VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt

竹林禪院 · Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng

Thiền viện lớn nhất của dòng Trúc Lâm phục hưng, dựng trên một mỏm núi thông nhìn xuống hồ Tuyền Lâm, nơi việc tu thiền vẫn giữ được phần khép kín.

Khởi công
8 tháng 4 năm 1993
hoàn thành ngày 8 tháng 2 năm 1994
Diện tích
24 hecta
một số nguồn ghi khoảng 30 hecta
Chánh điện
192 m2
pho Thích Ca cầm cành sen cao khoảng 2 mét

Xe rẽ khỏi đèo, đi thêm một quãng thông thì tới cổng. Qua tam quan, quý vị bước vào một khoảng sân lát đá rộng và trống, hai bên là những luống hoa trồng thành hàng ngay ngắn, phía trước là một nếp chánh điện thấp, mái ngói, không cầu kỳ. Đi hết sân về phía sau, mặt đất hụt xuống, và bên dưới là hồ Tuyền Lâm nằm giữa rừng thông, mặt nước xanh sẫm, không một mái nhà nào ven bờ.

Cái khác của nơi này so với phần lớn chùa Việt lộ ra ngay từ cách bày. Không có tháp, không có vườn tượng, không có dãy tượng La Hán, hương án cũng ít. Cái sân trống ấy không phải chỗ để thiếu, mà là chỗ cố ý để trống. Đây là một thiền viện, tức nơi lấy việc ngồi thiền làm việc chính, và cách bày trí phải phục vụ việc ấy trước hết.

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt
Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Ảnh: Phương Huy, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thiền Phái Trúc Lâm Và Đường Lối Tu

Muốn hiểu nơi này thì phải bắt đầu từ một dòng thiền có tuổi bảy trăm năm, chứ không bắt đầu từ năm 1993. Chữ Trúc Lâm trong tên thiền viện chỉ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền do vua Trần Nhân Tông lập ra trên núi Yên Tử. Bốn chữ Hán đặt ở đầu bài là cách viết chữ Hán của mấy tiếng Trúc Lâm thiền viện, do chúng tôi ghi lại theo âm chứ không phải chép từ một tấm hoành phi nào tại chỗ.

Theo sử liệu

Trần Nhân Tông nhường ngôi rồi xuất gia, tới năm 1299 thì lên Yên Tử và lập ra dòng thiền mang tên Trúc Lâm. Ngài mang đạo hiệu Trúc Lâm Đại Đầu Đà, cũng được tôn xưng là Điều Ngự Giác Hoàng, và được coi là Sơ tổ của dòng. Ngài nhập diệt tại am Ngọa Vân trên Yên Tử ngày mùng một tháng Mười một năm Mậu Thân, tức năm 1308. Kế tiếp là Nhị tổ Pháp LoaTam tổ Huyền Quang; ba vị ấy được gọi chung là Trúc Lâm tam tổ. Sau đời Tam tổ, dòng thiền này mờ dần trong nhiều thế kỷ.

Theo giáo nghĩa

Điểm riêng của Trúc Lâm là chủ trương nhập thế, tức tu ngay trong đời sống chứ không tách khỏi đời. Câu thơ được nhắc nhiều nhất của Sơ tổ nói đúng chỗ ấy: ở đời vui đạo hãy tùy duyên, đói đến thì ăn mệt ngủ liền. Nghĩa là không đi tìm một cảnh giới nào khác ngoài chính việc đang làm. Các bài nghiên cứu về dòng này thường gom đường lối ấy vào mấy chữ: tức tâm tức Phật, tức Phật ở ngay nơi tâm mình chứ không ở ngoài; thiền giáo đồng hành, tức vừa ngồi thiền vừa học kinh giáo, không bỏ bên nào; và hòa quang đồng trần, tức hòa vào đời thường để làm việc lợi ích, không lấy sự xa lánh làm mục đích.

