Đứng bên hồ bán nguyệt trước cửa đền, quý vị thấy giữa mặt nước có một nếp nhà nhỏ tám mái đứng trên bệ đá, bốn phía trống không, đó là thuỷ đình. Nhìn quá hồ vào trong là một cửa lớn ba lối, mặt gỗ và mặt đá chạm dày đặc hình rồng, gọi là ngũ long môn. Qua cửa ấy là một khoảng sân lát đá, và trong cùng, sau mấy lớp nhà, là điện thờ.
Điện ấy đặt bài vị tám vị hoàng đế nhà Lý. Nhà Lý có chín vị vua, nên con số tám ở đây không phải chuyện sơ suất mà là một lệ xưa, có lý do riêng, chúng tôi sẽ nói rõ ở dưới. Mảnh đất này là Cổ Pháp, quê tổ của dòng họ ấy, và đền dựng trên chính chỗ vua Lý Thái Tổ về thăm quê năm 1010.

壹Tám Vị Hoàng Đế Trên Đất Cổ Pháp
Ngôi đền mang ba tên. Cổ Pháp Điện là tên gốc, lấy theo tên vùng đất; Đền Lý Bát Đế nghĩa là đền tám vị hoàng đế nhà Lý; Đền Đô là tên quen của người trong vùng. Ba chữ Hán ghi ở đầu bài là chữ chúng tôi viết lại theo tên đã chép trong tư liệu, không phải chép từ hoành phi trong đền.
Tám vị được thờ là Lý Thái Tổ tức Lý Công Uẩn, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông, trị vì nối nhau trong hai trăm mười bốn năm.
Xét theo lối thờ tự cổ truyền, đây là hình thức thờ cúng tổ tiên của một dòng họ đã được nâng lên tầm quốc gia. Ban đầu là việc con cháu họ Lý và dân làng Cổ Pháp thờ vua cha trên đất tổ; về sau, khi triều đại đã lùi vào quá khứ, các vị ấy chuyển sang vị thế nhân thần, tức người thật được thờ như thần. Điểm phân biệt nơi này với đền thờ thần là ở đó: mọi vị được thờ đều có tên trong sử, có năm sinh năm mất.
Đất Cổ Pháp, tức làng Đình Bảng sau này, là quê gốc họ Lý. Người gắn tên mình chặt nhất với đất ấy không phải một ông vua mà là một nhà sư: Thiền sư Vạn Hạnh, người châu Cổ Pháp, mất năm 1018, thuộc dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, tu học ở chùa Lục Tổ trên đất này và là người dạy Lý Công Uẩn từ thuở nhỏ. Ông cũng đứng về phía việc dời đô ra vùng Đại La, nơi sau thành Thăng Long.
Hai ngôi chùa trong vùng gắn với chuyện ấy. Chùa Tiêu, tên chữ Thiên Tâm tự trên núi Tiêu, là nơi Thiền sư Vạn Hạnh trụ trì và là nơi tài liệu di tích gắn với thời thơ ấu của Lý Công Uẩn. Còn chùa Ứng Tâm, quen gọi chùa Dặn, được chép là nơi ông sinh ra. Đám rước ngày hội vẫn khởi hành từ chùa chứ không từ đền, đó là dấu còn lại của mối dây ấy.
Về ngôi đền, tài liệu di tích chép năm 1010 vua Lý Thái Tổ về thăm quê, dân làng dựng một nếp nhà lớn để nghênh tiếp. Sau khi ngài mất, năm 1030 vua Lý Thái Tông cho dựng nơi thờ trên chính chỗ ấy, đặt tên Cổ Pháp Điện. Các vua nối sau lần lượt được đưa vào thờ chung, nên số vị được thờ tăng dần chứ không định ngay từ đầu.
Chỗ hay hiểu lầm nhất ở đây là con số. Nhà Lý có chín vị vua, nhưng đền Đô chỉ thờ tám, và nhiều người tưởng đó là thiếu sót của người trông coi đền hôm nay. Không phải; đây là một lệ có từ xưa, xin nói bằng giọng sử liệu.
