Đứng ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan và đường Sư Thiện Chiếu, quý vị thấy một khối tháp vuông bảy tầng vượt lên trên các mái nhà thấp chung quanh. Dưới chân tháp là một ngôi chùa không mái cong, không đầu đao, không tam quan ba lối như chùa cổ ngoài Bắc. Muốn vào lễ Phật, quý vị phải lên một vế thang, vì chính điện đặt ở tầng trên, còn tầng dưới là giảng đường.
Cách bày ấy nói ngay điều cần biết trước nhất: đây là ngôi chùa được dựng cho việc học. Chùa do Hội Phật học Nam Việt, một hội của giới cư sĩ, đứng ra dựng giữa thập niên năm mươi; tên chùa lấy theo viên ngọc xá lợi Phật cung thỉnh về Sài Gòn ít năm trước đó. Trong khuôn viên hơn hai nghìn năm trăm mét vuông có đủ chính điện, giảng đường, thư viện và tháp chuông.

壹Tên Chùa Và Viên Ngọc Xá Lợi
Nơi này mang ba tên cùng lúc. Xá Lợi Tự là tên chữ, đặt theo vật được tôn trí trong chùa. Chùa Xá Lợi là tên dân gian. Chùa Phật học Xá Lợi là tên nhà chùa tự xưng trong các ấn phẩm của mình, và hai chữ Phật học thêm vào ấy không phải chữ trang trí: nó chỉ đúng phần việc mà ngôi chùa nhận lấy từ ngày dựng. Chữ Hán 舍利寺 ghi ở đầu bài là tên chữ tương ứng với tên gọi, chép theo lối phiên âm quen dùng trong kinh sách, chứ không phải chúng tôi chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trong chùa.
Xá lợi là phiên âm tiếng Phạn sarira, nghĩa gốc là thân thể, về sau dùng riêng để chỉ phần di cốt còn lại sau khi trà tỳ nhục thân một bậc tu hành. Kinh sách chia ra thân cốt xá lợi là xương và tro, phát xá lợi là tóc, ngoài ra còn kể cả kinh điển như một thứ xá lợi của pháp. Xá lợi Đức Phật sau khi phân chia thì được tôn trí trong tháp, và dựng tháp thờ xá lợi là hình thức thờ tự xưa nhất của đạo Phật, có trước cả việc tạc tượng. Hiểu vậy mới thấy tên chùa không phải danh xưng đặt cho kêu.
Sự việc bắt đầu vào những năm đầu thập niên năm mươi, khi một phái đoàn Phật giáo Tích Lan, tức Sri Lanka ngày nay, mang ngọc xá lợi Phật đi qua Sài Gòn. Người cúng dường viên xá lợi cho Phật tử Việt Nam là Hòa thượng Narada Maha Thera, một vị tăng Nam tông người Tích Lan có nhiều duyên với Phật giáo Việt Nam thời ấy. Chùa còn giữ hai vật cũng từ Tích Lan sang: một bộ lá bối chép kinh chữ Pali mà tư liệu nhà chùa ghi là trên một nghìn năm, và một cây bồ đề chiết từ gốc bồ đề bên ấy. Ba vật ấy được xếp thành ba phần: xá lợi ứng Phật bảo, lá bối ứng Pháp bảo, cây bồ đề ứng Tăng bảo.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Về năm lập Hội Phật học Nam Việt, một tư liệu của chùa ghi năm 1950 theo nghị định ký ngày 19 tháng 9 năm ấy, tư liệu khác của chính chùa lại ghi 1951. Về tạp chí Từ Quang, nguồn ghi số đầu ra năm 1951, nguồn ghi năm 1952. Chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa.
Chùa không mang tên ngài Xá Lợi Phất. Xá Lợi Phất, tiếng Pali là Sariputta, là đại đệ tử trí tuệ đệ nhất trong tăng đoàn. Hai chữ đầu trong tên ngài trùng âm với chữ xá lợi nên nhiều người tưởng chùa thờ ngài. Thật ra chữ xá lợi ở đây là phiên âm của sarira, chỉ phần di cốt; hai chữ gặp nhau ở âm chứ không gặp nhau ở nghĩa.