Việc đưa dòng thiền này sống lại là công của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Từ khoảng thập niên 1970, ngài chủ trương khôi phục đường lối thiền của người Việt thay vì đi theo lối tu phổ biến đương thời, lập các tu viện chuyên tu thiền, giảng và dịch lại kinh sách của Trúc Lâm tam tổ. Từ đó hình thành một hệ thống thiền viện mang tên Trúc Lâm trải khắp trong nước, và thiền viện ở Đà Lạt là ngôi lớn trong hệ ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm. Thứ nhất, nhiều người coi thiền việnchùa là một. Trong cách dùng của nhà Phật thì khác: chùa là nơi thờ tự và làm phật sự cho tín đồ, còn thiền viện là trường tu, nơi tăng ni ở lại theo một thời khóa chặt để chuyên việc tọa thiền. Cho nên ở đây không có nhiều ban thờ, không nhận cúng sao giải hạn, và phần lớn diện tích không mở cho khách.

Thứ hai, đây không phải nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm. Gốc của dòng nằm ở Yên Tử từ thế kỷ 13. Thiền viện Đà Lạt thuộc lớp phục hưng cuối thế kỷ 20, tức là một ngôi mới của một dòng cũ. Nhầm hai lớp ấy với nhau thì sẽ đọc sai tuổi của cả nơi này lẫn của dòng thiền.

Một Ngôi Mới Của Dòng Thiền Cũ

Lịch sử của công trình rất ngắn và rất rõ, khác hẳn phần lớn các nơi trong mục này vốn phải lần theo truyền thuyết. Ở đây mọi mốc đều có ngày tháng, vì tất cả đều thuộc thời hiện đại.

  • 1299Lập Thiền phái Trúc Lâm
    Trần Nhân Tông lên Yên Tử, lập dòng thiền Trúc Lâm và trở thành Sơ tổ. Đây là gốc của cái tên mà thiền viện Đà Lạt mang.
  • 1308Sơ tổ nhập diệt
    Ngài nhập diệt tại am Ngọa Vân trên Yên Tử vào ngày mùng một tháng Mười một năm Mậu Thân. Ngày này về sau thành húy nhật Sơ tổ, một ngày lễ trọng của cả hệ thiền viện Trúc Lâm.
  • Thập niên 1970Khôi phục dòng thiền
    Hòa thượng Thích Thanh Từ chủ trương phục hồi đường lối thiền Trúc Lâm, lập tu viện chuyên tu thiền và dịch giảng lại kinh sách của Trúc Lâm tam tổ.
  • 8 tháng 4 năm 1993Khởi công thiền viện
    Công trình khởi công trên núi Phụng Hoàng bên hồ Tuyền Lâm. Bản vẽ do các kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng và Trần Đức Lộc thực hiện, có sự tham gia của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.
  • 8 tháng 2 năm 1994Hoàn thành
    Phần xây dựng chính hoàn tất sau chưa đầy một năm. Thiền viện bắt đầu nhận tăng ni về tu học theo thời khóa của dòng Trúc Lâm.
  • Từ 1994 tới nayBồi bổ dần các hạng mục
    Vườn hoa, nhà khách, thư viện và các hạng mục phụ được làm thêm qua nhiều năm. Theo tài liệu Phật giáo, tháp xá lợi cao 19 mét trong khuôn viên hoàn thành vào tháng 12 năm 2012.
Theo sử liệu

Một chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng: về diện tích, nhiều tài liệu ghi khuôn viên thiền viện rộng khoảng 24 hecta, nhưng cũng có bài ghi khoảng 30 hecta. Khoảng chênh này nhiều khả năng đến từ phạm vi tính, tính riêng phần xây dựng và vườn thì ra một con số, tính cả phần rừng thông thuộc quản lý thì ra con số khác. Chúng tôi chưa tra được số liệu chính thức nào nên ghi cả hai. Tương tự, quả đại hồng chung trên lầu chuông được ghi nặng khoảng một tấn ở nguồn này và 1,1 tấn ở nguồn kia.

