VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bút Tháp

寧福寺 · Ninh Phúc Tự, chùa Thiếu Lâm, chùa Nhạn Tháp

Ngôi chùa giữ được gần như trọn vẹn một công trường điêu khắc thế kỷ 17, từ pho Quan Âm nghìn tay tới cây cầu đá bắc giữa hai toà nhà.

Trùng tu lớn
1642 đến 1647
đời Lê Thần Tông, do hoàng tộc hưng công
Pho Quan Âm
1656
gỗ, hồ sơ bảo vật ghi cao 235 cm
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
năm 2013, có bốn bảo vật quốc gia

Từ mặt đê sông Đuống nhìn xuống, quý vị thấy trước hết một khối tháp đá năm tầng nhô lên khỏi hàng cây, thân tháp thắt dần về phía ngọn. Xuống khỏi đê, qua tam quan và gác chuông, là một dãy nhà nối nhau chạy thẳng vào trong, mái thấp, sân hẹp. Chùa này không gây ấn tượng bằng quy mô mà bằng thứ đặt bên trong từng nếp nhà ấy.

Tên chữ của chùa là Ninh Phúc tự. Cái tên Bút Tháp mà ai cũng quen gọi lại không phải tên nhà chùa đặt, và nó cũng chỉ nói về một hạng mục duy nhất: ngọn tháp đá ngoài kia. Ở đây có bốn nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia, tất cả đều thuộc thế kỷ 17, tất cả đều còn đứng đúng chỗ người xưa đặt chúng. Đó là điều hiếm.

Chùa Bút Tháp
Chùa Bút Tháp. Ảnh: Jean-Pierre Dalbéra, giấy phép CC BY 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tổ Đình Lâm Tế Và Pho Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay

Chùa mang nhiều tên. Ninh Phúc tự là tên chữ trên bia ký; hồ sơ di tích còn ghi Ninh Phúc thiền tự và chùa Thiếu Lâm. Bút Tháp là tên dân gian hoá từ hình dáng ngọn tháp đá, còn Nhạn Tháp là tên cũ của vùng này.

Về dòng phái, đây là một tổ đình của thiền phái Lâm Tế trên đất Bắc. Thiền sư Chuyết Chuyết, được ghi là tổ thứ ba mươi tư của dòng này, trụ trì tại đây và viên tịch năm 1644; đệ tử là thiền sư Minh Hành kế đăng, trông coi phần lớn việc dựng chùa. Hai vị ấy mới là người định hình ngôi chùa quý vị đang thấy.

Theo giáo nghĩa

Pho tượng trong thượng điện tạc Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn, nghĩa đen là nghìn tay nghìn mắt. Theo giáo nghĩa Bắc tông, nghìn mắt là để thấy hết khổ của chúng sinh, nghìn tay là để với tới mà cứu; mỗi bàn tay có một con mắt, tức thấy tới đâu thì tay với tới đó. Mười một khuôn mặt xếp chồng ứng với các hoá thân mà vị Bồ Tát này hiện ra, mỗi hoá thân hợp một hạng người cần độ. Đây là pho tượng biểu ý: hình dáng của nó chính là giáo nghĩa dựng thành khối gỗ.

Theo sử liệu

Pho tượng có cả niên đại và tên tác giả, điều rất hiếm với tượng cổ Việt Nam. Hàng chữ Hán trên bệ ghi Tuế thứ Bính Thân niên thu nguyệt cốc nhật doanh tạo, tức hoàn thành vào tháng mùa thu năm Bính Thân, ứng với năm 1656. Một hàng chữ khác cho biết người tạc là nhà điêu khắc họ Trương, hiệu Thọ Nam; các tài liệu phiên ra tiếng Việt không thống nhất, chỗ ghi Trương Thọ Nam, chỗ ghi gọn Trương tiên sinh, chỗ hiểu chữ nam là tước nam.

