mười lần trăm lần, vậy đây là thứ đồ dùng lợi gấp mười gấp trăm.

雖有舟輿,無所乘之
Tuy hữu chu dư, vô sở thừa chi

Đây là chỗ phải đọc cho kỹ, vì nó quyết định cách hiểu cả chương. Hai chữ tuy hữu nghĩa là dù có, tức vẫn có: thuyền và xe vẫn có đó, áo giáp binh khí vẫn có đó. Chương không nói phá thuyền đốt xe, cũng không nói nước ấy chưa biết làm thuyền làm xe. Nó nói vô sở thừa chi, vô sở trần chi, tức không có việc gì phải ngồi lên, không có dịp nào phải bày ra.

Chỗ nhấn vì vậy nằm ở chữ sở, tức ở cái dịp dùng, không nằm ở vật. Riêng câu sử dân phục kết thằng nhi dụng chi thì khó, vì chữ phục là trở lại và kết thằng là lối thắt nút dây ghi việc thời chưa có chữ viết; đó là chỗ duy nhất trong chương nói tới việc trở lại một lối cũ.

甘其食,美其服,安其居,樂其俗
Cam kỳ thực, mỹ kỳ phục, an kỳ cư, lạc kỳ tục

Bốn vế bốn chữ, mỗi vế một động từ đặt trước chữ kỳ, tức trước cái của mình. Chỗ tinh của câu nằm ở ngữ pháp: cam là ngọt, ở đây dùng như động từ nghĩa là thấy ngọt; mỹ là đẹp, ở đây là thấy đẹp. Vậy bốn vế không tả chất lượng của cơm áo nhà cửa tục lệ, chúng tả cách người trong nước ấy nhìn cơm áo nhà cửa tục lệ của chính mình.

Hiểu như thế thì câu không nói cơm ngon áo đẹp, nó nói không có sự so đo với cơm áo của nơi khác.

鄰國相望,雞犬之聲相聞
Lân quốc tương vọng, kê khuyển chi thanh tương văn

Nước bên cạnh trông thấy nhau, tiếng gà tiếng chó nghe rõ sang nhau, mà dân đến già đến chết cũng không qua lại. Chỗ va nhau giữa rất gần và không qua lại chính là chỗ gây tranh luận suốt hai nghìn năm.

Lối đọc coi chương 80 là chủ trương lui về đời sống nguyên thủy, bỏ thuyền bỏ xe bỏ cả chữ viết, là một lối đọc có thật và có bề dày trong lịch sử chú giải, không phải do người nay bày đặt ra. Bài Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Uyên Minh là hậu duệ văn học nổi tiếng nhất của lối đọc ấy.

Lối đọc thứ hai dựa vào ba chỗ trong chính nguyên văn: hai chữ tuy hữu cho thấy thuyền xe giáp binh vẫn còn đó; hai chữ vô sở cho thấy thứ thiếu là dịp dùng chứ không phải vật; và bất tương vãng lai có thể đọc là không phải chạy sang nhau vì không thiếu gì của nhau.

Thư viện nêu cả hai lối và không chọn thay quý vị. Chỉ xin ghi thêm một điều thuần về chữ nghĩa: trong cả chương không có một chữ nào ở dạng cấm hay dạng phá; mọi vế đều ở dạng sử, tức khiến cho, và dạng vô sở, tức không có dịp.

Chương 81: Hiển Chất

Chương 81, phần Đức Kinh, và là chương cuối cùng của cả sách. Chương nói về lời nói và về việc không tích chứa.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1信言不美,Tín ngôn bất mỹ,Lời thật thì không đẹp,
2美言不信。Mỹ ngôn bất tín.lời đẹp thì không thật.
3善者不辯,Thiện giả bất biện,Người giỏi thì không tranh biện,
4辯者不善。Biện giả bất thiện.người tranh biện thì không giỏi.
5知者不博,Tri giả bất bác,Người biết thì không cần rộng khắp,
6博者不知。Bác giả bất tri.người rộng khắp thì không biết.
7聖人不積,Thánh nhân bất tích,Thánh nhân không tích chứa,
8既以為人己愈有,Ký dĩ vị nhân kỷ dũ hữu,đã đem ra làm cho người thì mình càng có thêm,
9既以與人己愈多。Ký dĩ dữ nhân kỷ dũ đa.đã đem cho người thì mình càng nhiều thêm.
10故天之道,利而不害;Cố thiên chi đạo, lợi nhi bất hại;Cho nên đạo của trời là làm lợi mà không làm hại;
11聖人之道,為而不爭。Thánh nhân chi đạo, vi nhi bất tranh.đạo của thánh nhân là làm mà không tranh.
信言不美,美言不信
Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín

Ba cặp câu mở chương dựng theo cùng một khuôn đối: lời thật không đẹp, lời đẹp không thật; người giỏi không tranh biện, người tranh biện không giỏi; người biết không cần rộng khắp, người rộng khắp thì không biết. Chữ biện là tranh biện, đấu lý; chữ bác là biết nhiều thứ.

Cặp thứ ba dễ gây phản ứng nhất vì nghe như chê việc học rộng; chỗ đối ở đây là giữa biết một cái cho tới gốc và biết nhiều cái ở ngoài mặt, không phải giữa học và không học. Đặt ba cặp này ở đầu chương cuối là việc có tính toán: sách vừa nói xong tám mươi chương thì đặt chính lời của mình vào chỗ bị hỏi.

聖人不積,既以為人己愈有
Thánh nhân bất tích, ký dĩ vị nhân kỷ dũ hữu

Tích là chất lại, dồn lại mà giữ. Chữ ký ở đây phần nhiều được đọc theo nghĩa tận, tức đem ra cho hết; chữ dũ là càng. Có bản chép vô tích thay cho bất tích, nghĩa không đổi. Chữ vi trong cụm vị nhân đọc là vị, nghĩa là làm cho, không đọc là vi với nghĩa làm ra.

Lập luận nghe nghịch lý nhưng ăn đúng mạch cả sách: cái gì dồn lại mà giữ thì thành cứng, thành có chỗ để mất; cái gì đem ra thì còn ở trạng thái đi lại được. Đây là câu cuối cùng trong sách nói thánh nhân làm gì, và nó nói bằng một chữ phủ định.

天之道,利而不害
Thiên chi đạo, lợi nhi bất hại

Vế này thu phép trời vào bốn chữ: làm lợi mà không làm hại. Bốn chữ ấy nhắc lại chương 77 và chương 73.

Đặt ở câu kết, vế này làm một việc mà cả sách trước đó ít làm: nói về trời bằng một mệnh đề khẳng định. Suốt tám mươi chương, trời phần lớn được tả bằng lối phủ định, không nói, không gọi, không có lòng riêng; tới đây mới có một vế nói trời làm gì.

聖人之道,為而不爭
Thánh nhân chi đạo, vi nhi bất tranh

Vế cuối cùng của cả sách nói về người, và chữ đáng nhấn là chữ vi: làm, chứ không phải không làm. Suốt sách nói vô vi, tới câu cuối thì nói rõ chỗ phải bỏ là chỗ tranh, không phải chỗ làm. Câu kết vì vậy chữa lại đúng chỗ dễ hiểu lầm nhất của cả bộ, và chữa ở đúng câu cuối cùng.

Chương 81 đóng sách theo một lối riêng. Nó bàn về lời nói, rồi về việc không tích chứa, rồi hạ hai vế đối về trời và về người; ba việc ấy làm cho chương đọc như một lời tựa bị đặt ở cuối.

Cần ghi rõ một điều về hình thức. Số tám mươi mốt chương và lối chia hai phần Đạo Kinh Đức Kinh là của các bản truyền về sau, trong đó bản Hà Thượng Công đã chia đủ số ấy và đặt tên từng chương; hai bản bạch thư Mã Vương Đôi xếp phần Đức trước phần Đạo và không chia chương theo lối đang đọc. Vậy chỗ ta gọi là chương cuối là chỗ cuối của một lối sắp xếp về sau.