Ngoại Viện Và Nội Viện

Cách chia mặt bằng ở đây là điều đáng đọc nhất, vì nó không theo lối chùa mà theo lối trường tu. Khuôn viên chia thành mấy khu tách bạch: khu ngoại viện, khu nội viện tăng, khu nội viện ni, cùng khu tịnh thất của vị hòa thượng viện trưởng. Khách thập phương chỉ đi lại trong khu ngoại viện; hai khu nội viện là chỗ ở và tu của tăng ni, khép kín và không mở.

Khu ngoại viện

Đây là phần quý vị thấy khi tới. Trục chính đi từ tam quan vào một sân lát đá rộng, rồi tới chánh điện. Chánh điện rộng khoảng 192 mét vuông, bên trong đặt một pho Thích Ca cao chừng hai mét, tay cầm cành sen đưa lên. Cử chỉ ấy nhắc tích niêm hoa vi tiếu, tức chuyện Đức Phật đưa cành hoa lên giữa hội chúng mà không nói lời nào, chỉ một mình ngài Ca Diếp mỉm cười và được truyền tâm ấn. Với một thiền viện thì chọn tích ấy làm tượng chính là chọn đúng gốc của mình: thiền tông tự nhận là dòng truyền ngoài kinh điển, truyền thẳng từ tâm sang tâm.

Quanh tường chánh điện là các bức phù điêu chạm những chặng lớn trong cuộc đời Đức Phật, thường được gọi là tám tướng thị hiện. Hai bên chánh điện là lầu chuông với quả đại hồng chung có khắc bài kệ, và các nếp nhà phụ. Trong khu ngoại viện còn có tham vấn đường, tức nơi giảng pháp và nơi người tu vào hỏi đạo với thầy, cùng thư viện, nhà trưng bày và nhà khách.

Khu nội viện

Hai khu nội viện nằm tách khỏi trục khách, mỗi khu gồm thiền đường, các dãy thất và khu sinh hoạt riêng. Thiền đường là nơi tăng ni tọa thiền theo thời khóa mỗi ngày; đó là hạng mục quan trọng nhất của cả thiền viện, và cũng là hạng mục không ai bên ngoài nhìn thấy. Việc đóng kín hai khu này không phải để giữ bí mật gì mà vì một lẽ giản dị: một thời khóa tọa thiền chặt không chịu được người ra vào.

Chánh điện

Nếp nhà khoảng 192 mét vuông, thờ pho Thích Ca tay cầm cành sen. Bày trí gọn, ít hương án, hợp với lối thiền viện.

Tham vấn đường

Nơi giảng pháp và nơi thiền sinh vào trình chỗ tu với thầy. Trong nếp nhà thiền, đây là chỗ giữ mạch truyền thừa.

Lầu chuông

Đặt quả đại hồng chung có khắc kệ, các nguồn ghi nặng khoảng một tấn tới 1,1 tấn. Tiếng chuông định nhịp cho thời khóa trong ngày.

Nội viện tăng và nội viện ni

Hai khu riêng, mỗi khu có thiền đường và các dãy thất. Đây là phần lõi của thiền viện và không mở cho khách.

Vườn hoa

Các luống hoa trồng thành hàng quanh sân và dọc lối đi, có hồng, ly, lan, cẩm tú cầu cùng nhiều loài ôn đới khác, cộng với vài cây cổ thụ và cây ngoại nhập được đưa về trồng.

Bậc đá xuống hồ

Một lối bậc đá nối khuôn viên thiền viện xuống bến hồ Tuyền Lâm, các tài liệu ghi khoảng 140 bậc, xuyên qua rừng thông.

