VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Điện Hòn Chén

慧南殿 · Điện Huệ Nam, Ngọc Trản Sơn Từ

Ngôi điện dựng trên vách núi bên sông Hương, nơi một vị nữ thần Chăm được người Việt tiếp nhận rồi được triều Nguyễn phong tặng.

Tên trong sắc phong
Ngọc Trản Sơn Từ
nghĩa là đền trên núi Chén Ngọc
Đổi tên Huệ Nam
đời Đồng Khánh
nguồn ghi 1885, nguồn ghi 1886
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
trong Quần thể di tích Cố đô Huế, Quyết định số 1272 ngày 12 tháng 8 năm 2009

Không có con đường nào dẫn thẳng tới cửa điện. Quý vị đến đây bằng đường nước, thuyền cập vào một bến nhỏ dưới chân núi Ngọc Trản, rồi leo mấy chục bậc đá dốc dựng giữa tán cây. Lên hết bậc, một dãy mái ngói và những khối tường vôi hiện ra ngay trên sườn núi, lưng dựa vào đá, mặt nhìn xuống mặt nước.

Cái khác của ngôi điện này nằm sâu hơn dáng vẻ. Vị được thờ trong cung cao nhất là Thiên Y A Na, mà gốc gác của bà không phải người Việt: bà là Po Nagar, nữ thần của người Chăm, Mẹ Xứ Sở của một vương quốc đã lui về quá khứ. Người Việt tới sau đưa bà vào đền của mình, đặt cho bà một tên Việt, rồi nhà vua đem sắc phong tới.

Điện Hòn Chén
Điện Hòn Chén. Ảnh: Lưu Ly (thảo luận), giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thiên Y A Na Và Ba Lớp Chồng Lên Nhau

Nên đọc nơi này như đọc một vách đá nhiều tầng trầm tích: ba lớp tín ngưỡng đã chồng lên nhau theo thứ tự thời gian, và cả ba đều còn dấu.

Lớp thứ nhất là lớp Chăm. Núi Ngọc Trản nằm trong vùng từng thuộc Chiêm Thành, và các tài liệu di tích đều ghi đây vốn là nơi người Chăm thờ nữ thần Po Nagar, Mẹ Xứ Sở, gắn với đất đai và sự sinh sôi. Đây là lớp không có văn bản niên đại: không bia ký nào cho biết đền Chăm dựng năm nào.

Lớp thứ hai là lớp Việt. Người Việt vào định cư tiếp nhận vị nữ thần của người đi trước, gọi bà bằng tên Việt hóa là Thiên Y A Na kèm một thần tích mới, rồi triều Nguyễn đưa bà vào hệ thần linh chính thức với danh hiệu Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần. Từ đó bà là thần được nhà vua công nhận.

Lớp thứ ba là lớp Đạo Mẫu. Sang thế kỷ 20, tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ từ Bắc Bộ lan tới Huế, mang theo hệ thần linh nhiều hàng, hát chầu văn và nghi thức hầu đồng; hai mạch thờ nữ thần gặp nhau ở chính ngôi điện này.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng Việt tự kể về bà, Thiên Y A Na là Thánh Mẫu, tức người mẹ thiêng, và chức năng của bà là chức năng của một người mẹ chứ không phải của một vị thần xét xử: dạy dân cày cấy, kéo vải dệt sợi, ban mưa thuận gió hòa. Thần tích Việt kể bà hóa thân trong một khúc gỗ kỳ nam trôi dạt, được đôi vợ chồng già nhận về nuôi, sau trở lại dạy dân nghề nghiệp, cuối cùng cùng hai con cưỡi hạc bay về cõi tiên. Thần tích Chăm thì cho nữ thần sinh ra từ bọt nước biển và mây trời; bản Việt đã chuyển một vị nữ thần sáng thế thành người đàn bà có gia cảnh, có nghề và có công dạy dân.