Số liệu của pho tượng cũng có hai cách ghi. Hồ sơ bảo vật quốc gia ghi tượng cao 235 cm, rộng 200 cm, vành tay phụ đường kính 224 cm, gồm 42 cánh tay lớn789 cánh tay phụ, mỗi bàn tay phụ có một con mắt, phần đầu 11 mặt chính và 2 mặt phụ. Nhiều bài giới thiệu lại ghi tượng cao 3,7 m, rộng 2,1 m, có 46 tay lớn và hơn 900 tay nhỏ, con số hay gặp nhất là 954. Hai cách ghi vênh nhau, chúng tôi nêu cả hai; chênh về chiều cao nhiều khả năng do một bên đo riêng thân tượng, một bên đo cả bệ và hào quang. Về năm công nhận bảo vật quốc gia, phần lớn nguồn ghi năm 2012 trong đợt đầu tiên, riêng trang hồ sơ di tích ghi năm 2011.

Chỗ hay hiểu lầm

Người đi lễ quen gọi pho tượng là Phật Bà. Theo đúng giáo nghĩa thì Quan Thế Âm là một vị Bồ Tát, tức bậc đã đủ sức thành Phật nhưng còn ở lại để cứu độ. Cách gọi Phật Bà là lối dân gian có từ rất lâu; chỉ khi đọc bia ký và kinh sách mới cần phân biệt. Chữ nghìn cũng vậy, đó là số ước lệ chỉ sự nhiều vô kể, không phải số đếm được; bản thân pho tượng không có đủ một nghìn tay.

Ngôi Chùa Thời Trần Và Công Trường Thế Kỷ 17

Lịch sử chùa chia hai đoạn. Đoạn đầu thuộc thời Trần, chỉ còn trong tư liệu chép muộn. Đoạn sau nằm gọn trong ba mươi năm giữa thế kỷ 17, và chính đoạn ấy để lại toàn bộ những gì đang đứng trên mặt đất hôm nay.

  • Thời TrầnLớp chùa xưa nhất
    Tài liệu di tích chép thiền sư Huyền Quang, tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, từng tu sửa chùa và dựng một ngọn tháp chín tầng. Không còn cấu kiện nào trên mặt đất chứng cho lớp niên đại này.
  • 1633Chuyết Chuyết về trụ trì
    Thiền sư Chuyết Chuyết tới hành đạo ở vùng Kinh Bắc rồi trụ trì tại chùa. Các nguồn ghi năm ông về chùa không thống nhất, có nơi ghi năm 1643.
  • 1642 đến 1647Đợt dựng lại lớn nhất
    Đời vua Lê Thần Tông, chùa được dựng lại toàn bộ với quy mô hiện thấy, do Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc cùng công chúa Lê Thị Ngọc Duyên hưng công, thiền sư Minh Hành trông coi.
  • 1647Dựng tháp Báo Nghiêm
    Thiền sư Chuyết Chuyết mất năm 1644, thọ 54 tuổi; nhục thân ông về sau được giữ tại chùa Phật Tích. Ngọn tháp đá năm tầng cao 13,05 mét dựng tại chùa này để thờ ông, cùng năm hoàn tất đợt trùng tu lớn.
  • 1656Tạc pho Quan Âm
    Pho Quan Âm nghìn mắt nghìn tay hoàn thành vào tháng mùa thu năm Bính Thân, theo dòng lạc khoản khắc trên bệ tượng.
  • 1660Dựng tháp Tôn Đức
    Ngọn tháp đá thứ hai, đặt xá lị thiền sư Minh Hành. Nguồn ghi chiều cao khác nhau, nơi ghi 10 mét, nơi ghi 11 mét.
  • 1876Cái tên Bút Tháp
    Tương truyền vua Tự Đức qua vùng này, thấy ngọn tháp đá vươn lên như cây bút chỉ thẳng lên trời nên gọi là Bút Tháp; tên ấy thành tên quen của cả ngôi chùa, còn tên khắc trên tháp vẫn là Báo Nghiêm.
  • 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Chùa được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962, tới năm 2013 được nâng lên hạng di tích quốc gia đặc biệt.