Về vườn hoa, cần nói một điều để khỏi hiểu chệch. Vườn ở đây không phải cảnh trí thêm vào cho đẹp mắt; trồng và chăm vườn là một phần công tác của thiền sinh, tức lao động chân tay xen vào giữa các thời tọa thiền. Nếp ấy có gốc xa trong nhà thiền, từ câu nói của tổ Bách Trượng bên Trung Hoa rằng một ngày không làm thì một ngày không ăn. Nhìn theo cách đó thì mấy luống hoa trước sân không phải phần trang trí mà là phần tu.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bản của thiền viện. Xin nói thêm rằng nhà thiền không lấy phong thủy làm căn cứ chọn đất; chỗ này chỉ là đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.

Thế đất và hướng

Thế đất ở đây thuộc loại hiếm gặp: một mỏm núi có tên là Phụng Hoàng, lưng dựa vào khối cao nguyên, mặt mở xuống một hồ nước lớn là hồ Tuyền Lâm, chung quanh là rừng thông. Đọc theo phép cũ thì đây gần như đúng khuôn mẫu tọa sơn hướng thủy, tức lưng tựa núi mặt nhìn nước, cái khuôn mà sách vở coi là lý tưởng và mà phần lớn đền chùa vùng châu thổ không bao giờ có được vì đồng bằng không có núi.

Xét từng phần. Hậu chẩm là khối núi phía sau, vững và liền mạch, không phải một gò lẻ. Minh đường là mặt hồ Tuyền Lâm trải rộng bên dưới; trong phép xem đất, nước tĩnh và trong thì tụ khí, mà hồ ở đây là hồ kín, không phải dòng chảy xiết, nên thuộc loại tụ chứ không thuộc loại tán. Sa, tức các gò núi hai bên chầu vào, thì có sẵn từ địa hình cao nguyên nhấp nhô quanh hồ. Ba yếu tố ấy hội đủ mà không cần đắp thêm gì, điều rất ít nơi có.

Về hướng thì cần thận trọng: các tài liệu của thiền viện không ghi hướng theo địa bàn, nên chúng tôi không nêu con số độ nào. Chỉ nói được điều chắc chắn theo địa hình, rằng trục chính của khu ngoại viện chạy từ cổng vào chánh điện rồi hụt xuống phía hồ, tức là mở về phía thấp và phía nước. Cách đặt ấy hợp cả với phép cũ lẫn với lẽ thường: mặt nhìn ra chỗ thoáng, lưng dựa chỗ kín gió.

Sau cùng, xin nói một điều về rừng thông. Trong cách nghĩ cổ truyền, cây tùng và cây thông là biểu tượng của người quân tử và của sự bền bỉ qua mùa lạnh, cũng là loại cây được trồng nhiều nhất quanh các nơi tu hành ở xứ có núi. Đặt một thiền viện giữa rừng thông vì thế không chỉ là chuyện địa lý mà còn là chuyện hình ảnh: cái tên Trúc Lâm nghĩa là rừng trúc, và ở Đà Lạt thì rừng thông thay chỗ cho rừng trúc của Yên Tử.

Lễ Và Ngày Lễ

Thiền viện không mở hội, không rước kiệu, không có lễ hội theo nghĩa quen thuộc ở đền phủ. Lịch trong năm gồm các ngày lễ chung của Phật giáo Bắc tông, cộng thêm ngày riêng của dòng Trúc Lâm là húy nhật Sơ tổ. Ngoài ra, nhịp chính của một thiền viện không nằm ở lễ mà nằm ở thời khóa hằng ngày, gồm các thời tọa thiền, thời tụng kinh, thời công tác và thời học.

