VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Bạch Mã

Bạch Mã Tối Linh Từ, đền Long Đỗ

Ngôi đền trấn phương Đông của kinh thành Thăng Long, thờ vị thần đất của chính mảnh đất mà kinh đô được dựng lên trên đó.

Khởi dựng
866
theo thần tích, đời Cao Biền đắp thành Đại La
Bia đá còn giữ
15 tấm
ghi thần tích, nghi thức và các lần tu sửa
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 93/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 2022

Đi giữa phố Hàng Buồm, hai bên là biển hiệu và hàng quán chen nhau, quý vị rất dễ đi qua số 76 mà không nhận ra. Cổng đền mở về hướng nam ra mặt phố khá hẹp, lọt thỏm giữa dãy nhà ống. Nhưng bước qua cổng ấy là bước vào một khoảng không gian lặng, có phương đình mái chồng diêm và những hàng cột gỗ lim lớn. Đây là ngôi đền cổ có lịch sử lâu đời giữa khu phố cổ Hà Nội.

Điều đáng nói không chỉ nằm ở tuổi đền mà ở vị thần được thờ. Long Đỗ nghĩa là rốn rồng, và đó không phải một mỹ tự đặt cho đẹp. Người xưa coi mảnh đất này là cái rốn, tức cái huyệt của thế đất nơi kinh thành Thăng Long dựng lên. Thờ Long Đỗ là thờ chính mảnh đất ấy, chứ không phải thờ một vị thần từ nơi khác mang tới.

Đền Bạch Mã
Đền Bạch Mã. Ảnh: Greg Willis, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Long Đỗ, rốn rồng của đất kinh kỳ

Vị được thờ ở đây mang nhiều tên. Tên gốc và tên quan trọng hơn cả là Long Đỗ, ghép từ chữ long là rồng và chữ đỗ là cái rốn (bụng). Gọi một mảnh đất là rốn rồng tức là nói mảnh đất ấy nằm đúng vào chỗ tụ của mạch đất, chỗ mà trong phép xem đất người ta gọi là huyệt. Tên gọi Bạch Mã, nghĩa là ngựa trắng, đến sau và gắn với một câu chuyện khác được nêu ở phần dưới.

Theo giáo nghĩa

Trong lối thờ tự cổ truyền của người Việt, Long Đỗ thuộc hàng nhiên thần, tức thần của tự nhiên và của đất đai, khác với nhân thần là người thật được thờ làm thần sau khi mất. Mỗi làng Việt đều có một vị thành hoàng coi giữ đất làng. Điều làm Long Đỗ khác các vị thành hoàng làng thông thường là vị này coi giữ cả một kinh đô. Danh hiệu mà vua Lý Thái Tổ phong cho thần là Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương đã nói đúng điều ấy, tức vị thành hoàng của quốc đô, giữ đất cho cả kinh kỳ chứ không cho riêng một xóm.

Đây cũng là chỗ cần nói rõ về cách xếp mục của thư viện. Thư viện xếp đền Bạch Mã vào mục Thờ Cúng Tổ Tiên (tín ngưỡng thờ tổ tiên và thần bản địa), vì tín ngưỡng thành hoàng và nhiên thần là nếp thờ tự bản địa của người Việt, không có giáo chủ, không có kinh sách giáo lý riêng, không có giáo hội, nên không thuộc về một tôn giáo có tổ chức nào. Xin đừng gán vị thần này cho Đạo Giáo chỉ vì đền nằm cùng hệ tứ trấn với đền Quán Thánh. Quán Thánh vốn là đạo quán thờ Huyền Thiên Trấn Vũ trong hệ thần linh Đạo Giáo, còn Bạch Mã thờ thần đất của người Việt, hai gốc khác hẳn nhau.

Theo sử liệu

Thần tích gắn với nơi này (được chép trong các sách Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái) có hai lớp cách nhau gần một trăm năm mươi năm.

Lớp thứ nhất thuộc thế kỷ 9. Khi Cao Biền đắp thành Đại La, tương truyền ông đi dạo cửa đông thấy mây năm sắc từ mặt đất đùn lên, ánh sáng chói mắt, có bậc dị nhân mặc áo lụa tía cưỡi rồng đỏ cầm thẻ bài vàng bay lượn giữa đám mây. Đêm về ông nằm mộng gặp lại vị ấy xưng là thần Long Đỗ, tinh anh của đất Long Biên. Cao Biền cho chôn bùa bằng đồng, sắt và bùa chú để trấn yểm, nhưng ngay đêm đó mưa to gió lớn nổi lên, sấm sét đánh tan cả đồng sắt thành tro bụi. Cao Biền kinh sợ bèn lập đền thờ. Câu chuyện này thuộc lớp truyền thuyết dân gian và dã sử, giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy người xưa hình dung thần đất bản địa mạnh hơn mọi phép trấn yểm từ phương Bắc đưa vào.