Chữ khó trong chương 78 tới 81.
ChữÂmNghĩa trong câu
cấuĐất bẩn, chỗ nhơ nhuốc. Có bản chép chữ cấu khác, nghĩa là lời mắng nhiếc
社稷xã tắcThần đất và thần lúa, dùng để chỉ nền nước
左契tả khếNửa bên trái của thẻ khế ước chẻ đôi, giữ lại làm bằng
司徹ty triệtGiữ việc thu lấy. Có người gắn với phép thuế triệt của nhà Chu
什伯之器thập bá chi khíHiểu hai lối: đồ binh của đội mười đội trăm, hoặc đồ dùng lợi gấp mười gấp trăm
結繩kết thằngThắt nút dây để ghi việc, lối ghi chép thời chưa có chữ viết
Càng, càng thêm. Không đọc là dụ

拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương

  • Chương 73Hai lối dũng và lưới trời
    Dám làm thì chết, dám không làm thì sống. Lưới trời rộng thênh, thưa mà không để sót.
  • Chương 74Giới hạn của hình phạt
    Dân đã không sợ chết thì cái chết hết sức đe. Thay thợ cả mà đẽo gỗ thì tự làm thương tay mình.
  • Chương 75Ba cái tệ một nguồn
    Dân đói vì người trên ăn thuế nhiều, dân khó trị vì người trên bày nhiều việc, dân coi nhẹ chết vì người trên sống dày.
  • Chương 76Sống thì mềm, chết thì cứng
    Cứng rắn thuộc về chết, mềm yếu thuộc về sống. Mạnh lớn ở dưới, mềm yếu ở trên.
  • Chương 77Cây cung và phép làm cho cân
    Phép trời bớt chỗ thừa thêm chỗ thiếu; phép người thường bớt chỗ thiếu để cấp cho chỗ thừa.
  • Chương 78Nước và lối nói ngược
    Mềm nhất mà xoi được cái cứng nhất. Thiên hạ ai cũng biết mà không ai làm. Lời ngay nghe như lời ngược.
  • Chương 79Giữ thẻ mà không đòi
    Hòa một mối oán lớn thì vẫn còn oán dư. Đạo trời không thân riêng ai, thường ở về phía người thuận lẽ.
  • Chương 80Nước nhỏ dân ít
    Thuyền xe giáp binh vẫn có đó mà không có dịp dùng. Chương bị tranh luận nhiều nhất về chỗ trở lại lối cũ.
  • Chương 81Lời thật và việc không tích
    Lời thật không đẹp. Thánh nhân không tích chứa. Đạo trời làm lợi không làm hại, đạo thánh nhân làm mà không tranh.

Trục chung của chín chương: chỗ mềm là chỗ còn sống, chỗ cứng là chỗ đã chết. Từ một quan sát về thân xác, chương 76 rút ra một thứ bậc ngược với lẽ thường, mạnh lớn nằm dưới, mềm yếu nằm trên; chương 78 đem nước ra làm bằng chứng rằng cái mềm nhất mới là cái không gì cản nổi. Ba chương bàn việc cầm quyền đứng chung một lối: hình phạt nặng tới một mức thì tự mất hiệu lực ở chương 74, dân đói vì người trên ăn thuế nhiều ở chương 75, phép trời là bớt chỗ thừa thêm chỗ thiếu còn phép người thường làm ngược lại ở chương 77. Chương 79 và 80 nói về chỗ không cần ra tay.

Nhìn lại trọn bộ. Đạo Kinh ba mươi bảy chương mở bằng câu đạo mà nói ra được thì không còn là đạo thường hằng, tức mở bằng một lời từ chối định nghĩa. Đức Kinh bốn mươi bốn chương khép bằng câu thánh nhân không tích chứa, tức khép bằng một lời từ chối chiếm giữ. Hai đầu sách làm cùng một việc ở hai tầng: đầu sách nói không nắm được bằng lời, cuối sách nói không giữ được bằng tay. Ở khoảng giữa, chương 38 chia đôi cuốn sách bằng một bậc thang đức mục đi xuống, chương 42 và chương 51 dựng lối sinh thành của vạn vật.

Vì vậy chương 81 không phải một chương thêm vào cho đủ số. Nó đứng ở cuối mà làm việc của một lời tựa: nói về lời nói, phân biệt lời thật với lời đẹp, rồi đóng bằng một cặp câu gọn về đạo trời và đạo người. Còn số tám mươi mốt chương thì là của bản truyền về sau chứ không phải của nguyên tác, nên chỗ gọi là câu cuối cùng cần được hiểu đúng phạm vi ấy.

拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm

Chương 74 và 75 nhắm vào một chính quyền cụ thể

Không. Đây là văn luận thời Chiến Quốc, bàn chung về lối cầm quyền dựa vào hình phạt nặng và phép thu nặng. Văn bản không nêu tên nước nào, người nào, việc nào.

Chương 80 chủ trương lui về đời sống nguyên thủy

Lối đọc ấy có thật trong lịch sử chú giải. Nhưng nguyên văn nói thuyền xe giáp binh vẫn có đó mà không có dịp dùng, tức chỗ thiếu là dịp dùng chứ không phải vật. Thư viện nêu cả hai lối.

Mềm thắng cứng là một mẹo để thắng người

Không. Chương 76 nói về sống và chết của thân xác và cỏ cây, chương 78 nói về nước xoi đá qua thời gian dài. Cả hai là quan sát về trạng thái, không phải phép tranh hơn thua.

Thiên đạo vô thân nghĩa là trời lạnh nhạt với người tốt

Chương 79 nói vô thân là không thiên riêng ai, rồi nói thường ở về phía người thiện. Chữ dữ được hiểu là đi cùng chứ không phải ban ơn, và thiện nhân là người khéo thuận lẽ.

Tín ngôn bất mỹ nghĩa là lời càng thô càng thật

Không. Chương 81 nói lời thật không cần trang sức, chứ không nói thô vụng là dấu hiệu của sự thật. Đây là lời cảnh giác với sự trau chuốt, không phải lời khen sự thô.

Hỏi Đáp Nhanh

Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín nghĩa là gì

Đó là hai câu mở đầu chương 81, chương cuối Đạo Đức Kinh, nghĩa là lời thật thì không đẹp, lời đẹp thì không thật. Hai câu này đi cùng hai cặp nữa: người giỏi không tranh biện, người tranh biện không giỏi; người biết không cần rộng khắp, người rộng khắp thì không biết. Chỗ đối không phải giữa học và không học, mà giữa biết một cái cho tới gốc và biết nhiều cái ở ngoài mặt.

Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất nghĩa là gì

Là hai câu kết chương 73, nghĩa là lưới trời rộng thênh thang, thưa mà không để sót. Cần phân biệt với câu quen miệng trong tiếng Việt là lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt, vì chữ cuối của câu quen miệng ấy là chữ lậu, nghĩa là lọt ra ngoài, còn nguyên văn Đạo Đức Kinh chép chữ thất, nghĩa là để sót.

Chương 80 tiểu quốc quả dân có phải chủ trương lui về thời nguyên thủy không

Lối đọc ấy có thật và có bề dày trong lịch sử chú giải, không phải do người nay bày ra. Nhưng nguyên văn có ba chỗ chống lại nó: hai chữ tuy hữu cho thấy thuyền xe giáp binh vẫn còn đó, hai chữ vô sở cho thấy thứ thiếu là dịp dùng chứ không phải vật, và câu bất tương vãng lai có thể đọc là không phải chạy sang nhau vì không thiếu gì của nhau. Thư viện nêu cả hai lối.

Chính ngôn nhược phản nghĩa là gì

Là bốn chữ kết chương 78, nghĩa là lời nói ngay nghe như lời nói ngược. Bốn chữ ấy không nói về nước cũng không nói về vua, chúng nói về cách nói của chính cuốn sách, nên là chìa để đọc những câu nghe trái tai trong sách, như cái lớn thành tựu nghe như còn khuyết ở chương 45.

Vì sao Đạo Đức Kinh có tám mươi mốt chương và chương cuối lại nói về lời nói

Số tám mươi mốt chương là của các bản truyền về sau; bản Hà Thượng Công đã chia đủ số ấy và đặt tên từng chương, còn hai bản bạch thư Mã Vương Đôi xếp phần Đức trước phần Đạo và không chia chương theo lối này. Trong lối sắp xếp thông hành, chương 81 mở bằng việc phân biệt lời thật với lời đẹp, tức lùi lại một bước để nói về cách nói của mình, nên nó đọc như một lời tựa bị đặt ở cuối sách.

Đọc Tiếp