Cũng không có pho tượng Phật bằng ngọc nào ở đây. Trên mạng thỉnh thoảng gặp cách gọi chùa Phật Ngọc Xá Lợi, khiến người chưa tới tưởng trong chùa có tượng tạc bằng ngọc thạch. Ngọc xá lợi chỉ là lối gọi tôn kính dành cho viên xá lợi, vì xá lợi thường có dạng hạt nhỏ sáng.
貳Từ Một Viên Xá Lợi Tới Một Ngôi Chùa
So với phần lớn các ngôi chùa chép trong mục Địa Điểm của thư viện này, chùa Xá Lợi là một nơi rất trẻ. Từ lúc có ý định dựng tới lúc bộ mặt hiện nay định hình chỉ gói trong khoảng nửa thế kỷ, và mọi mốc đều có giấy tờ chứ không phải truyền thuyết.
- 1950Lập Hội Phật học Nam ViệtHội của giới cư sĩ miền Nam được lập, lấy việc nghiên cứu và giảng dạy Phật pháp làm phần việc chính. Một số tư liệu ghi năm 1951.
- 1953Cung thỉnh ngọc xá lợiNgọc xá lợi Phật từ Tích Lan được cung thỉnh về Sài Gòn, tạm an trí tại một ngôi chùa khác trong khi chờ dựng nơi thờ chính thức.
- 1956Khởi côngKhởi công ngày 5 tháng 8 trên khu đất hơn 2.500 mét vuông ở góc hai con đường. Bản vẽ do hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh thực hiện; điều hành công trường là hai kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hồ Tố Thuận.
- 1958Khánh thành và an vị tượngChùa khánh thành ngày 2 tháng 5. Pho tượng Phật Thích Ca an vị ngày 24 tháng Chạp năm Đinh Dậu. Cùng năm, bộ tranh mười lăm bức vẽ xong và gắn lên tường chính điện.
- 1961Dựng tháp chuôngTháp chuông bảy tầng cao 32 mét khởi công ngày 15 tháng 12 năm 1960, khánh thành ngày 23 tháng 12 năm 1961. Đại hồng chung nặng 2 tấn đưa lên tháp ngày 17 tháng 12 năm 1961.
- 1969Thếp vàng pho tượng chính điệnPho tượng bột đá được thếp vàng toàn thân, giữ nguyên dáng và kích thước cũ.
- 1999Trùng tu toàn diệnĐợt trùng tu lớn kéo dài tới năm 2001, làm lại theo đúng nguyên mẫu ban đầu chứ không đổi hình dáng công trình.
- 2005Di tích cấp thành phốChùa được công nhận là di tích cấp thành phố, tức nằm trong danh mục do chính quyền thành phố quản lý.
Một điều đáng lưu ý: ngôi chùa này do một hội cư sĩ đứng ra dựng chứ không do một sơn môn hay một vị tổ sư khai sơn. Phần lớn chùa lớn ở nước ta bắt đầu từ một vị tăng tới cắm tích trượng rồi đệ tử nối đời. Chùa Xá Lợi đi lối khác: người tại gia góp tiền, thuê kiến trúc sư, dựng chùa, rồi cung thỉnh chư tăng về trụ trì. Từ năm 1957 tới nay đã có nhiều đời trụ trì kế tiếp nhau.