Lớp thứ hai thuộc năm 1010. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhà vua cho đắp thành nhưng thành đắp lên nhiều lần bị lở. Vua sai người tới đền cầu đảo, chợt thấy một con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng quanh vùng đất từ đông sang tây rồi quay về đền biến mất. Vua cho lần theo đúng dấu chân ngựa mà đắp thành thì thành đứng vững không lở nữa. Tên đền Bạch Mã ra đời từ đó, và thần được sắc phong làm thành hoàng của quốc đô.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm về nơi này.

Thứ nhất, đền không thờ con ngựa. Bạch Mã là một danh hiệu của thần Long Đỗ, lấy từ hình ảnh con ngựa trắng hiển linh trong thần tích, chứ không phải tên một con vật được thờ. Pho tượng ngựa trắng đặt trong đền là vật biểu trưng cho tích ấy, giống như tượng rùa và rắn dưới chân Huyền Thiên Trấn Vũ bên đền Quán Thánh, chứ không phải đối tượng thờ cúng chính.

Thứ hai, cả nước có nhiều đền mang tên Bạch Mã. Ngôi được nhắc nhiều bên cạnh ngôi ở Hàng Buồm là đền Bạch Mã ở vùng Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nhưng nơi ấy thờ danh tướng Phan Đà thời Lê sơ và có lễ hội riêng vào tháng Hai âm lịch với tục vật cù. Hai nơi trùng tên mà khác hẳn vị được thờ cũng như thần tích, nên khi tra cứu xin quý vị để ý địa danh Hàng Buồm hoặc Thăng Long tứ trấn để khỏi lẫn.

Về chỗ đứng trong tứ trấn, đền Bạch Mã giữ phương Đông. Ba ngôi còn lại gồm đền Voi Phục giữ phương Tây thờ Linh Lang Đại Vương, đền Kim Liên giữ phương Nam thờ Cao Sơn Đại Vương, và đền Quán Thánh giữ phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Trong bốn ngôi ấy, Bạch Mã có lịch sử khởi dựng sớm hơn cả và là ngôi thờ thần đất của chính kinh thành, trong khi ba ngôi kia thờ một vị hoàng tử thời Lý, một vị thần núi thời Hùng Vương và một vị thần Đạo Giáo phương Bắc. Nói cách khác, nếu tứ trấn là bốn cột giữ bốn góc thì Bạch Mã là cái cột cắm ngay vào mạch đất gốc.

Chữ Hán ghi ở đầu trang là chép theo tên gọi Bạch Mã từ (và Bạch Mã tối linh từ) thường thấy trên hoành phi và tư liệu về đền.

IITừ thành Đại La đến phố Hàng Buồm

Lịch sử của đền đi song song với lịch sử của chính khu đất cửa sông. Chỗ này xưa thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, nằm gần cửa sông Tô Lịch thông ra sông Hồng ở phía đông thành Đại La rồi thành Thăng Long, tức nơi thuyền bè và hàng hóa từ sông vào thành phải đi qua. Khi sông Tô Lịch bồi lấp dần và phố phường mọc lên dày đặc, đền không dời đi mà ở nguyên tại chỗ, để rồi hôm nay thành một ngôi đền cổ nằm giữa phố Hàng Buồm.

  • 866Lập đền thời thành Đại La
    Theo thần tích, đền được lập trong thời gian Cao Biền đắp thành Đại La sau khi việc trấn yểm thần Long Đỗ không thành. Đây là niên đại truyền thống lấy từ thần tích.
  • 1010Lý Thái Tổ định đô và phong thần
    Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, cầu đảo tại đền, theo dấu chân ngựa trắng mà định tuyến đắp thành. Thần được phong Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương.
  • Đời Trần và LêCác đợt gia phong và cấp dân tạo lệ
    Các triều đại tiếp tục ban sắc phong như Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần. Năm 1781, chúa Trịnh chuẩn cho ba giáp Mật Thái, Bắc Thượng, Bắc Hạ của phường Hà Khẩu quanh đền làm dân tạo lệ để chuyên lo việc đèn nhang.
  • Thế kỷ 17 - 18Trùng tu thời Lê Trung hưng
    Đền được tu sửa nhiều lần dưới thời Lê Trung hưng, để lại các tấm bia đá cổ và dấu ấn kiến trúc gỗ làm tiền đề cho các đợt tu bổ sau.
  • 1829 - 1839Tu sửa và dựng phương đình, văn chỉ thời Minh Mạng
    Đền được sửa chữa lớn năm 1829. Đến năm Minh Mạng thứ 20 (1839), đền được mở rộng, dựng thêm phương đình và toà văn chỉ ở bên trái. Diện mạo kiến trúc hiện nay mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn từ giai đoạn này.
  • 1986Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Đền Bạch Mã được xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1986.
  • 2000Tu bổ dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long
    Đợt tu bổ tôn tạo lớn nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội.
  • 2022Di tích quốc gia đặc biệt
    Khu di tích Thăng Long tứ trấn (gồm đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên và đền Quán Thánh) được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 93/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 2022.
Theo sử liệu

Có hai điểm trong tư liệu cần lưu ý rõ.

Về niên đại 866, con số này đến từ thần tích đền và được các hồ sơ di tích dẫn lại, nhưng không có văn bản hành chính đương thời nào của thế kỷ 9 còn lưu giữ để xác nhận trực tiếp. Lớp hiện vật và cấu kiện kiến trúc cổ thấy được tại đền thuộc thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn. Vì vậy nên hiểu 866 là niên đại khởi nguyên theo thần tích truyền thống.

Về số lượng bia đá, hồ sơ di tích và phần lớn tài liệu chuyên khảo ghi đền hiện lưu giữ 15 tấm bia đá (ghi thần tích, nghi thức cúng lễ, việc dựng văn chỉ năm 1839, các lần trùng tu và tên người công đức, cúng hậu), trong khi một vài bài báo đại chúng ghi 18 tấm. Thư viện lấy mốc 15 tấm bia theo tư liệu di tích Hà Nội đồng thời ghi chú con số 18 tấm để người đọc biết nguyên nhân chênh lệch.

IIIMái vỏ cua và bộ khung gỗ lim

Đền quay mặt về hướng nam, dàn theo một trục dọc chạy sâu vào trong trên thế đất hình chữ Tam. Đi từ mặt phố Hàng Buồm vào lần lượt là tam quan (nghi môn), phương đình, đại bái, thiêu hương, cung cấm và nhà hội đồng ở phía sau. Bố cục ấy quen thuộc, nhưng ở đây các lớp nhà nằm trên mảnh đất phố cổ nên nối sát liền nhau dưới một hệ mái liên hoàn, không có những khoảng sân rộng thênh thang như đền miếu ngoại thành.

Tam quan và phương đình

Lối vào từ mặt phố Hàng Buồm qua tam quan tới nhà phương đình 2 tầng 8 mái dựng năm Minh Mạng thứ 20 (1839). Phương đình cùng nhà thiêu hương có hệ thống đấu củng đỡ mái liên kết chặt chẽ, vừa chịu lực vừa tập trung nhiều mảng chạm khắc tinh xảo.

Vòm mái vỏ cua

Giữa phương đình, đại bái và thiêu hương là những khoảng nối lợp ngói tạo thành vòm cuốn hình mai cua (dân gian gọi là mái vỏ cua). Cách nối mái này ghép nhiều nếp nhà thành một khối thông thoáng, thoát nước mưa nhanh và lấy sáng tự nhiên cho không gian chiều ngang hẹp.

Đại bái và bộ khung gỗ lim

Hệ cột lớn và vì kèo chồng rường giá chiêng bằng gỗ lim, chạm nổi đề tài tứ linh, mây cụm, hoa lá và lưỡng long chầu nguyệt, nhiều mảng giữ lớp sơn son thếp vàng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 19.

Cung cấm và khám thờ

Lớp trong cùng (hậu cung) 3 gian thâm nghiêm. Giữa cung cấm đặt pho tượng thần Bạch Mã (Long Đỗ) ngồi trong khám gỗ sơn son thếp vàng luôn được bưng kín (cả tượng và khám có niên đại thời Nguyễn). Trong đền còn có ban thờ Phật Thích Ca phản ánh tinh thần tam giáo đồng tôn.

Về cổ vật, giá trị sử liệu cao hơn cả nằm ở 15 tấm bia đá ghi thần tích, nghi thức tế lễ và các lần trùng tu qua thời Lê - Nguyễn, tiếp đến là 20 đạo sắc phong, chuông đồng, kiệu bát cống, bộ lễ khí (bát bửu), đôi hạc gỗ cao hơn 2 mét, đôi phỗng gỗ và pho tượng ngựa trắng ở gian trung tâm. Đọc hệ thống bia đá tại đền là cách xác thực rõ nhất về lịch sử cư dân phố Hàng Buồm qua từng thế kỷ.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay thần tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là cái tên. Long Đỗ nghĩa là rốn rồng, mà trong phép xem đất, cái rốn chính là huyệt, tức điểm kết của một mạch đất dài. Một ngọn long mạch chạy từ xa về, uốn lượn rồi dừng lại và tụ vào một điểm. Điểm ấy là huyệt, và đặt đền vào đó là đặt vào chỗ khí đã tụ. Tên gọi của vị thần ở đây vì vậy không chỉ là một danh xưng mà là một lời khẳng định về chất đất, bởi người xưa tin rằng chỗ này là điểm kết của thế đất Thăng Long.

Kế đến là phương vị, hướng đền và ngũ hành. Đền giữ phương Đông của kinh thành nhưng bản thân ngôi đền lại tọa bắc hướng nam. Phương Đông thuộc hành Mộc, sắc xanh, ứng với mùa xuân và sự sinh sôi. Trong bốn ngôi tứ trấn, ngôi giữ phương Đông là ngôi ứng với lúc dương khí đang lên, còn hướng nam của cửa đền đón khí ấm áp và ánh sáng. Điều ấy ăn khớp với chức năng thật của khu đất, vốn là cửa đông nơi thuyền bè và hàng hóa từ sông Hồng theo cửa sông Tô Lịch đi vào thành, tức nơi của giao thương, làm ăn và sinh khí mới. Một khu phố buôn bán sầm uất mọc quanh ngôi đền trấn phương Mộc là chuyện hợp lẽ theo lối đọc này.

Thứ ba là nước. Vùng đất phường Hà Khẩu xưa nằm ngay chỗ sông Tô Lịch thông ra sông Hồng, tức có đại giang ở ngoài và dòng chi lưu dẫn vào trong. Trong phép xem đất đồng bằng, dòng chảy đóng vai dẫn khí còn bến bãi ngã ba sông đóng vai thủy tụ. Cửa đông kinh thành vì vậy có cả mạch dẫn lẫn chỗ tụ, giải thích vì sao ngôi trấn Đông không đặt ở một gò vắng vẻ mà đặt ngay giữa đầu mối giao hội của cư dân.

Sau cùng là vai trò trong bốn góc. Ba ngôi kia trấn ở rìa kinh thành với hồ lớn hoặc gò cao làm thế, riêng Bạch Mã trấn ở chỗ về sau trở thành lõi của khu 36 phố phường. Đọc cả bốn ngôi cùng lúc, có thể thấy người xưa không chỉ khoanh một vòng bốn phương quanh kinh đô, mà còn cắm vào mạch đất cửa đông một điểm gọi là rốn rồng. Vòng giữ ngoài, rốn giữ trong, hai lớp ấy bổ sung cho nhau thành thế vững của kinh kỳ.

VLễ hội tháng Hai và lễ tiến Xuân Ngưu

Lễ hội truyền thống của đền diễn ra vào ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch hằng năm, trong đó ngày 12 là chính hội. Thời điểm này nằm giữa mùa xuân, gắn chặt cả với lễ tưởng niệm thần Long Đỗ lẫn nghi thức cầu nông cổ truyền của kinh thành Thăng Long.

Các mốc lễ chính trong năm của đền Bạch Mã. Nguồn: Cục Di sản văn hóa và tư liệu lễ hội truyền thống đền Bạch Mã..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 12 tháng HaiChính hội và lễ tếNgày trọng của kỳ hội với lễ tế cổ truyền của đội tế nam quan và lễ dâng hương của đội tế nữ quan, tuyên đọc chúc văn ca ngợi công đức thần Long Đỗ - Bạch Mã.
Ngày 12 tháng HaiLễ tiến Xuân Ngưu (đả Xuân Ngưu)Nghi thức rước và dâng trâu đất mùa xuân, tái hiện mỹ tục cầu nông của kinh thành xưa để cầu mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt.
Ngày 12 tháng HaiLễ rước kiệuĐám rước đi qua các tuyến phố cổ quanh đền với sự tham gia của cư dân các phố thuộc phường Hà Khẩu xưa, kèm múa rồng và múa lân.
Ngày 13 tháng HaiLễ tế tạNgày thứ hai của kỳ hội thực hiện nghi thức tế tạ, khép lại mùa lễ hội đầu xuân.
Đầu xuân, rằm và mùng mộtLệ lễ thường kỳNgười dân phố cổ giữ lệ tới dâng hương vào ngày sóc vọng, nhiều người đi lễ đủ vòng bốn ngôi Thăng Long tứ trấn trong dịp đầu năm.

Trong các nghi thức trên, lễ tiến Xuân Ngưu (hay đả Xuân Ngưu, đánh trâu mùa xuân) có lai lịch sử liệu rất sâu. Sử cổ Việt sử lược chép rằng từ năm 1048 đời vua Lý Thái Tông đã định lệ đả xuân ngưu. Đến thời Lê Trung hưng, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi rõ trước tiết Lập xuân một ngày, quan Phủ Doãn phủ Phụng Thiên cùng quan hai huyện Thọ Xương, Quảng Đức đem trâu đất đặt tại đền Bạch Mã ở phường Hà Khẩu, hôm sau dùng cành dâu đánh vào trâu đất để xua khí hàn rồi làm lễ tiến Xuân Ngưu vào triều. Việc một đại lễ khuyến nông của triều đình được cử hành ngay tại đền Bạch Mã cho thấy vị thế đặc biệt của ngôi đền này trong đời sống nghi lễ kinh thành xưa.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đường tới
Nằm ở số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm (phường Hàng Buồm cũ, quận Hoàn Kiếm cũ), Hà Nội. Cổng đền mở về hướng nam ngay ra mặt phố Hàng Buồm, đi bộ rất gần từ khu vực Ô Quan Chưởng, chợ Đồng Xuân hoặc hồ Hoàn Kiếm.
Toạ độ
21.0349, 105.8508
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan đơn thuần, nên lệ của đền cần được giữ nghiêm gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ nón khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ trước cung cấm, không tự ý chạm tay vào bia đá, kiệu rước và đồ thờ tự, đồng thời bỏ tiền giọt dầu vào hòm công đức thay vì cài lên hương án. Lối vào đền mở thẳng ra mặt phố Hàng Buồm vốn nhiều xe cộ, vào ngày hội hoặc dịp rằm, mùng một rất đông, xin quý vị đi theo hướng dẫn tại chỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Bạch Mã

Contribute photos, information or video for Bach Ma Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Bạch Mã thờ ai

Thờ thần Long Đỗ, vị thần đất của kinh thành Thăng Long, còn mang danh hiệu Quảng Lợi Bạch Mã Đại Vương. Đây là một nhiên thần (thần của đất đai sông núi), được vua Lý Thái Tổ sắc phong làm Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương, tức vị thành hoàng bảo hộ cả kinh đô.

Long Đỗ nghĩa là gì

Long là rồng, đỗ là cái rốn (hoặc bụng), ghép lại nghĩa là rốn rồng. Trong phép xem đất cổ truyền, cái rốn chỉ điểm kết tụ của long mạch, tức huyệt đất. Gọi mảnh đất này là rốn rồng là nói nơi đây chính là điểm tụ khí của thế đất Thăng Long, nên thờ thần Long Đỗ là thờ tinh anh của chính mảnh đất kinh kỳ.

Vì sao gọi là đền Bạch Mã

Theo thần tích, năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long và cho đắp thành nhưng thành nhiều lần bị lở. Nhà vua sai người tới đền cầu đảo thì thấy một con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng từ đông sang tây rồi quay lại đền biến mất. Vua theo đúng dấu chân ngựa mà đắp thành thì thành đứng vững, từ đó đền được gọi là đền Bạch Mã (ngựa trắng).

Thăng Long tứ trấn gồm những đền nào

Gồm bốn ngôi đền trấn giữ bốn phương của kinh thành Thăng Long xưa, trong đó đền Bạch Mã trấn phương Đông thờ thần Long Đỗ, đền Voi Phục trấn phương Tây thờ Linh Lang Đại Vương, đền Kim Liên trấn phương Nam thờ Cao Sơn Đại Vương, và đền Quán Thánh trấn phương Bắc thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Cả bốn ngôi cùng được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 93/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 2022.

Lễ hội đền Bạch Mã diễn ra vào ngày nào

Lễ hội truyền thống diễn ra vào ngày 12 và 13 tháng Hai âm lịch hằng năm, chính hội là ngày 12. Trong hội có lễ tế cổ truyền, rước kiệu qua các phố cổ và nghi thức lễ tiến Xuân Ngưu (dâng trâu mùa xuân cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt) vốn bắt nguồn từ nghi lễ đón tiết Lập xuân của triều đình xưa tại đền.

›Đọc Tiếp