VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Bạch Mã

白馬祠 · Bạch Mã Tối Linh Từ, đền Long Đỗ

Ngôi đền trấn phương Đông của kinh thành Thăng Long, thờ vị thần đất của chính mảnh đất mà kinh đô được dựng lên trên đó.

Khởi dựng
866
theo thần tích, đời Cao Biền đắp thành Đại La
Bia đá còn giữ
15 tấm
ghi thần tích và các lần tu sửa
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022

Đi giữa phố Hàng Buồm, hai bên là biển hiệu và hàng quán chen nhau, quý vị rất dễ đi qua số 76 mà không nhận ra. Cổng đền hẹp, lọt thỏm giữa dãy nhà mặt phố. Nhưng bước qua cổng ấy là bước vào một khoảng sân lặng, có phương đình mái cong và những hàng cột gỗ lim lớn. Đây là ngôi đền cổ nhất còn lại giữa khu phố cổ Hà Nội.

Điều đáng nói không nằm ở tuổi đền mà ở vị thần được thờ. Long Đỗ nghĩa là rốn rồng, và đó không phải một mỹ tự đặt cho đẹp. Người xưa coi mảnh đất này là cái rốn, tức cái huyệt, của thế đất nơi kinh thành Thăng Long dựng lên. Thờ Long Đỗ là thờ chính mảnh đất ấy, chứ không phải thờ một vị thần từ nơi khác mang tới.

Đền Bạch Mã
Đền Bạch Mã. Ảnh: Greg Willis, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thần Long Đỗ, Rốn Rồng Của Đất Kinh Kỳ

Vị được thờ ở đây mang nhiều tên. Tên gốc và tên quan trọng nhất là Long Đỗ, ghép từ chữ long là rồng và chữ đỗ là cái rốn. Gọi một mảnh đất là rốn rồng tức là nói mảnh đất ấy nằm đúng vào chỗ tụ của mạch đất, chỗ mà trong phép xem đất người ta gọi là huyệt. Tên gọi Bạch Mã, nghĩa là ngựa trắng, đến sau và đến từ một câu chuyện khác, sẽ nói ở phần dưới.

Theo giáo nghĩa

Trong lối thờ tự cổ truyền của người Việt, Long Đỗ thuộc hàng nhiên thần, tức thần của tự nhiên và của đất đai, khác với nhân thần là người thật được thờ làm thần sau khi mất. Mỗi làng Việt đều có một vị thành hoàng coi giữ đất làng; điều làm Long Đỗ khác các vị thành hoàng khác là vị này không coi giữ một làng mà coi giữ cả một kinh đô. Danh hiệu mà Lý Thái Tổ phong cho thần, Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương, nói đúng điều ấy: thành hoàng của quốc đô, tức thần giữ đất cho cả nước chứ không cho riêng một xóm.

Đây cũng là chỗ cần nói rõ về cách xếp mục của thư viện. Chúng tôi xếp đền Bạch Mã vào mục Thờ Cúng Tổ Tiên, vì tín ngưỡng thành hoàng và nhiên thần là nếp thờ tự bản địa của người Việt, không có giáo chủ, không có kinh sách, không có giáo hội, nên không thuộc về một tôn giáo có tổ chức nào. Xin đừng gán vị thần này cho Đạo Giáo chỉ vì đền nằm cùng một hệ tứ trấn với đền Quán Thánh; Quán Thánh là đạo quán thờ một vị thần trong hệ thần linh Đạo Giáo, còn Bạch Mã thờ thần đất của người Việt, hai gốc khác hẳn nhau.

Theo sử liệu

Thần tích gắn với nơi này có hai lớp, cách nhau gần một trăm năm mươi năm.