Vị thứ chín là Lý Chiêu Hoàng, con gái vua Lý Huệ Tông, vị vua cuối của triều Lý và là nữ hoàng duy nhất trong sử Việt. Bà được thờ riêng tại một ngôi đền khác trong cùng làng Đình Bảng, dân gọi đền Rồng. Các nhà nghiên cứu nêu ba lớp lý do. Thứ nhất là lệ cũ của xã hội chịu ảnh hưởng Nho giáo, trong đó người nữ không được xếp ngang hàng nam giới trong thứ tự thờ tự của dòng họ. Thứ hai là thời gian ở ngôi: bà làm vua khoảng hai năm khi còn nhỏ tuổi và không giữ thực quyền. Thứ ba là lý lẽ về thế đất: đất đền Đô được người xưa đọc là thế liên hoa bát diệp, tức sen tám cánh, ứng với tám vị, còn đền Rồng đặt ở phía tây nơi ánh chiều rọi vào, ứng với chỗ khép lại của một triều đại.
Lệ ấy cũng từng được bàn lại. Trong giới nghiên cứu có ý kiến nên đưa bài vị bà về thờ chung, vì bà là một trong chín vị vua chính thức, nghi thức lên ngôi và nhường ngôi đều đủ lệ, phần mộ bà lại nằm trong cùng khu lăng mộ các vua Lý. Phía trông coi đền giữ ý nên tôn trọng cách sắp đặt của người xưa. Chúng tôi ghi cả hai luồng ý kiến và không đứng về bên nào; điều chắc chắn là cả hai ngôi đền đều đang được thờ phụng đầy đủ, chỉ khác chỗ và khác lệ.
貳Từ Nếp Nhà Nghênh Vua Đến Khu Đền Hôm Nay
Lịch sử ngôi đền trải gần một nghìn năm nhưng không liền mạch. Có một khoảng đứt lớn giữa thế kỷ 20, nên phần lớn nhà cửa quý vị thấy hôm nay là công trình phục dựng theo nền cũ và mẫu cũ.
- 1010Vua về thăm quêSau khi dời đô ra Thăng Long, Lý Thái Tổ về thăm đất Cổ Pháp. Dân làng dựng một nếp nhà lớn để nghênh tiếp, chỗ ấy về sau thành nền đền.
- 1030Dựng Cổ Pháp ĐiệnVua Lý Thái Tông cho dựng nơi thờ vua cha trên nền nhà cũ, đặt tên Cổ Pháp Điện. Đây là mốc khởi dựng.
- 1605Mở rộng và dựng biaĐời vua Lê Kính Tông, khu đền được mở rộng và mang tên Đền Lý Bát Đế. Bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn dựng trong dịp này.
- 1952Đền bị phá hủyToàn bộ kiến trúc bị phá hủy. Khu đất bỏ trống một thời gian dài, chỉ còn nền móng và ít hiện vật đá, trong đó có tấm bia năm 1605.
- 1989Khởi công phục dựngViệc dựng lại theo nguyên mẫu bắt đầu từ năm này, kéo dài nhiều năm, lần lượt hoàn thành từng hạng mục.
- 2014Di tích quốc gia đặc biệtĐền Đô cùng khu lăng mộ các vua triều Lý được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Về tấm bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi, xin nói rõ chỗ nguồn vênh nhau. Người soạn văn bia là Phùng Khắc Khoan, người đời quen gọi Trạng Bùng, và mọi tài liệu đều thống nhất ở điểm này. Về niên đại thì phần lớn tài liệu ghi năm 1605, nhưng nhiều bài lại chú thêm là năm Giáp Thìn; Giáp Thìn ứng với năm 1604, nên hai cách ghi lệch nhau một năm. Chúng tôi nêu cả hai chứ không chọn bừa. Bia cao khoảng 1,9 m, rộng từ 1,03 tới 1,3 mét tuỳ nguồn, dày 17 cm, khắc chừng 1.500 chữ Hán và Nôm, nội dung ghi công tích các vua nhà Lý, trong đó có việc dời đô ra Thăng Long năm 1010. Đây là hiện vật gốc quan trọng nhất của khu đền, vì nó có trước khoảng đứt của thế kỷ 20.
參Nội Thành, Ngoại Thành Và Ngũ Long Môn
Khuôn viên rộng hơn 31.000 m2, tài liệu ghi 31.250 m2, chia hai khu: ngoại thành ở ngoài và nội thành ở trong, tổng cộng hơn hai mươi hạng mục. Khu nội thành rộng hơn 4.000 m2, dựng đối xứng quanh một trục dọc dẫn thẳng vào điện thờ tám vị vua.
Hồ hình nửa vành trăng trước cửa đền, giữa hồ là thuỷ đình năm gian tám mái đầu đao uốn cong, bốn mặt để trống. Đây là nơi hát ngày hội, và hình nếp nhà này từng được in trên một tờ giấy bạc thời trước.