Theo sử liệu

Về phương diện văn bản, mốc rõ nhất và quan trọng nhất là việc vua Đồng Khánh, ở ngôi trong khoảng các năm 1886 tới 1888, đứng ra tu tạo và đổi tên. Theo tài liệu di tích, khi còn là hoàng tử ông đã tới cầu tại đây, sau lên ngôi thì cho rằng mình chịu ơn Thánh Mẫu, bèn dựng lại ngôi điện và đổi tên thành Huệ Nam Điện, nghĩa là ban ơn lành cho cõi Nam.

Đáng chú ý hơn cái tên là vị thế ông tự nhận: một hoàng đế đương triều tự đứng vào hàng đệ tử của một nữ thần, tương truyền còn tự nhận là em của bà trong lời cầu. Trong khuôn khổ nghi lễ triều đình, nơi vua là người thay trời tế trời ở đàn Nam Giao, việc ấy không có tiền lệ. Niên đại lần tu tạo nguồn ghi vênh nhau, có nơi ghi 1886, có nơi ghi 1885.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay lẫn ở nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất là chuyện tên gọi. Nơi này có bốn tên cùng sống, mỗi tên thuộc một lớp: Ngọc Trản Sơn Từ là tên trong sắc phong triều Nguyễn, nghĩa là đền trên núi Chén Ngọc; Huệ Nam Điện là tên vua Đồng Khánh đặt, nay dùng trong văn bản chính thức; Hòn Chén là tên dân gian gọi theo dáng núi, khối đá trông như một cái chén úp; Hoàn Chén nghĩa là trả lại chiếc chén, gắn với giai thoại rùa thần đội chén ngọc lên trả vua Minh Mạng. Nhiều người tin tên Hòn Chén sinh ra từ giai thoại ấy, nhưng trật tự thực tế có lẽ ngược lại: tên núi Ngọc Trản đã có trong văn bản trước, còn Hoàn Chén là lối đọc về sau bám vào âm gần giống rồi kéo theo giai thoại để giải thích. Chữ Hán các tên nêu trong bài là chữ theo tư liệu chữ nghĩa, không phải chữ chép từ hoành phi trong điện.

Thứ hai, Thiên Y A Na không phải Mẫu Liễu Hạnh. Hai vị khác gốc và khác hệ. Thiên Y A Na gốc là nữ thần Po Nagar của người Chăm và là thần chủ của điện thần thờ nữ thần ở Huế. Mẫu Liễu Hạnh là nữ thần gốc Việt thuần túy, gốc châu thổ Bắc Bộ, đứng đầu hệ Tứ phủ, ở Huế gọi là Vân Hương Thánh Mẫu. Theo một nghiên cứu trên tạp chí của Đại học Huế, bà gia nhập điện thần thờ nữ thần ở Thừa Thiên Huế khá muộn, và việc thờ thêm Tam vị Thánh Mẫu Vân Hương tại điện Huệ Nam được ghi là diễn ra sau năm 1945. Hai vị nay ngồi chung một cung, nhưng không cùng đến một lúc và không cùng một gốc.

Từ Đền Chăm Đến Điện Huệ Nam

Lịch sử nơi này có một đặc điểm cần nắm trước: đoạn xa thì thiếu văn bản, đoạn gần thì thừa văn bản. Lớp Chăm không để lại niên đại nào; lớp triều Nguyễn thì có sắc phong và có tên vua đứng ra tu tạo.