Lớp thứ nhất thuộc thế kỷ 9. Khi Cao Biền đắp thành Đại La, tương truyền ông thấy trên nền đất phía đông có mây năm sắc bốc lên và một vị mặc áo lụa tía cưỡi rồng hiện ra giữa đám mây ấy; đêm về ông nằm mộng gặp lại vị ấy, xưng là thần Long Đỗ. Cao Biền cho dùng bùa bằng đồng và sắt để trấn yểm, nhưng theo truyền thuyết thì một trận gió lớn nổi lên, cây đổ, các lá bùa tan thành bụi. Từ đó ông thôi ý định trấn yểm mà lập đền thờ. Câu chuyện này thuộc lớp truyền thuyết chứ không phải sử biên niên; giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy người xưa hình dung thần đất của mình mạnh hơn mọi phép thuật mang từ ngoài vào.

Lớp thứ hai thuộc năm 1010. Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, cho đắp thành nhưng thành đắp lên lại lở. Vua tới đền cầu đảo, rồi thấy một con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng rồi trở vào. Vua theo đúng dấu chân ngựa mà định tuyến thành, lần này thành đứng vững. Tên đền Bạch Mã ra đời từ đó, và thần được phong làm thành hoàng của quốc đô.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm về nơi này.

Thứ nhất, đền không thờ con ngựa. Bạch Mã là một danh hiệu của thần Long Đỗ, lấy từ hình ảnh con ngựa trắng trong thần tích, chứ không phải tên một con vật được thờ. Pho tượng ngựa trắng đặt trong đền là vật biểu trưng cho tích ấy, giống như con rùa và con rắn dưới chân pho tượng bên đền Quán Thánh, chứ không phải đối tượng thờ cúng.

Thứ hai, cả nước có nhiều đền mang tên Bạch Mã. Ngôi được nhắc nhiều nhất sau ngôi ở Hàng Buồm là đền Bạch Mã ở vùng Thanh Chương, nay thuộc tỉnh Nghệ An, nhưng nơi ấy thờ tướng Phan Đà, một nhân thật thời Lê sơ, và có lễ hội riêng vào tháng Hai âm lịch với trò vật cù. Hai nơi trùng tên mà khác hẳn vị được thờ, khác hẳn thần tích, nên khi tra cứu xin quý vị để ý chữ Hàng Buồm hoặc chữ tứ trấn để khỏi lẫn.

Về chỗ đứng trong tứ trấn: đền Bạch Mã giữ phương Đông. Ba ngôi còn lại là đền Voi Phục giữ phương Tây thờ Linh Lang Đại Vương, đền Kim Liên giữ phương Nam thờ Cao Sơn Đại Vương, và đền Quán Thánh giữ phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Trong bốn ngôi ấy, Bạch Mã là ngôi cổ nhất và cũng là ngôi duy nhất thờ thần đất của chính kinh thành; ba ngôi kia thờ một hoàng tử, một vị thần núi và một vị thần của Đạo Giáo. Nói cách khác, nếu tứ trấn là bốn cột giữ bốn góc thì Bạch Mã là cái cột cắm ngay vào lòng đất.

Chữ Hán ghi ở đầu trang là chép theo tên gọi Bạch Mã tối linh từ thường thấy trong tư liệu về đền, không phải chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trong đền.

Từ Thành Đại La Đến Phố Hàng Buồm

Lịch sử của đền đi song song với lịch sử của chính khu đất. Chỗ này vốn nằm ở cửa đông của thành Đại La rồi thành Thăng Long, tức nơi hàng hóa từ sông vào thành phải đi qua. Khi kinh thành thu lại và phố phường mọc lên, đền không dời đi mà ở nguyên, để rồi hôm nay thành một ngôi đền nằm kẹp giữa hai dãy nhà mặt phố.