Cửa chính của khu nội thành, ba lối vào, chạm dày đặc đề tài rồng nên mang tên năm con rồng. Đây là hạng mục người ta nhớ nhất.
Khoảng sân lát đá sau ngũ long môn, chia tám ô đá theo chiều ngang. Giữa sân là nhà phương đình tám mái, chỗ dừng trước khi vào các lớp nhà trong.
Ba lớp nhà trong cùng trên trục chính. Nhà tiền tế là nơi hành lễ ngày giỗ, nhà chuyển bồng là nơi dâng hương thường ngày, còn Cổ Pháp Điện là điện thờ chính, bảy gian rộng khoảng 180 m2, đặt bài vị tám vị hoàng đế với Lý Thái Tổ ở gian giữa.
Nhà bia giữ tấm Cổ Pháp Điện Tạo Bi. Nhà văn chỉ và nhà võ chỉ ở khu ngoại thành, theo lệ thờ các bậc văn thần và võ tướng của triều đại.
Trong khu đền còn một bức Chiếu dời đô bằng gốm, tài liệu ghi cao 3,5 mét rộng 8 mét, chép bài chiếu năm 1010 bằng 214 chữ, trùng với số năm trị vì của nhà Lý. Đây là hạng mục dựng trong đợt phục hồi.
Cách đền chừng hai cây số là khu lăng mộ các vua triều Lý, xưa gọi Thọ lăng Thiên Đức, xếp hạng chung một hồ sơ với đền. Về đền mà bỏ khu lăng là mới thấy nửa phần: một bên là nơi thờ, một bên là nơi táng, người xưa vốn tính hai nơi thành một cặp.
Một chỗ nữa dễ lẫn: trong khu đền có một nếp nhà cũng gọi là đền Vua Bà, và các tài liệu mô tả nội dung thờ ở đó không giống nhau. Có tài liệu ghi đây là nơi thờ các hoàng thái hậu triều Lý; tài liệu khác lại ghi đền Vua Bà chính là đền Rồng thờ Lý Chiêu Hoàng. Hai cách ghi vênh nhau, chúng tôi nêu cả hai. Điều rõ theo tư liệu địa phương là đền Rồng nằm ở một chỗ riêng trong làng.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Việc chọn đất ở đây không theo phép tìm huyệt. Đền dựng đúng trên nền nếp nhà mà dân làng lập để nghênh vua về thăm quê, tức chỗ được định sẵn bởi một sự việc chứ không bởi một thầy địa lý.
Cái đáng nói nhất là lối đọc liên hoa bát diệp, tức sen tám cánh, mà người xưa dùng cho mảnh đất này. Trong phép cũ, thế đất ví với hoa sen là thế có tâm rõ và các phần vây quanh đều nhau, tâm ấy là chỗ đặt điện thờ. Cách gọi tám cánh lại trùng khít với số tám vị vua, và chính sự trùng khít ấy được dẫn ra như một lý lẽ để giữ con số tám. Đây là chỗ phong thuỷ và lệ thờ tự đi vào nhau: thế đất được đọc thành một con số, rồi con số ấy quy định cách sắp đặt bài vị.
Về nước, vùng này thuộc châu thổ, đất phẳng, không có núi để tựa. Nơi thiếu mạch núi thì mặt nước thay vai: hồ bán nguyệt trước cửa đền là một minh đường có thuỷ tụ đúng nghĩa của phép cũ, và việc đào hồ hình nửa vành trăng ngay trước trục chính là cách bù chỗ thiếu của địa hình. Nếp thuỷ đình giữa hồ làm thành một điểm ghim, giữ cho khoảng nước trước cửa không trống trải.
Về trục, các lớp nhà xếp nối nhau theo một trục dọc, đi từ hồ nước qua ngũ long môn, sân rồng, nhà phương đình, nhà tiền tế, nhà chuyển bồng rồi mới tới Cổ Pháp Điện. Theo lối cũ, trục dọc nhiều lớp là cách dẫn khí đi sâu, mỗi lớp nhà là một lần hạ nhịp bước chân. Cách bày ấy hợp với nội dung thờ tự ở đây: tám vị vua có thứ tự trước sau rõ ràng, nên đặt ở cuối một trục dọc thì đúng hơn là dàn ngang trên một sân. Sau cùng, cặp đền và lăng cách nhau hai cây số cũng là một bố cục: nơi thờ trong làng, nơi táng ngoài đồng.
