Từ con đường dưới chân đồi, quý vị lên một quãng bậc đá ngắn là tới cổng tam quan hai tầng của chùa Báo Quốc. Sau cổng là khoảng sân rợp bóng cây, bốn dãy nhà khép lại thành hình chữ khẩu, và ở mé bắc khuôn viên, dưới một vòm đá thấp, là cái giếng mà người Huế gọi bằng hai tên cùng lúc: giếng Hàm Long và giếng Cấm.
Ngọn đồi này tên Hàm Long, nghĩa là hàm rồng, gọi theo khối đá nhô ra ở thành giếng. Chùa dựng trên đỉnh đồi ấy từ nửa sau thế kỷ 17, rồi trong ba trăm năm sau đó đổi tên ba lần, ba lần được người trong hoàng gia nhà Nguyễn cấp tiền trùng tu, và tới thế kỷ 20 thì trở thành chỗ đặt trường Phật học của cả xứ Huế. Điều cần nắm trước tiên: đây là một tổ đình, tức ngôi chùa gốc của một dòng truyền thừa, chứ không phải một ngôi chùa đứng lẻ.

壹Tổ Đình Và Vị Khai Sơn
Trong cách gọi của nhà chùa, tổ đình là ngôi chùa nơi một vị tổ khai sơn, từ đó đệ tử tỏa đi mở các chùa khác, và về sau con cháu trong dòng vẫn quay về đây làm lễ húy kỵ chư tổ. Một ngôi chùa lớn chưa hẳn là tổ đình; ngược lại, một ngôi chùa nhỏ mà đứng đầu một dòng thì vẫn là tổ đình. Báo Quốc thuộc trường hợp sau, rồi về sau gánh thêm cả chức năng trường học.
Theo giáo nghĩa Thiền tông, cái được truyền trong một dòng không phải chức vụ mà là tâm pháp, truyền từ thầy sang đệ tử qua việc trực tiếp dạy và trực tiếp nhận. Mỗi dòng vì thế có một bài kệ truyền thừa, mỗi đời lấy một chữ trong bài kệ ấy đặt vào pháp danh, cứ theo chữ mà biết một vị tăng thuộc đời thứ mấy. Tài liệu về chùa Báo Quốc chép chùa thuộc dòng Lâm Tế chánh tông.
Chữ báo quốc cũng đọc theo giáo nghĩa. Nhà Phật dạy bốn ơn lớn mà người xuất gia phải nhớ, trong đó có ơn đất nước đã cho chỗ trú thân mà tu học; báo quốc là báo đáp ơn ấy.
Người khai sơn là Thiền sư Giác Phong, một vị tăng gốc Quảng Đông sang Thuận Hóa trong đợt các thiền sư Trung Hoa tới Đàng Trong nửa sau thế kỷ 17. Ngài dựng thảo am trên đồi Hàm Long, lấy tên Hàm Long Thiên Thọ Tự, gọi theo chính ngọn đồi. Niên đại thường được ghi cho việc khai sơn là năm 1674; thiền sư viên tịch năm 1714. Xin nói rõ rằng nguồn cho niên đại ấy là tài liệu chép muộn và tư liệu của chính nhà chùa, không phải sử biên niên đương thời.
Chỗ hay hiểu lầm nằm ngay ở cái tên. Vì bốn chữ Sắc Tứ Báo Quốc Tự treo trên cổng và vì nhiều lần trùng tu do hoàng gia cấp tiền, không ít người hiểu đây là một ngôi chùa do triều Nguyễn dựng. Theo tư liệu thì trình tự ngược lại: chùa do một thiền sư khai sơn trước khi nhà Nguyễn lập triều, các vua và các bà trong hoàng gia về sau ban biển, cấp tiền và đổi tên, nhưng không phải người dựng. Chữ sắc tứ nghĩa là do vua ban, và cái được ban ở đây là tấm biển cùng tên gọi, không phải bản thân ngôi chùa.
貳Mạch Đổi Tên Và Trường Phật Học
Lịch sử chùa Báo Quốc đọc gọn nhất qua cái tên, vì mỗi lần đổi tên ứng với một lần có người đứng ra sửa chùa: Hàm Long Thiên Thọ Tự thời khai sơn, Sắc Tứ Báo Quốc Tự từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, Thiên Thọ Tự trong lần đại trùng kiến năm 1808, rồi trở lại Báo Quốc Tự và giữ tới nay.
- 1674Khai sơn Hàm Long Thiên Thọ TựThiền sư Giác Phong dựng thảo am trên đồi Hàm Long, lấy tên đồi làm tên chùa. Ngài viên tịch năm 1714, tháp tổ dựng trong khuôn viên.
- 1747Ban biển Sắc Tứ Báo Quốc TựChúa Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu và ban tấm biển gỗ khắc bốn chữ Sắc Tứ Báo Quốc Tự. Đây là lần tên Báo Quốc xuất hiện trong văn bản.