  • 866Lập đền bên thành Đại La
    Theo thần tích, đền được lập trong thời gian Cao Biền đắp thành Đại La, sau khi việc trấn yểm thần Long Đỗ không thành. Đây là niên đại được các tài liệu di tích dùng, lấy từ thần tích chứ không từ một văn bản đương thời.
  • 1010Lý Thái Tổ định đô và phong thần
    Vua dời đô ra Thăng Long, cầu đảo tại đền, theo dấu chân ngựa trắng mà định tuyến thành. Thần được phong Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương, tức thành hoàng của kinh đô.
  • Đời Trần và LêCác đợt gia phong
    Các triều về sau tiếp tục ban sắc phong với những mỹ tự nối thêm, trong đó có danh hiệu Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần. Số sắc phong còn giữ tại đền thuộc lớp thời Nguyễn.
  • 1680 tới 1705Đại tu thời Lê Trung hưng
    Đợt sửa lớn kéo dài, định hình phần lớn bộ khung gỗ và cách bài trí mà đền còn giữ. Nhiều tấm bia trong đền thuộc lớp niên đại này.
  • 1839Mở rộng đời Minh Mệnh
    Năm Minh Mệnh thứ hai mươi, đền được đại tu và mở rộng quy mô. Diện mạo kiến trúc thấy được hôm nay mang dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn từ đợt này.
  • 1986Di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • 2000Tu bổ dịp Thăng Long 990 năm
    Đợt tu bổ lớn nhân kỷ niệm chín trăm chín mươi năm Thăng Long Hà Nội.
  • 2022Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho Thăng Long tứ trấn, trong đó có đền Bạch Mã.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng.

Về niên đại 866: con số này đến từ thần tích đền và được hầu hết tài liệu di tích nhắc lại, nhưng không có văn bản đương thời nào của thế kỷ 9 xác nhận việc lập đền. Lớp di vật cổ nhất còn thấy được tại đền thuộc thời Lê Trung hưng trở về sau. Vì vậy nên hiểu 866 là niên đại theo truyền thống của đền, không phải niên đại khảo được.

Về số bia đá: phần lớn tài liệu ghi đền còn 15 tấm bia, một số bài báo lại ghi 18 tấm. Khoảng chênh này nhiều khả năng do phạm vi đếm khác nhau, có nơi tính cả những tấm nhỏ gắn tường. Chúng tôi chưa tra được bản kiểm kê chính thức nên ghi cả hai con số chứ không chọn bừa một số.

Mái Vỏ Cua Và Bộ Khung Gỗ Lim

Đền dàn theo một trục dọc chạy sâu vào trong, đi từ ngoài vào là nghi môn, phương đình, đại bái, thiêu hương, cung cấm, cùng một nhà hội đồng ở bên. Bố cục ấy quen thuộc, nhưng ở đây nó bị ép vào một mảnh đất hẹp và dài giữa phố cổ, nên các lớp nhà nối nhau rất sát, gần như không có sân rộng như đền miếu ngoại thành.

Nghi môn và phương đình

Lối vào từ mặt phố, qua nghi môn tới phương đình mặt bằng vuông. Phương đình ở đây đáng chú ý vì hệ đấu củng đỡ mái, vừa làm việc chịu lực vừa là chỗ dồn công chạm khắc nhiều nhất của cả ngôi đền.

Mái vỏ cua

Giữa các lớp nhà là những đoạn mái nối hình cong khum, dân gian gọi là mái vỏ cua vì giống mai con cua úp xuống. Cách nối mái này cho phép ghép nhiều nếp nhà thành một khối liền mà nước mưa vẫn thoát được, rất hợp với mảnh đất hẹp chiều ngang.

Bộ khung gỗ lim

Hệ cột và vì kèo bằng gỗ lim, chạm đề tài mây, hoa lá, rồng và phượng, nhiều mảng còn giữ lớp sơn son thếp vàng, thuộc lớp nghệ thuật thời Nguyễn sau đợt mở rộng năm 1839.

Cung cấm

Lớp trong cùng, đặt ngai và bài vị thần Long Đỗ. Không gian hẹp, ánh sáng ít, tách hẳn khỏi tiếng phố bên ngoài chỉ sau vài lớp cửa.