Hai người đàn bà hưng công

Đợt dựng lại giữa thế kỷ 17 không do triều đình đứng ra, mà do hai người đàn bà trong hoàng tộc. Người thứ nhất là Trịnh Thị Ngọc Trúc, con gái chúa Trịnh Tráng, hoàng hậu rồi hoàng thái hậu của vua Lê Thần Tông; bà rời cung về đây tu hành, pháp danh Diệu Viên. Người thứ hai là con gái bà, công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, pháp danh Diệu Tuệ, cùng mẹ xuất gia và cùng đứng tên hưng công.

Hai bà xin phép dựng lại chùa, việc kéo dài tới năm 1647 mới xong, rồi còn nối thêm nhiều năm cho phần tượng và phần tháp. Dấu vết còn rõ trong chính bố cục: khu phủ thờ phía sau thượng điện là nơi đặt bài vị và tượng những người hưng công, nghĩa là chùa đã dành hẳn một nếp nhà cho họ.

Trục Nhà Dài, Cầu Đá Và Bộ Ba Tháp

Chùa dựng theo lối nội công ngoại quốc: các toà chính bên trong xếp thành hình chữ công, hai dãy hành lang dài khép ra ngoài thành khung vuông. Khác các chùa cùng lối, trục chính ở đây rất dài, các nếp nhà nối nhau chạy hơn một trăm mét từ tiền đường tới hậu đường. Hồ sơ di tích ghi tiền đường năm gian rộng 25 mét nhân 10,60 mét, thượng điện năm gian rộng 19 mét nhân 10,60 mét với 24 cột lim, mỗi dãy hành lang 26 gian chạy dài 70 mét.

Thượng điện và lan can đá

Toà đặt pho Quan Âm. Bao quanh là lan can đá chạm nổi, hồ sơ di tích ghi 26 bức phù điêu, đề tài chim muông hoa lá và các con thú, thuộc loại chạm đá thế kỷ 17 còn nguyên nhất ở Bắc Bộ.

Cầu đá ba nhịp

Cầu đá dài chừng 4 mét, ba nhịp uốn cong, mặt lát đá xanh, hai bên thành chạm phù điêu chim muông hoa lá. Cầu nối thượng điện với Tích Thiện Am, tức nối hai toà nhà trong cùng khuôn viên chứ không bắc qua sông.

Tích Thiện Am

Toà nhà ba tầng chồng diêm, thu dần từ năm gian tầng dưới xuống ba gian rồi một gian trên cùng. Hàng cột giữa chạy suốt ba tầng, các thanh ruỗi chạm rồng, mây cuộn, người và thú.

Toà Cửu phẩm liên hoa

Tháp gỗ chín tầng tám mặt cao 7,8 mét trong lòng Tích Thiện Am, quay được quanh trục. Chín tầng ứng chín phẩm vãng sinh, tám mặt chạm phù điêu tích nhà Phật và hàng trăm tượng nhỏ. Bảo vật quốc gia năm 2020.

Tháp Báo Nghiêm

Tháp đá năm tầng cao 13,05 mét dựng năm 1647, thờ thiền sư Chuyết Chuyết. Lòng tháp khoang tròn đường kính 2,29 mét, tầng dưới có 13 bức chạm đá hình thú. Chính ngọn tháp này sinh ra tên Bút Tháp.

Tháp Tôn Đức và tháp Tâm Hoa

Tháp Tôn Đức dựng năm 1660, năm tầng, đặt xá lị thiền sư Minh Hành. Tháp Tâm Hoa đứng cùng nhóm tháp sau khu thờ tổ; hồ sơ di tích có kê tên tháp này nhưng không ghi rõ đặt xá lị vị nào.