參Kiến Trúc, Tháp Chuông Và Bộ Tranh Mười Lăm Bức
Điểm đáng nói nhất về kiến trúc chùa Xá Lợi không nằm ở chi tiết trang trí mà nằm ở mặt cắt đứng. Đây là ngôi chùa nhiều tầng vào loại sớm nhất của thành phố, dựng theo lối trên là bái đường, dưới là giảng đường. Chùa Việt vốn bày theo mặt bằng nằm ngang, qua tam quan, qua sân, rồi tiền đường, thiêu hương, thượng điện, tất cả trên một cốt nền; ở đây người thiết kế xếp các chức năng chồng lên nhau theo chiều cao. Vế thang lên chính điện thay cho quãng sân dài của chùa cổ, còn tầng trệt được dành hẳn cho việc giảng, việc học và việc hội họp của Phật tử, những việc mà chùa cổ thường phải mượn nhà tổ hoặc nhà khách.
Khối tháp vuông cao 32 mét, bảy tầng, khởi công tháng 12 năm 1960 và khánh thành tháng 12 năm 1961. Mỗi tầng thờ một vị Phật. Vào lúc dựng xong, đây là tháp chuông cao nhất trong các chùa của thành phố.
Quả chuông đồng nặng 2 tấn, đường kính 1,2 mét, cao 1,6 mét, treo trên tháp từ ngày 17 tháng 12 năm 1961. Chuông đúc ở Huế, nơi giữ nghề đúc chuông chùa lâu đời của miền Trung.
Chính điện ở tầng trên, hơn bốn trăm mét vuông, ít cột, trần cao, chỉ một pho tượng chính chứ không nhiều lớp tượng chồng bậc như chùa Bắc Bộ. Tượng bằng bột đá màu hồng, an vị cuối năm 1958, tới năm 1969 thếp vàng toàn thân.
Mười lăm bức gắn dọc tường chính điện, kể cuộc đời Đức Phật từ lúc đản sinh tới lúc nhập niết bàn. Tranh do giáo sư Nguyễn Văn Long của Trường Mỹ thuật Gia Định thực hiện năm 1958.
Giảng đường chiếm tầng dưới của khối nhà chính, là nơi mở lớp giáo lý và thuyết giảng. Thư viện Phật học nằm trong cùng khuôn viên.
Đọc bộ tranh mười lăm bức
Bộ tranh trên tường chính điện là thứ người đi lễ hay lướt qua, nhưng lại là phần đáng dừng lâu nhất. Mười lăm bức ấy không phải mười lăm cảnh rời; chúng dựng thành một mạch truyện, đi từ lúc thái tử Tất Đạt Đa ra đời, qua bốn lần ra cửa thành gặp cảnh già, bệnh, chết và một vị sa môn, qua đêm vượt thành xuất gia và sáu năm khổ hạnh, tới đêm thành đạo dưới cội bồ đề, và khép lại ở rừng sa la nơi Đức Phật nhập niết bàn.
Đặt một mạch tranh như thế trong chính điện là lựa chọn có chủ ý. Chùa cổ Bắc Bộ thường lấp kín chính điện bằng các lớp tượng, người mới vào rất khó đọc. Ở đây, người thiết kế giảm tượng xuống còn một pho rồi dùng tranh kể chuyện, để người đứng trong chính điện tự đọc lấy cuộc đời của vị được thờ.
Về diện mạo chung, chùa gần như không dùng dấu hiệu quen thuộc của chùa cổ: không đầu đao cong vút, không lưỡng long chầu nguyệt trên bờ nóc, không vì kèo gỗ chạm. Vật liệu chính là bê tông cốt thép, đường nét thẳng. Nhưng mái vẫn lợp ngói và giữ độ dốc của mái chùa Việt, nên công trình không rơi hẳn về phía kiến trúc phương Tây: giữ tinh thần và bỏ bớt chi tiết.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong hồ sơ di tích hay tư liệu nhà chùa. Ở một ngôi chùa dựng giữa phố theo bản vẽ của kiến trúc sư tân học, phần đọc này càng phải cẩn trọng.