Về hiện vật, thứ đáng kể nhất là bộ bia đá ghi thần tích cùng các lần trùng tu, rồi tới các đạo sắc phong thời Nguyễn, chuông đồng, kiệu rước, hương án, hạc thờpho tượng ngựa trắng. Bộ bia đá có giá trị riêng: bia là thứ ghi ngày tháng, ghi tên người bỏ tiền tu sửa, nên đọc bia là cách chắc chắn nhất để biết ngôi đền đã được sửa vào những năm nào, chắc hơn là dựa vào thần tích.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay thần tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là cái tên. Long Đỗ nghĩa là rốn rồng, mà trong phép xem đất, cái rốn chính là huyệt, tức điểm kết của một mạch đất dài. Một ngọn mạch chạy từ xa về, uốn lượn, rồi dừng lại và tụ vào một điểm; điểm ấy là huyệt, và đặt đền hay đặt mộ vào đó là đặt vào chỗ khí đã tụ. Tên gọi của vị thần ở đây vì vậy không chỉ là một cái tên mà là một lời khẳng định về chất đất: người xưa tin rằng chỗ này là điểm kết của thế đất Thăng Long.

Kế đến là phương vị và ngũ hành. Phương Đông thuộc hành Mộc, sắc xanh, ứng với mùa xuân và với sự sinh sôi. Trong bốn ngôi tứ trấn, ngôi giữ phương Đông là ngôi ứng với lúc khí đang lên chứ không phải lúc khí đã thu lại. Điều ấy ăn khớp với chức năng thật của khu đất: đây là cửa đông, nơi thuyền bè và hàng hóa từ sông vào thành, tức nơi của trao đổi, của làm ăn, của cái mới đi vào. Một khu phố buôn bán lâu đời mọc quanh ngôi đền trấn phương Mộc là chuyện hợp lẽ theo lối đọc này.

Thứ ba là nước. Vùng đất này xưa nằm gần chỗ sông Tô Lịch thông ra sông Hồng, tức có nước lớn ở ngoài và nước nhỏ dẫn vào. Trong phép xem đất đồng bằng, dòng chảy đóng vai dẫn khí còn bến bãi đóng vai tụ khí; cửa đông kinh thành vì vậy có cả mạch dẫn lẫn chỗ tụ. Đó là lý do ngôi trấn Đông không đặt ở một nơi cao ráo vắng vẻ mà đặt ngay giữa chỗ đông người qua lại.

Sau cùng là vai trò trong bốn góc. Ba ngôi kia trấn ở rìa kinh thành, có nước lớn hoặc gò cao làm thế; riêng Bạch Mã trấn ở chỗ mà về sau thành lõi của phố phường. Đọc cả bốn ngôi cùng lúc, có thể thấy người xưa không chỉ khoanh một vòng bốn phương quanh kinh đô, mà còn cắm vào giữa vòng ấy một điểm gọi là rốn. Vòng giữ ngoài, rốn giữ trong; thiếu một trong hai thì cấu trúc không tròn.

Lễ Hội Tháng Hai Và Lễ Tiến Xuân Ngưu

Lễ hội chính của đền rơi vào ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch, trong đó ngày mười hai là chính hội. Thời điểm này ứng với lúc tiết trời chuyển từ đông sang xuân, và nội dung lễ hội gắn chặt với nông vụ chứ không chỉ với thần tích.

Các mốc lễ chính trong năm của đền. Nguồn: Tư liệu giới thiệu di tích và các bản tin về lễ hội đền Bạch Mã..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 12 tháng HaiChính hội và lễ tếNgày trọng nhất trong năm, có lễ tế của đội tế nam quan và lễ dâng hương của đội nữ, tuyên đọc thần tích thần Long Đỗ.
Ngày 12 tháng HaiLễ tiến Xuân NgưuNghi thức dâng trâu mùa xuân, nay được phục dựng với mục đồng và mô hình trâu, cầu cho mưa thuận gió hòa và mùa màng tốt.
Ngày 12 tháng HaiRước kiệuĐám rước đi qua các phố quanh đền, có sự tham gia của đền Mã Mây và các địa bàn dân cư trong khu phố cổ, kèm múa rồng và múa sư tử.
Ngày 13 tháng HaiLễ tạNgày thứ hai của hội, quy mô gọn hơn, khép lại phần lễ.
Đầu xuân, rằm và mùng mộtLệ thường kỳNgười trong khu phố cổ giữ lệ tới đền vào các ngày này, nhiều người đi đủ vòng bốn ngôi tứ trấn trong những ngày đầu năm.

Trong các nghi thức trên, lễ tiến Xuân Ngưu đáng chú ý hơn cả, vì nó không thuộc về thần tích Long Đỗ mà thuộc về lịch nhà nông. Tiến Xuân Ngưu nghĩa là dâng con trâu mùa xuân: vào dịp lập xuân, triều đình xưa làm lễ đón khí xuân, trong đó có nghi thức đưa hình con trâu ra để báo hiệu mùa cày cấy bắt đầu. Việc một lễ của triều đình được giữ lại tại một ngôi đền phố phường nói lên chỗ đứng riêng của Bạch Mã: nơi này vừa là đền của dân phố, vừa là nơi nhà nước quân chủ xưa đặt lễ, nên trong cùng một ngày hội có hai lớp chồng lên nhau.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 76 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm cũ, Hà Nội
Đường tới
Nằm ở số 76 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm cũ, Hà Nội. Cổng đền mở ngay ra mặt phố, đi bộ được từ khu vực chợ Đồng Xuân và từ hồ Hoàn Kiếm.
Toạ độ
21.0349, 105.8508
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của đền là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở cung cấm, không chạm tay vào bia đá, kiệu rước và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên hương án. Lối vào đền hẹp và mở thẳng ra mặt phố, ngày hội rất đông, xin quý vị đi theo hướng dẫn tại chỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Bạch Mã thờ ai

Thờ thần Long Đỗ, vị thần đất của kinh thành Thăng Long, còn mang danh hiệu Bạch Mã Đại Vương. Đây là một nhiên thần, tức thần của đất đai, không phải một nhân vật lịch sử được phong thần. Lý Thái Tổ phong vị này làm Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương, tức thành hoàng của cả kinh đô.

Long Đỗ nghĩa là gì

Long là rồng, đỗ là cái rốn, ghép lại nghĩa là rốn rồng. Trong phép xem đất cổ truyền, cái rốn chỉ điểm kết của một mạch đất, tức huyệt. Gọi mảnh đất này là rốn rồng là nói nơi đây chính là điểm tụ khí của thế đất Thăng Long, nên thờ Long Đỗ là thờ chính mảnh đất ấy.

Vì sao gọi là đền Bạch Mã

Vì thần tích chép rằng năm 1010 Lý Thái Tổ đắp thành Thăng Long mãi không xong, tới đền cầu đảo thì thấy một con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng rồi trở vào. Vua theo đúng dấu chân ngựa mà định tuyến thành, lần ấy thành đứng vững, nên đền mang tên Bạch Mã nghĩa là ngựa trắng.

Thăng Long tứ trấn gồm những đền nào

Bốn ngôi: đền Bạch Mã trấn phương Đông thờ thần Long Đỗ, đền Voi Phục trấn phương Tây thờ Linh Lang Đại Vương, đền Kim Liên trấn phương Nam thờ Cao Sơn Đại Vương, đền Quán Thánh trấn phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Cả bốn cùng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định năm 2022.

Lễ hội đền Bạch Mã vào ngày nào

Vào ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch, chính hội là ngày mười hai. Trong hội có lễ tế, rước kiệu quanh khu phố cổ và lễ tiến Xuân Ngưu, tức nghi thức dâng trâu mùa xuân cầu mưa thuận gió hòa. Đây vốn là một lễ nông nghiệp do triều đình xưa tổ chức, nay được phục dựng trong hội đền.

Đọc Tiếp