- 1808Đại trùng kiến, đổi tên Thiên Thọ TựHiếu Khương hoàng hậu, thân mẫu vua Gia Long, cấp tiền dựng lại quy mô lớn: xây cổng tam quan và đúc quả đại hồng chung còn giữ tới nay.
- 1824Trở lại tên Báo QuốcVua Minh Mạng ngự lãm chùa, cho dùng lại tên Báo Quốc Tự. Từ mốc này tên chùa không đổi nữa.
- 1858Trùng tu đời Tự ĐứcVua Tự Đức và Từ Dũ thái hậu cấp tiền sửa chùa trong hai năm 1857 và 1858. Cổng tam quan được tái thiết một lần nữa năm 1873.
- 1935Mở trường sơ đẳng Phật họcHội An Nam Phật Học đặt tại chùa lớp học Phật cấp sơ đẳng, mở đầu việc dạy có chương trình và có cấp bậc ở đây.
- 1948Sơn môn Phật học đường về Báo QuốcPhật học đường chuyển từ chùa Linh Quang về đây, đưa Báo Quốc thành trung tâm đào tạo tăng tài của xứ Huế.
- 1957Trùng tu lớn thời hiện đạiChùa được dựng lại với bộ khung bê tông thay phần gỗ đã mục, giữ nguyên bố cục chữ khẩu. Dáng vẻ hôm nay phần lớn định hình từ lần này.
Trường Phật Học Trên Đồi Hàm Long
Từ thập niên 1930, chùa Báo Quốc bước sang một vai khác. Phong trào chấn hưng Phật giáo lúc ấy chủ trương rằng muốn đạo Phật vững thì trước hết phải có tăng sĩ được học hành đến nơi, và Hội An Nam Phật Học ở Trung kỳ chọn Báo Quốc làm một trong những chỗ đặt trường. Lớp sơ đẳng Phật học mở năm 1935, tới năm 1940 có thêm bậc học cao hơn, rồi năm 1948 Phật học đường của sơn môn chuyển hẳn từ chùa Linh Quang về đây.
Điều đáng nói là cách tổ chức. Trước đó việc học của người xuất gia chủ yếu là học riêng với thầy trong chùa mình, mỗi nơi một cách. Trường ở Báo Quốc dạy theo chương trình chung, có lớp, có cấp bậc, có kỳ thi, và học tăng từ nhiều chùa khác nhau về chung một giảng đường. Nhiều vị tăng có tiếng của Phật giáo Việt Nam thế kỷ 20 vì thế cùng đi qua ngôi chùa này ở tuổi học trò. Truyền thống ấy còn tiếp: trong khuôn viên hiện vẫn đặt một trường Phật học bậc trung cấp.
Một chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nêu thẳng. Tài liệu địa phương xứ Huế chép chúa Nguyễn Phúc Khoát ban biển Sắc Tứ Báo Quốc Tự năm 1747, tên ấy bị thay bằng Thiên Thọ Tự năm 1808 rồi được vua Minh Mạng dùng lại năm 1824. Một số bài phổ thông lại chép gọn rằng vua Minh Mạng đặt tên Báo Quốc năm 1824, tức coi đó là lần đặt tên đầu tiên. Hai cách kể lệch nhau bảy mươi bảy năm; chúng tôi ghi cả hai và nghiêng về cách thứ nhất, vì nó giải thích được cả tấm biển sắc tứ lẫn việc phải trở lại một tên cũ.
參Bố Cục Chữ Khẩu, Vườn Tháp Và Giếng Hàm Long
Khuôn viên chùa rộng khoảng hai hecta, trải trên đỉnh và sườn đồi Hàm Long, bố cục theo lối chữ khẩu, tức bốn dãy nhà quây kín bốn mặt, giữa để một sân trong. Đây là lối dựng quen của chùa Huế: nhà thấp, mái dài, sân trong làm chỗ lấy sáng và lấy gió, toàn khối nép vào thế đất chứ không vươn lên trên nó.
Cổng hai tầng ở đầu quãng bậc đá dẫn lên chùa, xây trong lần trùng kiến năm 1808 và tái thiết năm 1873. Mặt trước treo tấm biển bốn chữ Sắc Tứ Báo Quốc Tự, nơi duy nhất trong chùa nói ra bằng chữ gốc tích tên gọi.
Ba gian hai chái, thờ Phật Thích Ca ở giữa, hai bên có Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Địa Tạng, cùng hai vị tôn giả Ca Diếp và A Nan. Cột và vách trang trí hoa văn theo lối Nguyễn.
Dãy nhà phía sau chánh điện, đặt long vị và ảnh tượng các vị trú trì đã quá vãng. Cả một dãy tên xếp theo đời, đọc từ đầu tới cuối là đọc được dòng truyền thừa.