  • Thời ChămNơi thờ Po Nagar
    Núi Ngọc Trản là nơi người Chăm thờ nữ thần Po Nagar. Không bia ký nào cho biết niên đại, và không còn cấu kiện kiến trúc Chăm nào.
  • Sau thế kỷ 14Người Việt tiếp nhận
    Vị nữ thần được gọi bằng tên Việt hóa Thiên Y A Na, kèm thần tích do người Việt kể. Quá trình diễn ra dần, không có mốc năm.
  • Triều NguyễnSắc phong Thượng Đẳng Thần
    Bà vào hệ thần linh chính thức với danh hiệu Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần; tên chính thức của đền là Ngọc Trản Sơn Từ. Cùng giai đoạn này có giai thoại vua Minh Mạng đánh rơi chén ngọc được rùa thần đội lên trả, gốc của tên Hoàn Chén.
  • Đời Đồng KhánhTu tạo và đổi tên Huệ Nam
    Vua Đồng Khánh dựng lại ngôi điện, đổi tên thành Huệ Nam Điện, tự nhận là đệ tử Thánh Mẫu. Nguồn ghi 1885, nguồn ghi 1886.
  • 1953Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo
    Tổ chức tập hợp các bản hội thờ Mẫu ở Huế thành lập, lấy điện Huệ Nam làm chốn thờ trung tâm.
  • 2009 và 2024Di tích và di sản
    Điện nằm trong Quần thể kiến trúc Cố đô Huế, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1272 ngày 12 tháng 8 năm 2009. Lễ hội điện Huệ Nam vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3981 ngày 10 tháng 12 năm 2024.
Theo sử liệu

Một điểm cần ghi thẳng: lớp Chăm được tài liệu di tích và báo chí nhắc khá nhất quán, nhưng không nguồn nào đưa được bằng chứng vật chất tại chỗ, chẳng hạn một bệ thờ hay khối điêu khắc phong cách Chăm còn nguyên vị. Cơ sở của nhận định ấy là vị trí điện trong vùng từng thuộc Chiêm Thành, gốc tích vị thần được thờ, và sự tương ứng với hệ thống thờ Thiên Y A Na trải dài từ Huế xuống Khánh Hòa, nơi Tháp Bà Po Nagar còn nguyên là kiến trúc Chăm.

Mười Hạng Mục Trên Sườn Núi

Điện Hòn Chén không có bố cục trục dọc như đền miếu đồng bằng, vì ở đây không có mặt bằng để dàn trục. Chừng mười hạng mục lớn nhỏ được xếp bám theo sườn núi, nương vào từng vạt đất bằng, tất cả cùng quay mặt ra sông Hương. Người đi lễ vì thế không đi thẳng vào mà đi ngang, lên xuống theo bậc đá.

Minh Kính Đài

Chánh điện, chia ba cung từ cao xuống thấp: Đệ Nhất cung thờ Thiên Y A Na cùng Thánh Mẫu Vân Hương, Đệ Nhị cung thờ hàng chục vị thần thánh khác, Đệ Tam cung là nơi cử hành lễ tế.

Dinh Ngũ Hành và điện thờ Quan Công

Phía bên trái khu điện, thờ năm vị thần ứng với Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, và thờ vị tướng thời Tam Quốc. Hai ban này là dấu của các lớp tín ngưỡng Việt và Hoa nhập vào một nơi thờ vị nữ thần gốc Chăm.

Trinh Cát Viện, nhà Quan Cư, chùa Thánh

Phía bên phải khu điện, là nơi ở và nơi nghỉ cho người coi điện cùng người về dự lễ, cùng ban thờ Phật; dựng theo lối nhà ở truyền thống Huế.

Am Thủy Phủ và am Ngoại Cảnh

Am Thủy Phủ nằm sát mép nước, thờ các vị thần miền sông nước, là nơi các nghi thức liên quan tới nước được tiến hành; am Ngoại Cảnh cùng động thờ ông Hổ nằm ngoài trục thờ chính.

Về trang trí, điện giữ nếp kiến trúc Huế thời Nguyễn muộn: mái lợp ngói, bờ nóc và bờ quyết đắp nổi, nhiều mảng khảm sành sứ, hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng. Một điều nữa nên để ý: khu điện không có cổng tam quan theo lối thông thường. Cửa của nơi này là bến nước, và cái thế bắt buộc phải đi thuyền rồi leo bậc đá ấy về sau thành gốc của nghi thức rước bằng thuyền.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, sắc phong hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Thế đất ở đây là một trong những thế dễ đọc nhất trong các nơi thờ tự xứ Huế, vì nó hội đủ cả hai thứ phép xem đất đòi: có núi để tựa và có nước để tụ. Điện nằm trên sườn núi Ngọc Trản, lưng áp vào đá, mặt nhìn xuống một khúc sông Hương rộng. Đó là lối tựa sơn hướng thủy trong sách vở, ở đồng bằng Bắc Bộ phải tìm rất xa mới gặp, còn ở Huế thì địa hình sẵn có.