Ngoài pho Quan Âm và toà Cửu phẩm, chùa còn hai nhóm bảo vật quốc gia nữa, đều công nhận năm 2020: bộ ba pho Tam Thế bằng gỗ trong thượng điện, và chiếc hương án chạm dày đặc đề tài rồng cuộn, lưỡng long chầu nhật và hổ phù. Cả bốn nhóm đều là đồ gỗ thế kỷ 17 và đều còn nguyên vị trí; riêng tượng trong chùa thì gần một trăm pho.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người nghe tên Bút Tháp rồi tưởng đây là tên chữ của chùa. Không phải. Tên chữ là Ninh Phúc tự, khắc trên bia và hoành phi; chữ Bút Tháp chỉ nói về hình dáng ngọn tháp đá ngoài sân, và theo truyền tụng thì lối gọi ấy bắt đầu từ một lần vua Tự Đức đi qua đây năm 1876. Bản thân ngọn tháp vẫn mang tên khắc là Báo Nghiêm, nghĩa là báo đền công đức nghiêm cẩn, đặt theo đúng chức năng thờ vị tổ đã khuất.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm sát chân đê sông Đuống, trên dải đất bồi phía nam sông, cùng vùng với thành cổ Luy Lâu. Trong phép xem đất ở châu thổ, nơi không có núi thì dòng sông lớn thay chỗ cho mạch núi: sông dẫn khí, còn dải đất cao ven sông là chỗ khí dừng. Dựng chùa ngay mép dải đất ấy là dựng vào chỗ giáp giới giữa nước và đất, thế mà người xưa cho là chỗ sinh.

Về hướng, khu thờ chính quay mặt về nam, lưng dựa phía bắc nơi có con đê và dòng sông. Hướng nam là hướng chùa chiền Bắc Bộ chuộng nhất, đón nắng ấm và gió nồm, tránh gió lạnh mùa đông. Lưng tựa vào đê sông là một biến thể của lối tựa sơn nơi đồng bằng: con đê là mạch đất cao duy nhất trong tầm mắt, chạy dài ôm phía sau chùa đúng như một dãy gò thấp.

Điều đáng đọc nhất ở đây là trục nhà dài hơn trăm mét. Một trục dọc nhiều lớp như vậy, theo lối cũ, là cách dẫn khí đi sâu chứ không để tán ra ngang. Người vào chùa phải qua tam quan, gác chuông, tiền đường, thiêu hương, thượng điện rồi mới tới cầu đá và Tích Thiện Am; mỗi lớp nhà là một lần thu hẹp. Tới chỗ pho Quan Âm thì không gian đã bị bóp lại nhiều lần, nên pho tượng hiện ra lớn hơn kích thước thật. Đó vừa là tính toán về khí, vừa là tính toán về thị giác của người dựng chùa.

Cây cầu đá ba nhịp cũng đọc được theo lối cũ. Cầu bắc ngang một khoảng trống chứ không bắc qua nước, nên không có chức năng đi lại thuần tuý. Trong cách nghĩ cổ truyền, cầu là vật nối hai bờ, và ba nhịp uốn cong đặt giữa trục thờ tự làm thành một đoạn chuyển tiếp: qua khỏi cầu là sang một lớp khác của cùng hành trình. Bộ ba ngọn tháp đá thì dựng lệch về phía sau, không chắn trục chính, giữ vai trò cột mốc ghim chặt phần đất ấy; nhìn từ mặt đê, chính chúng báo cho người đi đường biết dưới kia có một ngôi chùa.

Hội Chùa Tháng Ba

Hội chùa mở vào tháng ba âm lịch, ngày chính là hăm tư. Các nguồn ghi số ngày hội không giống nhau: nơi ghi hai ngày hăm ba và hăm tư, nơi ghi ba ngày từ hăm hai, nơi chỉ ghi đúng ngày hăm tư. Đây là hội làng gắn với chùa, phần lễ do nhà chùa và các giáp trong làng cùng lo.