Trước hết là thế đất góc. Chùa chiếm một lô đất ở chỗ hai con đường gặp nhau, hai mặt tiếp phố. Trong phép xem đất đô thị, đất góc là thế minh đường mở hai phía: khí không bị bó vào một lối. Cái lợi là thoáng và dễ tới, rất hợp với một ngôi chùa lấy việc giảng dạy làm chính. Cái bất lợi nằm ngay đó: đất hai mặt phố thì động, tiếng xe và bụi đường ép sát tường chùa, khí khó tĩnh. Người thiết kế xử lý bằng cách nâng chính điện lên tầng trên, tách chỗ lễ Phật khỏi cốt nền mặt đường. Đọc theo lối cũ thì đây là phép thăng: khi không lùi được vào sâu thì đưa lên cao.
Thứ hai là hình thế của tháp chuông. Theo phép chia ngũ hành cho hình khối, thân tháp cao và thẳng thuộc hình Mộc, phần chóp thu nhọn dần lên thuộc hình Hỏa; Mộc sinh Hỏa, hai hình nối nhau thuận chiều tương sinh chứ không xung khắc. Trong lối xem đất của nhà nho xưa, một khối cao vút gần nơi học hành còn được đọc là văn bút, ngọn bút chỉ trời, ứng với việc chữ nghĩa. Chùa này vốn là chỗ mở lớp, giữ thư viện và làm sách, nên hình bút ấy trùng với công việc thật; trùng khớp giữa hình và việc, phép cũ gọi là đắc cách.
Thứ ba, chùa cổ dẫn khí đi ngang, từ tam quan qua sân vào thượng điện; chùa Xá Lợi không có quãng đường ấy nên dẫn khí đi dọc. Bố cục trên thờ dưới giảng vì thế không chỉ là giải pháp tiết kiệm đất, nó còn dựng được một thứ tôn ti theo chiều đứng, việc học ở dưới, việc lễ ở trên.
Sau cùng, về hướng, chúng tôi xin không quả quyết. Chùa quay mặt ra đường Bà Huyện Thanh Quan, nhưng tư liệu nhà chùa không ghi tọa độ la bàn của chính điện, mà chúng tôi thì chưa đo tại chỗ; trong phép xem hướng, sai vài độ đã đổi sang cung khác. Điều chắc chắn nói được là hướng của chùa bị quy định bởi hướng của ô phố, tức bởi bàn cờ đường sá đã có trước, chứ không do thầy địa lý chọn. Đó là tình trạng chung của hầu hết cơ sở thờ tự dựng trong lòng đô thị hiện đại.
伍Lễ Tiết Và Nếp Học Phật
Chùa theo Phật giáo Bắc tông, nên các ngày lễ trong năm đi theo lịch lễ chung của dòng này, tính hết bằng âm lịch. Ngoài lễ tiết, nếp riêng của chùa Xá Lợi nằm ở các lớp giảng và ở thư viện, hai thứ có mặt từ ngày đầu và tới nay vẫn còn.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Lễ đầu năm, tụng kinh cầu an, dịp đông người tới chùa nhất đầu năm. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật đản | Kỷ niệm Đức Phật đản sinh theo lịch Bắc tông, có lễ tắm Phật và thuyết giảng. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu lan | Lễ báo hiếu và lễ tự tứ khép mùa an cư, tụng kinh Vu lan và cầu siêu. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Thành đạo | Kỷ niệm đêm Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, có thời giảng riêng về đề tài này. |
| Ngày rằm và mùng một | Sám hối và tụng kinh | Nếp tụng niệm định kỳ, mở cho cả người xuất gia lẫn cư sĩ. |
Thư viện Phật học và việc phiên dịch
Bỏ phần thư viện và sách vở ra thì bài viết về chùa Xá Lợi hụt mất một nửa. Ngay khi Hội Phật học Nam Việt còn chưa có chùa riêng, hội đã ra tạp chí Từ Quang, và tạp chí ấy sống liên tục gần hai mươi bốn năm. Chủ bút, đồng thời là cây bút chính, là cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, cũng chính là người lo việc dựng chùa và giữ chức hội trưởng từ năm 1955 tới khi qua đời năm 1973. Ông để lại một loạt sách dịch cùng trước tác Phật học, trong đó có Tâm và Tánh in năm 1950, Ý nghĩa Niết Bàn và Tâm kinh Việt giải cùng in năm 1962, Pháp Hoa huyền nghĩa in năm 1964. Đây là lối làm việc đặc trưng của phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỷ hai mươi: đưa kinh điển vốn chỉ đọc được bằng chữ Hán sang quốc ngữ, kèm chú giải, để người tại gia tự đọc được.