Đáng nói hơn là khúc sông. Trong phép cũ, nước chảy thẳng và gấp thì khí trôi đi, nước uốn vòng và chảy chậm thì khí tụ lại; một khúc sông vòng trước cửa được coi là minh đường có thủy tụ. Mặt nước ấy còn bắt người tới phải đi bằng thuyền, mà một quãng đường phải đổi phương tiện mới đến được thì có giá trị như một lớp cửa.

Về ngũ hành, nơi này đọc rất thuận. Thiên Y A Na là nữ thần, thuộc Âm; nước là Thủy, cũng thuộc Âm; núi là Thổ, giữ cho khí có chỗ đứng. Trong hệ Tứ phủ, Thoải phủ là miền sông nước, mà am Thủy Phủ thì đặt ngay sát mép nước. Một nơi thờ nữ thần dựng giữa chỗ Thổ và Thủy giao nhau là nơi thờ đặt đúng vào hành của vị chủ; lối cũ gọi đó là đắc vị.

Cuối cùng, sông Hương từ thượng nguồn chảy xuống, qua khu lăng tẩm các vua Nguyễn, qua chùa Thiên Mụ, rồi mới tới Kinh thành; điện Hòn Chén ở đoạn trên của mạch ấy. Chính vì thế mà đám rước hằng năm phải ngược dòng, một chi tiết địa lý nhỏ nhưng quyết định hình dáng của cả lễ hội.

Lễ Hội Tháng Ba, Tháng Bảy Và Đám Rước Trên Sông

Điện Hòn Chén có hai kỳ lễ hội trong năm, một vào tháng Ba âm lịch và một vào tháng Bảy âm lịch, cùng một cấu trúc và cùng một nghi thức trung tâm mà không nơi thờ tự nào khác ở nước ta có: một đám rước đi trên mặt nước, ngược dòng sông Hương. Kỳ tháng Ba là hội chính, vào các ngày mùng hai và mùng ba, gắn với ngày vía Thánh Mẫu; kỳ tháng Bảy là hội thu.

Cái bằng, phương tiện làm nên nghi thức

Phần khiến lễ hội này thành có một không hai là chiếc bằng. Đó không phải một con thuyền, mà là một sàn nổi ghép từ nhiều thuyền, bên trên dựng hẳn một khám thờ có mái, treo cờ phướn, đặt hương án và đồ tự khí; nói cách khác, người ta đem cả một điện thờ nhỏ đặt lên mặt nước rồi cho nó trôi. Trong kỳ hội, hàng chục chiếc bằng rực cờ hoa nối nhau ngược dòng, trên mỗi chiếc có người dâng hương, có trống chiêng, có dàn cung văn hát.

Ba không gian làm nên kỳ hội: điện thờ Thánh Mẫu trong thành phố là điểm khởi hành cũng là điểm kết thúc, điện Huệ Nam là nơi rước Mẫu, đình làng Hải Cát là nơi cử hành lễ chánh tế. Trong kỳ hội còn có các buổi hầu đồng do các bản hội tổ chức; ở Huế nghi thức này mang sắc thái riêng so với Bắc Bộ, vì hệ Tứ phủ đến sau, ghép vào một điện thần vốn đã có thần chủ là Thiên Y A Na.