Trình tự hội theo lệ làng Bút Tháp. Số ngày hội các nguồn ghi vênh nhau, đã nói ở trên. Nguồn: Tài liệu giới thiệu di tích của cơ quan du lịch tỉnh và các bản tin mùa hội..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước chính hộiBao sái và bày lễLau dọn tượng pháp và đồ thờ, bày lễ chay tại thượng điện và khu phủ thờ, treo cờ dọc trục nhà.
Ngày 23 tháng BaLễ nhập tịchNgày mở hội theo lệ làng, dâng hương tại thượng điện và khu tháp tổ.
Ngày 24 tháng BaChính hộiLễ dâng hương lớn nhất trong năm, tụng kinh và cúng Phật, các làng quanh vùng và khách thập phương về dự.
Trong ngày hộiLễ tại tháp tổDâng hương tại tháp Báo Nghiêm thờ thiền sư Chuyết Chuyết và tháp Tôn Đức thờ thiền sư Minh Hành, phần lễ riêng cho hai vị tổ.
Phần hộiTrò diễn và hátTrò chơi dân gian của làng, hát quan họ và văn nghệ diễn ra ở sân ngoài, tách khỏi khu thờ tự.

Ngoài hội tháng ba, chùa đông vào đầu xuân, các ngày rằm mùng một và lễ Vu Lan rằm tháng bảy. Ngày giỗ tổ tính theo ngày viên tịch của thiền sư Chuyết Chuyết, nhà chùa làm lễ riêng tại khu tháp tổ chứ không mở thành hội làng.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, thị xã Thuận Thành cũ, tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Chùa ở thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, thuộc địa bàn thị xã Thuận Thành cũ, tỉnh Bắc Ninh, sát chân đê nam sông Đuống. Cùng tuyến có thể ghé chùa Dâu và vùng Luy Lâu.
Toạ độ
21.0333, 106.07
Khi tới nơi

Lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà trong, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không chạm tay vào pho Quan Âm và các mảng chạm đá. Toà Cửu phẩm quay được nhưng là bảo vật quốc gia, xin đừng tự ý đẩy, muốn xem thì nhờ người trông coi. Cầu đá ba nhịp là lối hẹp, nên đi một chiều và không ngồi lên thành cầu. Chụp ảnh trong thượng điện tuỳ lệ từng lúc, xin hỏi trước khi giơ máy.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Bút Tháp thờ ai

Chùa thờ Phật theo lối Bắc tông, trung tâm là pho Quan Âm nghìn mắt nghìn tay và bộ ba pho Tam Thế. Khu thờ tổ dành cho thiền sư Chuyết Chuyết và Minh Hành; khu phủ thờ phía sau đặt bài vị những người hoàng tộc hưng công giữa thế kỷ 17.

Vì sao chùa có tên là Bút Tháp

Tên chữ của chùa là Ninh Phúc tự. Tên Bút Tháp gắn với ngọn tháp đá ngoài sân: tương truyền năm 1876 vua Tự Đức đi qua đây, thấy tháp vươn lên như cây bút chỉ thẳng lên trời nên gọi là Bút Tháp. Bản thân tháp vẫn mang tên khắc Báo Nghiêm.

Tượng Quan Âm chùa Bút Tháp có bao nhiêu tay và do ai tạc

Hồ sơ bảo vật quốc gia ghi 42 cánh tay lớn và 789 cánh tay phụ, mỗi bàn tay phụ có một con mắt; nhiều tài liệu phổ thông ghi 46 tay lớn và hơn 900 tay nhỏ, thường nêu số 954. Hai cách ghi vênh nhau. Người tạc là nhà điêu khắc họ Trương hiệu Thọ Nam, hoàn thành năm 1656 theo dòng chữ trên bệ.

Chùa Bút Tháp có mấy bảo vật quốc gia

Bốn nhóm, đều là đồ gỗ thế kỷ 17: pho Quan Âm nghìn mắt nghìn tay công nhận đợt đầu năm 2012, rồi bộ ba pho Tam Thế, toà Cửu phẩm liên hoa và chiếc hương án cùng công nhận năm 2020. Cả bốn còn đứng đúng vị trí cũ.

Hội chùa Bút Tháp mở vào ngày nào

Hội mở vào tháng ba âm lịch, ngày chính là hăm tư. Các nguồn ghi số ngày hội khác nhau, nơi ghi hai ngày hăm ba và hăm tư, nơi ghi ba ngày tính từ hăm hai. Ngoài hội, chùa đông vào đầu xuân và các ngày rằm mùng một.

Đọc Tiếp