伍Hội Đền Tháng Ba
Hội mở vào rằm tháng Ba âm lịch, thường tính ba ngày từ mười bốn tới mười sáu, ngày chính là rằm. Hội lấy mốc ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi, nên đây là hội tưởng niệm việc mở đầu một triều đại, không phải hội cầu mùa hay cầu mưa.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 14 tháng Ba | Mở hội và rước | Đám rước khởi hành từ chùa trong làng về đền, đường dài chừng ba cây số, có kiệu Thánh Mẫu và kiệu vua Lý Thái Tổ. |
| Ngày 14 tháng Ba | Bày biện đoàn rước | Đi đầu là múa lân và múa rồng, kế đến các võ tướng, rồi kiệu Thánh Mẫu do các nữ tướng rước, sau cùng là kiệu vua do các nam tướng áo đỏ rước. |
| Rằm tháng Ba | Chính hội | Lễ tế và dâng hương tại nhà tiền tế và Cổ Pháp Điện, tưởng niệm ngày Lý Thái Tổ đăng quang. Đây là ngày đông nhất trong năm. |
| Ngày 16 tháng Ba | Rã hội | Ngày cuối, phần lễ thu gọn, rước kiệu hoàn cung. |
| Trong hội | Phần hội | Hát quan họ tại thuỷ đình giữa hồ, cờ tướng, cờ người, thư pháp và trò chơi dân gian của làng. |
Việc đám rước khởi hành từ chùa rồi mới về đền là điểm đáng chú ý của hội này: nó giữ lại mối dây giữa ngôi đền và các ngôi chùa trong vùng, tức giữa triều Lý và lớp thiền sư đã dạy vị vua đầu triều. Ngoài hội tháng Ba, đền đông vào đầu xuân và các ngày rằm mùng một.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn cũ, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Đền ở phường Đình Bảng, thuộc địa bàn thành phố Từ Sơn cũ, tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi cây số về phía đông bắc. Cùng tuyến có thể ghé chùa Tiêu và khu lăng mộ các vua Lý.
- Toạ độ
- 21.1177, 105.9622
Lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở Cổ Pháp Điện, không chạm vào bài vị, đồ thờ và tấm bia trong nhà bia, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên hương án. Ngày rằm tháng Ba lối vào phân luồng theo đám rước, xin nhường đường cho kiệu. Về đền nên đi cả khu lăng mộ cách đó hai cây số, vì hai nơi chung một hồ sơ di tích.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Đô thờ ai
Thờ tám vị hoàng đế nhà Lý gồm Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Bài vị đặt tại Cổ Pháp Điện trong khu nội thành, nên đền còn tên là Đền Lý Bát Đế.
Vì sao đền Đô chỉ thờ tám vua mà nhà Lý có chín vua
Vị thứ chín là Lý Chiêu Hoàng, con gái vua Lý Huệ Tông, được thờ riêng ở đền Rồng trong cùng làng Đình Bảng. Lệ ấy có từ xưa; các nhà nghiên cứu nêu ba lý do: lệ cũ không xếp người nữ ngang hàng nam giới trong thứ tự thờ tự của dòng họ, thời gian bà ở ngôi rất ngắn và khi còn nhỏ tuổi, cùng lối đọc thế đất sen tám cánh ứng với tám vị.
Bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi do ai soạn và dựng năm nào
Do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn. Phần lớn tài liệu ghi bia dựng năm 1605, nhưng nhiều bài chú thêm là năm Giáp Thìn, mà Giáp Thìn ứng với 1604, nên hai cách ghi lệch nhau một năm. Bia cao khoảng 1,9 mét, khắc chừng 1.500 chữ Hán và Nôm ghi công tích các vua nhà Lý.
Đền Đô có liên quan gì tới thiền sư Vạn Hạnh và chùa Tiêu
Thiền sư Vạn Hạnh là người châu Cổ Pháp, tức chính vùng đất này, mất năm 1018, và là người dạy Lý Công Uẩn từ thuở nhỏ. Chùa Tiêu tên chữ Thiên Tâm tự là nơi ông trụ trì, còn chùa Ứng Tâm được chép là nơi Lý Công Uẩn sinh ra. Đám rước ngày hội vẫn khởi hành từ chùa trong làng.
Hội đền Đô mở vào ngày nào
Hội mở vào rằm tháng Ba âm lịch, thường tính ba ngày từ mười bốn tới mười sáu, chính hội là ngày rằm, lấy mốc ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi. Phần hội gồm hát quan họ tại thuỷ đình, cờ người và các trò chơi dân gian của làng.