Trình tự chung của một kỳ lễ hội điện Huệ Nam, nêu theo âm lịch và theo chặng. Nguồn: Thông tin của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bản tin của Thông tấn xã Việt Nam..
Thời điểm và chặngNghi thứcNội dung
Trước ngày chínhLễ cáo yếtLễ trình báo tại điện, xin phép mở hội, làm trước khi các nghi thức rước bắt đầu.
Mùng 2 và mùng 3 tháng BaHội xuânKỳ lễ hội chính trong năm, gắn với ngày vía Thánh Mẫu, đông người nhất.
Tháng BảyHội thuKỳ lễ hội thứ hai, giữ đủ trình tự nghi thức như kỳ tháng Ba.
Ngày rướcLễ nghinh thần và rước đường thủyĐoàn rước khởi hành từ điện thờ Thánh Mẫu trong thành phố, qua đình Thương Bạc, rồi xuống các chiếc bằng ngược sông lên điện.
Tại đình làng Hải CátLễ chánh tếLễ tế chính của cả kỳ hội, nội dung cầu quốc thái dân an.
Sau lễ chánh tếLễ tống thần và hoàn cungCác chiếc bằng rước Thánh Mẫu trở về an vị tại điện, khép lại vòng đi và về trên sông.
Theo sử liệu

Lễ hội điện Huệ Nam vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3981 ngày 10 tháng 12 năm 2024. Trước đó, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán thực hành cùng giá trị văn hóa của nó, không phải một phán xét về niềm tin.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Núi Ngọc Trản bên sông Hương, xã Hương Thọ, thành phố Huế
Đường tới
Điện nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, thuộc xã Hương Thọ, thành phố Huế, phía thượng nguồn so với trung tâm. Lối tới quen thuộc nhất là đi thuyền theo sông Hương rồi leo bậc đá lên sườn núi.
Toạ độ
16.3875, 107.5583
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nằm trên sườn núi dốc và chỉ tới được bằng đường nước, nên lệ của chính nơi ấy có vài điều riêng. Bậc đá lên điện hẹp và trơn khi mưa, xin quý vị đi một chiều theo dòng người. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các cung, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Nếu gặp một buổi hầu, xin đứng ngoài phạm vi chiếu hầu, không đi cắt ngang giữa người hầu với ban thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Điện Hòn Chén thờ ai

Vị được thờ chính là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, vốn là nữ thần Po Nagar của người Chăm, được người Việt tiếp nhận và triều Nguyễn phong danh hiệu Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần. Trong điện còn thờ Thánh Mẫu Vân Hương, nhiều vị trong hệ Tứ phủ, ban thờ Phật, Quan Công và Ngũ Hành.

Điện Hòn Chén và điện Huệ Nam có phải một không

Cùng một nơi. Ngọc Trản Sơn Từ là tên trong sắc phong triều Nguyễn, nghĩa là đền trên núi Chén Ngọc. Huệ Nam Điện là tên vua Đồng Khánh đặt và là tên chính thức đang dùng. Hòn Chén là tên dân gian gọi theo dáng đá; Hoàn Chén gắn với giai thoại rùa thần trả chén ngọc.

Thiên Y A Na có phải là Mẫu Liễu Hạnh không

Không. Hai vị khác gốc và khác hệ. Thiên Y A Na gốc là nữ thần Po Nagar của người Chăm và là thần chủ của điện thần thờ nữ thần ở Huế. Mẫu Liễu Hạnh là nữ thần gốc Việt ở Bắc Bộ, đứng đầu hệ Tứ phủ, ở Huế gọi là Vân Hương Thánh Mẫu, được thờ thêm tại điện Huệ Nam sau năm 1945.

Vua Đồng Khánh có liên quan gì tới điện này

Theo tài liệu di tích, khi còn là hoàng tử ông đã tới cầu tại đây; sau lên ngôi thì cho rằng mình chịu ơn Thánh Mẫu nên cho dựng lại ngôi điện và đổi tên thành Huệ Nam Điện. Ông tự nhận là đệ tử của Thánh Mẫu. Nguồn ghi năm 1885, nguồn ghi năm 1886, nên chúng tôi nêu cả hai.

Lễ hội điện Hòn Chén diễn ra vào tháng nào và có gì riêng

Hai kỳ trong năm, tháng Ba âm lịch với ngày chính là mùng hai và mùng ba, và tháng Bảy âm lịch. Nét riêng là đám rước đi trên mặt nước: hàng chục chiếc bằng, tức sàn nổi ghép từ nhiều thuyền có dựng khám thờ, nối nhau ngược dòng sông Hương, rồi lễ chánh tế tại đình làng Hải Cát.

Đọc Tiếp