Khu mộ tháp trong khuôn viên, tài liệu ghi mười chín ngôi, cao từ hai tới năm mét, phần lớn mặt bằng bát giác, niên đại trải từ thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 20. Ngôi xưa nhất là tháp Tổ Giác Phong, dựng năm 1714.
Quả chuông lớn đúc năm 1808 trong lần trùng kiến do Hiếu Khương hoàng hậu cấp tiền. Trọng lượng các nguồn ghi không thống nhất: nguồn ghi 836 cân, nguồn ghi hơn 800 kilôgam.
Giếng cổ ở mé bắc chùa, có từ thời khai sơn. Thành giếng có khối đá nhô ra mà người xưa ví như hàm rồng, mạch nước chảy ra từ chỗ ấy. Độ sâu nguồn ghi khoảng 4,5 mét, nguồn ghi 5 tới 6 mét.
Cái giếng đáng được nói riêng, vì nó cho ngọn đồi cái tên rồi cho ngôi chùa cái tên đầu tiên. Nước giếng được chép là trong, ngọt, bốn mùa không cạn kể cả những năm hạn. Theo tư liệu địa phương, từ đời Gia Long nước giếng được lấy đưa vào cung dùng cho nhà vua, và chính việc ấy sinh ra cái tên thứ hai: giếng Cấm, nghĩa là giếng mà dân không được lấy nước. Quanh giếng còn một lớp truyền thuyết kể rằng khi nhà Nguyễn định đô ở vùng này có một con rồng dưới đất quấy nhiễu, thầy địa lý bày cách yểm vào các long mạch, và đồi Hàm Long là một trong những điểm ấy. Đó là truyền thuyết chứ không phải sử, nhưng nó cho thấy người xưa đọc ngọn đồi và cái giếng như một bộ phận của thế đất cả vùng.
Về hai chữ giếng Cấm thì có chỗ hiểu chệch. Nhiều người nghe tên rồi hiểu rằng nước giếng thiêng đến mức không ai được uống, hoặc hiểu ngược lại rằng nước có gì bất thường nên bị cấm dùng. Theo tư liệu địa phương, chữ cấm ở đây là một lệnh của thời trước: nước được trưng dùng cho cung nên dân trong vùng không được lấy nữa. Hết lệ ấy thì chữ cấm còn lại như một cái tên.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay tư liệu nhà chùa. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên đáng đọc là cái tên. Hàm Long nghĩa là hàm rồng, và trong phép xem đất thì rồng là cách gọi hình tượng của mạch đất: dải đất nổi cao chạy dài được ví như thân rồng, chỗ đầu mạch nhô ra được ví như đầu, chỗ có nước phun ra từ khe đá ở đầu mạch thì gọi là hàm. Người đặt tên cho ngọn đồi này không tả hình dáng bên ngoài, mà đang ghi một kết luận về đất: đây là chỗ đầu mạch, và mạch ấy có nước.
Xét theo ngũ hành, thế đất ở đây là Thổ ôm Thủy: gò đồi là Thổ, cái giếng trong lòng gò là Thủy. Đáng chú ý là nước không nằm ngoài mà nằm trong thân đất, và trong phép cũ thì nước ở trong đất là nước không tán, khác với nước mặt chảy qua rồi đi. Việc giếng bốn mùa không cạn được người xưa đọc đúng theo nghĩa ấy: mạch bền thì nước bền.
Về hướng và bố cục, chùa Huế theo một lối riêng. Ở đây chùa không mở ra mặt bằng rộng để tạo minh đường lớn, mà chọn thế tọa sơn, tức ngồi tựa vào gò, đưa cổng ra phía thấp và để bậc đá làm đoạn chuyển. Người đi lễ phải leo lên, và đoạn leo ấy có việc của nó: tách nhịp phố ở dưới khỏi nhịp thờ tự ở trên. Bố cục chữ khẩu cũng ăn với phép này, vì bốn dãy nhà quây kín thì khí tụ vào sân trong, không xổ ra bốn phía, hợp với một khuôn viên đặt trên đỉnh đồi.
Sau cùng là vai của một tổ đình trong vùng. Các ngôi chùa cổ của xứ Huế phần nhiều nằm rải trên những gò đồi ở bờ hữu sông Hương, và đọc theo lối cũ thì cả dải ấy là một vòng đất cao che phía sau vùng dân cư. Việc Báo Quốc được chọn làm chỗ đặt trường Phật học cũng hợp lẽ về địa thế: đủ gần kinh thành để tăng sinh các chùa đi lại được, đủ cao và đủ tách để giữ cái tĩnh cần cho việc học.
伍Lễ Và Lệ Trong Năm
Là một tổ đình kiêm trường Phật học, chùa Báo Quốc giữ hai lớp lễ: lễ chung của Phật giáo Bắc tông tính theo âm lịch, và lễ riêng của một dòng truyền thừa, tức các ngày húy kỵ chư tổ, ngày nào thì theo long vị ở tổ đường chứ không theo lịch chung.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 và ngày 15 mỗi tháng | Lễ sám hối và tụng kinh | Hai ngày lễ đều đặn nhất trong năm, tăng chúng và người trong vùng cùng dự. |
| Tháng Giêng | Lễ cầu an đầu năm | Kỳ chùa đông người nhất, nối từ lễ đón năm mới sang rằm tháng Giêng. |
| Rằm tháng Tư | Đại lễ Phật đản | Ngày kỷ niệm Đức Phật đản sinh, có lễ tắm Phật và tụng kinh. |
| Từ rằm tháng Tư tới rằm tháng Bảy | An cư kết hạ | Ba tháng tăng chúng ở yên một chỗ để tu học. Với một chùa có trường thì đây là kỳ học nặng nhất trong năm. |
| Rằm tháng Bảy | Đại lễ Vu Lan và lễ tự tứ | Lễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày kết thúc ba tháng an cư. |
| Ngày ghi trong long vị | Húy kỵ chư tổ | Lễ giỗ các vị tổ và các vị trú trì đã quá vãng, làm tại tổ đường; húy kỵ Tổ Giác Phong là ngày trọng nhất của riêng tổ đình này. |
Một điều dễ bị bỏ qua khi tới đây vào ngày thường: vì trong khuôn viên vẫn đặt trường Phật học, nhịp sinh hoạt hằng ngày của chùa là nhịp của một nơi có lớp học. Điều đó giải thích vì sao một ngôi chùa nằm gần trung tâm thành phố mà phần lớn thời gian lại lặng như vậy.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đồi Hàm Long, phường Phường Đúc, thành phố Huế
- Đường tới
- Chùa nằm trên đồi Hàm Long, phường Phường Đúc, thành phố Huế, ở bờ nam sông Hương và cách khu vực Kinh thành chừng hai cây số. Đi cùng tuyến có thể ghé các tổ đình cổ khác trên dải đồi phía tây nam.
- Toạ độ
- 16.4622, 107.5794
Đây vừa là nơi thờ tự vừa là trường học đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và tổ đường, đi nhẹ nói khẽ ở khu giảng đường và khu tăng chúng, không vào các dãy nhà riêng khi chưa được mời. Ở vườn tháp xin đi trên lối đã có, không tựa hay leo lên thành tháp. Giếng Hàm Long vẫn là giếng đang dùng, xin không thả vật gì xuống giếng.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Báo Quốc Huế thờ ai
Chánh điện thờ Phật Thích Ca ở giữa, hai bên có Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng và hai vị tôn giả Ca Diếp, A Nan. Phía sau còn tổ đường đặt long vị các vị tổ và các vị trú trì đã quá vãng, vì đây là một tổ đình chứ không phải một ngôi chùa đứng lẻ.
Chùa Báo Quốc do ai khai sơn và vào năm nào
Do Thiền sư Giác Phong, một vị tăng gốc Quảng Đông sang Thuận Hóa nửa sau thế kỷ 17, dựng trên đồi Hàm Long với tên đầu là Hàm Long Thiên Thọ Tự. Niên đại thường được ghi là năm 1674. Thiền sư viên tịch năm 1714 và tháp của ngài vẫn là ngôi tháp cổ nhất trong vườn tháp.
Vì sao chùa có tên là Báo Quốc
Chữ báo quốc nghĩa là báo đáp ơn đất nước, một trong bốn ơn lớn mà nhà Phật dạy người xuất gia phải nhớ. Tên gắn với tấm biển Sắc Tứ Báo Quốc Tự do chúa Nguyễn Phúc Khoát ban năm 1747. Chùa từng đổi thành Thiên Thọ Tự năm 1808, rồi trở lại tên Báo Quốc từ năm 1824.
Giếng Hàm Long ở chùa Báo Quốc có gì đặc biệt
Giếng có từ thời khai sơn, nước trong và ngọt, bốn mùa không cạn, mạch chảy ra từ khối đá ở thành giếng mà người xưa ví như hàm rồng. Theo tư liệu địa phương, từ đời Gia Long nước giếng được lấy đưa vào cung dùng cho nhà vua, dân không được lấy nữa, vì thế có tên thứ hai là giếng Cấm.
Chùa Báo Quốc có phải là trường Phật học không
Chùa vừa là nơi thờ tự vừa là chỗ đặt trường. Lớp sơ đẳng Phật học mở năm 1935, bậc cao hơn có từ năm 1940, và năm 1948 Phật học đường của sơn môn chuyển từ chùa Linh Quang về đây. Trong khuôn viên hiện vẫn đặt một trường Phật học bậc trung cấp.