Lịch lễ theo âm lịch. Húy nhật Sơ tổ là ngày riêng của dòng Trúc Lâm, các ngày còn lại là lễ chung của Phật giáo Bắc tông.
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 1 tháng Mười mộtHúy nhật Sơ tổ Trúc LâmNgày tưởng niệm Trần Nhân Tông nhập diệt năm 1308. Đây là ngày riêng của dòng Trúc Lâm, trọng nhất trong lịch của hệ thiền viện.
Rằm tháng TưPhật đảnLễ kỷ niệm ngày Đức Thích Ca đản sinh, cử hành theo nghi thức Bắc tông.
Rằm tháng Tư tới rằm tháng BảyAn cư kiết hạBa tháng tăng ni ở yên một chỗ để chuyên tu, theo giới luật nhà Phật. Trong mùa này việc tiếp khách càng thu hẹp.
Rằm tháng BảyVu Lan và tự tứLễ báo hiếu, đồng thời là ngày kết thúc mùa an cư.
Mùng 8 tháng ChạpPhật thành đạoNgày tưởng niệm Đức Thích Ca thành đạo dưới cội bồ đề. Với nhà thiền, đây là ngày có ý nghĩa riêng vì gắn thẳng với việc tọa thiền.
Mùng 1 và rằm hằng thángSóc vọng và sám hốiHai kỳ lễ thường lệ trong tháng, tụng kinh và lễ sám theo thời khóa của thiền viện.

Có một điểm đáng ghi nhận về nếp nhà ở đây: thiền viện không tổ chức du lịch và không theo đuổi kỷ lục nào, dù mỗi năm vẫn có rất đông người tới, trong đó có cả người từ nước ngoài về học thiền. Cách giữ khoảng cách ấy chính là thứ làm cho khu nội viện còn giữ được phần tĩnh của nó.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Phụng Hoàng bên hồ Tuyền Lâm, phường 3, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng
Đường tới
Thiền viện nằm trên núi Phụng Hoàng bên hồ Tuyền Lâm, phường 3, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm Đà Lạt chừng năm cây số về phía nam. Lên tới nơi có hai lối, một là đường bộ qua đèo, hai là tuyến cáp treo từ đồi Robin.
Toạ độ
11.9033, 108.4192
Khi tới nơi

Lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ trong toàn khuôn viên vì chung quanh có người đang tọa thiền. Không chụp ảnh trong chánh điện. Hai khu nội viện tăng và ni không mở cho khách, xin quý vị không đi quá các lối đã phân. Vườn hoa là chỗ thiền sinh chăm hằng ngày, xin không hái hoa và không giẫm lên luống.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt thờ ai

Chánh điện thờ Đức Phật Thích Ca, pho tượng cao khoảng hai mét, tay cầm cành sen đưa lên theo tích niêm hoa vi tiếu. Ngoài ra thiền viện tưởng niệm Sơ tổ Trúc Lâm là Trần Nhân Tông cùng Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang.

Thiền viện khác chùa ở chỗ nào

Chùa là nơi thờ tự và làm phật sự cho tín đồ. Thiền viện là trường tu, nơi tăng ni ở lại theo một thời khóa chặt để chuyên việc tọa thiền. Vì thế ở đây ít ban thờ, không nhận cúng sao giải hạn, và phần lớn khuôn viên là nội viện không mở cho khách.

Thiền phái Trúc Lâm do ai lập ra

Do vua Trần Nhân Tông lập trên núi Yên Tử năm 1299, sau khi ngài nhường ngôi và xuất gia. Ngài là Sơ tổ, kế tiếp là Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang. Dòng thiền này được Hòa thượng Thích Thanh Từ khôi phục từ khoảng thập niên 1970.

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt xây năm nào

Khởi công ngày 8 tháng 4 năm 1993 và hoàn thành ngày 8 tháng 2 năm 1994, do Hòa thượng Thích Thanh Từ khai sơn. Bản vẽ do các kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng và Trần Đức Lộc thực hiện, có sự tham gia của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt nay thuộc tỉnh nào

Thiền viện nằm ở phường 3, thuộc thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, tên tỉnh Lâm Đồng được giữ nhưng phạm vi rộng hơn trước, gồm cả phần đất Bình Thuận và Đắk Nông cũ.

Đọc Tiếp