Nếp ấy chưa dứt. Chùa là nơi đặt Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam và vẫn tiếp tục ra bộ Tùng thư Phật học Từ Quang, tới năm 2018 đã in hơn hai mươi sáu tập. Các bản giới thiệu ghi thư viện có hơn ba nghìn đầu sách; con số này lấy từ tư liệu phổ thông chứ không từ một bản mục lục công bố. Ở tầng dưới, giảng đường mở lớp giáo lý cho cư sĩ và lớp dạy thư pháp; năm 1964 những lớp đầu tiên của trường Cao đẳng Phật học Sài Gòn cũng mở tại đây.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Chùa ở số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, ngay góc với đường Sư Thiện Chiếu. Tháp chuông bảy tầng nhìn thấy từ xa, cứ nhắm khối tháp mà tới.
- Toạ độ
- 10.7794, 106.6892
Đây là nơi thờ tự và cũng là chỗ nhiều người tới đọc sách, nên lệ nhà có phần khác chùa vãn cảnh. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi lên chính điện, đi nhẹ nói khẽ vì ngay dưới chính điện là giảng đường và thư viện. Không chạm tay vào bộ tranh trên tường. Việc lên tháp chuông tùy lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi trước. Muốn mượn sách thì hỏi thủ thư.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Xá Lợi thờ gì mà lại tên là Xá Lợi
Chùa mang tên theo viên ngọc xá lợi Phật cung thỉnh từ Tích Lan về Sài Gòn đầu thập niên năm mươi. Xá lợi là phiên âm tiếng Phạn sarira, chỉ phần di cốt còn lại sau khi trà tỳ nhục thân bậc tu hành. Chùa dựng lên chính là để có chỗ tôn trí viên xá lợi ấy.
Chùa Xá Lợi có phải thờ ngài Xá Lợi Phất không
Không. Xá Lợi Phất, tiếng Pali là Sariputta, là đại đệ tử trí tuệ đệ nhất của Đức Phật; còn chữ xá lợi trong tên chùa là phiên âm của sarira, nghĩa là di cốt. Hai chữ trùng âm nhưng khác nghĩa. Tượng thờ ở chính điện là tượng Đức Phật Thích Ca bằng bột đá.
Tháp chuông chùa Xá Lợi cao bao nhiêu và có mấy tầng
Tháp cao 32 mét, bảy tầng, mỗi tầng thờ một vị Phật, khởi công tháng 12 năm 1960 và khánh thành ngày 23 tháng 12 năm 1961. Trên tháp treo đại hồng chung nặng 2 tấn, đường kính 1,2 mét, cao 1,6 mét, đúc ở Huế.
Bộ tranh trong chính điện chùa Xá Lợi vẽ gì
Mười lăm bức gắn dọc tường chính điện, kể liền mạch cuộc đời Đức Phật từ lúc đản sinh, qua đêm vượt thành xuất gia, sáu năm khổ hạnh, đêm thành đạo, cho tới lúc nhập niết bàn. Tranh do giáo sư Nguyễn Văn Long thực hiện năm 1958.
Chùa Xá Lợi do ai xây và xây năm nào
Chùa do Hội Phật học Nam Việt, một hội của giới cư sĩ, đứng ra dựng. Khởi công ngày 5 tháng 8 năm 1956, khánh thành ngày 2 tháng 5 năm 1958, theo bản vẽ của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh.