Đền nằm giữa phố. Quý vị đi trên đường Lê Chân, hai bên là nhà cửa và hàng quán của một khu nội thành đông đúc, rồi gặp một cổng đền xây gạch với đôi voi đá và ngựa đá chầu hai bên. Bước qua cổng là hết tiếng phố, mở ra một khoảng sân gạch, mấy cây lâu năm và ba lớp nhà thấp lợp ngói. Cách đó chừng hơn một trăm mét về phía tây bắc, giữa vườn hoa trung tâm thành phố, là pho tượng đồng của chính người được thờ trong đền.
Tên chữ của đền là An Biên cổ miếu, nghĩa là ngôi miếu cổ của làng An Biên. Cái tên ấy nói ra điều quan trọng về nơi này, bởi trước khi có thành phố Hải Phòng thì ở đây có một làng tên An Biên, và người lập ra làng ấy chính là người đang được thờ trong hậu cung.
INữ Tướng Lê Chân Và Chữ Nghè Trong Tên Đền
Vị được thờ là Lê Chân, người theo thần tích sinh năm 20 sau Công nguyên, gốc làng An Biên thuộc vùng Đông Triều, sau đưa dân về vùng ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm khai hoang lập ấp. Ấp ấy ban đầu gọi là làng Vẻn, về sau đổi thành trang An Biên, và đó là tiền thân của thành phố Hải Phòng hôm nay. Bà tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và theo thần tích được Trưng Vương giao chức chưởng quản binh quyền nội bộ.
Chữ Hán ghi ở đầu bài là do thư viện chuyển tự từ tên chữ An Biên cổ miếu, không phải chép từ một bức hoành phi cụ thể trong đền.
Đây là lối thờ nhân thần, tức thờ một người thật được tôn làm thần ở bậc thành hoàng. Thành hoàng là vị thần cai quản và che chở một cộng đồng dân cư cụ thể, khác với các vị thần chung của cả nước. Lê Chân được thờ làm thành hoàng của trang An Biên, rồi khi làng ấy lớn thành thành phố, bà thành thành hoàng của cả đất cảng.
Trên hiên hậu cung có đặt một bàn thờ đá thờ toà miếu đá cổ, mặt trước khắc chìm dòng chữ Đương cảnh Thành Hoàng Nam Hải uy linh Thượng đẳng tôn thần. Đọc dòng chữ ấy là đọc đúng ngôi vị của vị được thờ, trong đó đương cảnh nghĩa là ngay tại cõi đất này, còn thượng đẳng là bậc cao trong ba bậc phong thần của lệ cũ.
Văn bia Hải Phòng An Biên thần tích bi tại đền chép rằng sau khi Lê Chân tuẫn tiết, dân trang An Biên thấy một chiếc sập đá nổi trên mặt sông Cấm, trên có đặt một toà miếu đá nhỏ đựng sắc phong. Khi dân làng bày mâm cua biển và mâm bún ra khấn lễ thì sập đá và miếu đá trôi dạt vào bờ, dân rước lên lập miếu thờ từ đó. Tương truyền vào đời vua Trần Anh Tông, khi nhà vua đi đánh Chiêm Thành qua vùng biển này đã được thần báo mộng phù trợ nên ban phong bốn chữ Nam Hải uy linh. Những chuyện ấy thuộc lớp thần tích truyền tụng chứ không phải sử biên niên, nhưng giá trị của chúng nằm ở chỗ cho biết ngôi miếu gốc gắn liền với toà miếu đá cổ hiện còn lưu giữ ở hiên hậu cung.
Cần nói rõ một điều về niên đại. Người được thờ thuộc thế kỷ thứ nhất, nhưng ngôi đền hiện nay thì không. Không có văn bản đương thời nào cho biết miếu được lập năm nào, còn các tài liệu di tích chỉ chép rằng ban đầu đây là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh, và bộ mặt quý vị thấy hôm nay hoàn toàn thuộc lớp đầu thế kỷ 20.
Chỗ hay hiểu lầm nằm ngay trong tên đền. Nhiều người đọc chữ Nghè rồi nghĩ tới ông nghè, tức người đỗ tiến sĩ, và đoán rằng đây là đền thờ một vị đỗ đại khoa. Không phải. Hai chữ ấy chỉ trùng âm.
Nghè trong tên đền là một loại hình kiến trúc thờ tự của người Việt, một dạng của đền miếu, thường có quy mô nhỏ và thường gắn với một di tích trung tâm khác. Nghè có thể là nơi thờ thành hoàng của một làng nhỏ tách ra từ làng gốc, cũng có thể là ngôi đền nhỏ dựng riêng cho việc thờ cúng thường ngày của một vị thần, còn việc tế lớn thì làm ở đình. Những ngôi nghè cổ còn biết được thuộc thế kỷ 17. Đặt trong nghĩa ấy, cặp đền Nghè và đình An Biên ở Hải Phòng là một cặp chuẩn mực, khi nghè giữ phần thờ hằng ngày còn đình giữ phần việc chung của làng, cả hai cùng thờ một vị.
IITừ Miếu Lợp Tranh Đến Ngôi Đền Trong Phố
Lịch sử ở đây có một khoảng trống rất dài. Một đầu là thế kỷ thứ nhất, khi trang An Biên được lập và việc thờ tự bắt đầu. Đầu kia là đầu thế kỷ 20, khi ngôi miếu tranh được dựng lại thành ngôi đền còn thấy hôm nay. Giữa hai đầu ấy, tư liệu hầu như không còn gì.
- Thế kỷ 1Lập trang An BiênTheo thần tích, Lê Chân đưa dân về vùng ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm khai hoang, lập ấp gọi là làng Vẻn, sau đổi thành trang An Biên, tiền thân của thành phố Hải Phòng.
- Sau khi Lê Chân mấtDựng miếu thờDân trang An Biên lập miếu thờ gắn với sự tích sập đá và toà miếu đá trôi dạt vào bờ sông Cấm. Ban đầu nơi thờ chỉ là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh.
- Cuối thế kỷ 19Chuyển về chỗ hiện nayTheo tài liệu di tích, miếu được chuyển tới vị trí đang thấy trong giai đoạn này, khi khu vực đô thị hoá và làng An Biên cũ biến dần thành phố.
- 1919Dựng toà tiền bái và giải vũMốc dựng lớn đầu tiên có niên đại rõ. Từ đây ngôi miếu tranh chuyển thành công trình gỗ và gạch có quy mô, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
- 1924 tới 1927Trùng tu mở rộng toàn khuTheo văn bia dựng tháng 7 năm 1927 tại nhà giải vũ, đợt trùng tu khởi công mùa xuân năm Giáp Tý niên hiệu Khải Định thứ chín (1924) và hoàn thành năm 1927, định hình toàn bộ nghi môn, thiêu hương, hậu cung, nhà bia cùng bộ sập đá, khánh đá.
- 1975Xếp hạng di tích quốc giaĐền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Một số tài liệu ghi mốc này là năm 1974 và chỗ vênh nhau được nói rõ ngay dưới đây.
- 2000Dựng tượng đài Lê ChânPho tượng đồng cao 7,5 mét, nặng 19 tấn, đặt ở vườn hoa trung tâm thành phố, cách đền hơn một trăm mét về phía tây bắc. Từ đây việc thờ tự có thêm điểm thứ ba ngoài đền và đình.
- 2016Lễ hội vào danh mục quốc giaLễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.
Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Thứ nhất là niên đại dựng đền, khi có tài liệu nêu năm 1919 là năm xây dựng toà tiền bái và giải vũ, còn văn bia tại nhà giải vũ lại ghi đợt trùng tu lớn mở rộng hậu cung, thiêu hương, nhà bia từ mùa xuân năm Giáp Tý 1924 tới tháng 7 năm 1927. Hai mốc này nối tiếp nhau thành quá trình hoàn thiện cả quần thể đầu thế kỷ 20, nên thư viện ghi rõ cả hai chặng.
Thứ hai là năm xếp hạng di tích, khi nguồn ghi năm 1974, nguồn ghi năm 1975. Chênh lệch một năm này thường do lẫn giữa năm lập hồ sơ và năm công bố quyết định, nên thư viện nêu cả hai. Riêng số cột của toà tiền bái cũng có hai cách ghi, một nguồn chép 24 cột gỗ lim trên 24 viên đá tảng, một nguồn chép 16 cột, do khác nhau ở chỗ tính hay không tính hàng cột hiên.
IIIBa Lớp Nhà Và Bộ Đồ Đá
Đền dàn theo một trục dọc, đi từ ngoài vào trong là nghi môn, sân, rồi ba lớp nhà tiền bái, thiêu hương và hậu cung, hai bên có giải vũ, nhà bia và nhà từ phủ. Đây là bố cục quen của đền miếu Bắc Bộ. Cái riêng của đền Nghè không nằm ở bố cục mà nằm ở phần chạm khắc trên nghi môn, mái đền và bộ đồ đá đặt trong các lớp nhà trong.
Phần chạm khắc
Nghi môn đắp nổi các linh vật phượng, rồng và lân. Trên bờ nóc là hai đầu rồng ngậm bờ nóc, hai con quy mang hình Hà đồ, chính giữa là một cuốn thư khắc bốn chữ Hán bằng sứ men lam. Các đề tài chạm trong đền trải từ long, ly, quy, phượng tới tùng, cúc, trúc, mai, tức đủ cả bộ linh vật và bộ cây cỏ của trang trí cổ truyền. Lớp chạm khắc này thuộc phong cách nghệ thuật thời Nguyễn giai đoạn cuối, và chính nó cho biết niên đại thật của công trình.
Sập đá, khánh đá và văn bia thời Nguyễn
Các hiện vật khiến người ta nhớ ngôi đền này đều bằng đá và đều chạm rất kỹ.
Sập đá đặt ở toà thiêu hương, là một khối đá liền chứ không ghép, khá đồ sộ, chung quanh chạm nổi các hình chim, thú, hoa và lá. Một sập thờ tạc liền khối bằng đá tốn công hơn nhiều so với sập gỗ, nên sự có mặt của nó nói lên tầm mức mà người đương thời dành cho nơi thờ tự này.
Khánh đá treo ở toà tiền bái, là một tấm đá nguyên khối dày chừng 5 xentimét, cao chừng 1 mét, rộng chừng 1,6 mét, chạm nổi đề tài Long vân khánh hội. Khánh là nhạc khí nghi lễ thường làm bằng đồng, nên làm bằng đá lại tạc nguyên khối mỏng đến mức ấy đòi hỏi tay nghề cao vì đá mỏng rất dễ nứt khi chạm. Cùng với sập đá và khánh đá, đền còn giữ tấm bia đá lớn thời Nguyễn là Hải Phòng An Biên thần tích bi khắc tiểu sử Nữ tướng Lê Chân và bia năm 1927 ghi việc trùng tu đền.
Cổng xây gạch đắp nổi phượng, rồng, lân, phía trước có đôi voi đá và ngựa đá chầu hai bên. Đây là mặt tiền của đền nhìn ra phố.
Năm gian, hệ cột gỗ lim đặt trên đá tảng, nơi treo chiếc khánh đá cổ chạm đề tài Long vân khánh hội. Các nguồn ghi số cột khác nhau, một nơi chép 24 cột trên 24 viên đá tảng, một nơi chép 16 cột.
Lớp nhà giữa dựng theo kiểu phương đình bốn cột cái lớn và hai tầng tám mái chồng diêm, treo bức hoành phi Thượng đẳng linh từ và đặt bộ sập đá liền khối.
Ba gian trong cùng treo bức đại tự Nghi gia vạn thế, đặt tượng Lê Chân tạc bằng gỗ ngồi trên ngai rồng, đội mũ phượng trang trí hoa cúc và chim phượng. Trên hiên hậu cung có bàn thờ đá đặt toà miếu đá khắc dòng chữ phong thần.
Nhà bia và giải vũ giữ tấm bia Hải Phòng An Biên thần tích bi khắc thân thế Nữ tướng Lê Chân cùng bia năm 1927 ghi việc trùng tu. Hai dãy giải vũ chạy hai bên sân, khép khuôn viên thành một khối kín so với phố bên ngoài.
Ngôi đình của làng An Biên cũ, cũng thờ Lê Chân, nằm gần đền. Đền giữ phần thờ hằng ngày còn đình giữ phần việc chung của làng, tới ngày hội hai nơi cùng vào một cuộc.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Muốn đọc thế đất ở đây thì phải đọc thế đất của cả làng An Biên xưa chứ không chỉ của mảnh đất đền đang đứng. Nơi được chọn để lập ấp là chỗ ngã ba sông Tam Bạc gặp sông Cấm, gần cửa biển. Trong phép xem đất, hợp lưu hai dòng là chỗ thuỷ tụ, tức nước hội lại, mà nước hội thì khí hội. Vùng châu thổ ven biển không có núi để tựa, nên người xưa lấy chính thế nước làm chỗ dựa, và một ngã ba sông thông ra biển là thế nước quý trong loại đất ấy.
Xét theo ngũ hành, đây là đất thuần Thuỷ gồm sông, cửa biển và bãi bồi. Dòng chữ phong thần khắc trên toà miếu đá ở hiên hậu cung có bốn chữ Nam Hải uy linh, tức oai linh của biển nam. Thần được thờ mang danh hiệu gắn với biển, mà đất thờ lại là đất cửa biển, nên sự trùng khớp giữa hành của đất và danh hiệu của vị chủ theo lối cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ.
Về hướng và về khuôn viên, đền nằm lọt giữa một khu phố đông. Nghi môn mở ra mặt đường, hai dãy giải vũ khép hai bên sân, ba lớp nhà thấp dồn vào trong. Đọc theo lối cũ, đây là cách xử lý của một nơi thờ tự bị đô thị vây quanh, khi không còn minh đường rộng để mở ra ngoài thì người ta quay vào trong, lấy khoảng sân gạch làm minh đường thu nhỏ và lấy hàng giải vũ làm vách ngăn tiếng phố. Cái cảm giác bước qua cổng là hết tiếng phố chính là kết quả của cách xử lý ấy.
Sau cùng là bộ ba điểm thờ. Đền Nghè, đình An Biên và tượng đài Lê Chân nằm cách nhau trong bán kính vài trăm mét, và ngày hội thì cả ba cùng vào một cuộc rước. Đọc theo con mắt phong thuỷ, đây không phải ba điểm rời mà là một cụm có tâm, trong đó đền giữ phần thiêng, đình giữ phần việc chung và tượng đài giữ phần mặt tiền đô thị. Một làng cổ đã tan vào trong phố, nhưng cái lõi thờ tự của nó vẫn giữ được hình dạng cũ là ba điểm chụm quanh một chỗ.
VLễ Hội Nữ Tướng Lê Chân
Trong năm, đền có ba ngày lệ gắn với thân thế của vị được thờ, và một kỳ hội lớn mở quanh ngày sinh. Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm 2016.
| Thời điểm âm lịch | Lệ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Hai | Ngày sinh | Ngày trọng nhất trong năm và là ngày chính của lễ hội. Kỳ hội thường mở từ mùng 7 hoặc mùng 8 tới mùng 10 tháng Hai. |
| Rằm hoặc 18 tháng Tám | Lễ thắng trận và khánh hạ | Ngày mừng thắng trận theo thần tích, quy mô gọn hơn hội tháng Hai. Có tài liệu ghi ngày 15 tháng Tám, có tài liệu ghi ngày 18 tháng Tám. |
| Ngày 25 tháng Chạp | Ngày hoá | Lễ tưởng niệm ngày mất cuối năm, làm tại đền, không mở thành hội. |
| Trong kỳ hội tháng Hai | Rước ba điểm | Phần lễ làm tại đền Nghè và đình An Biên, hai đoàn rước có múa lân, cờ, trống, chiêng, bát biểu và kiệu Long Đình, đi về quảng trường tượng đài. |
| Trong kỳ hội tháng Hai | Phần hội của làng | Các nguồn ghi nhận cờ tướng, đấu vật và các tiết mục hát truyền thống, cùng lệ phục dựng chợ Vẻn theo tên gọi cũ của làng. |
Đáng để ý là nhịp ba ngày ấy gồm ngày sinh, ngày mừng thắng trận và ngày hoá. Đây là nhịp lệ của lối thờ nhân thần, tức thờ theo đời một người thật, khác với nhịp lệ của chùa vốn theo ngày vía các vị trong kinh điển. Ai quen đi chùa mà lần đầu tới đền sẽ thấy cách tính ngày ở đây khác hẳn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 53 phố Lê Chân, phường An Biên, quận Lê Chân cũ, Hải Phòng
- Đường tới
- Đền nằm tại số 53 phố Lê Chân, phường An Biên, thuộc quận Lê Chân cũ, thành phố Hải Phòng, ngay trong khu nội thành. Đi bộ được từ vườn hoa trung tâm nơi đặt tượng đài Lê Chân và từ đình An Biên gần đó.
- Toạ độ
- 20.8546, 106.6803
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Sập đá, khánh đá, văn bia và toà miếu đá ở hiên hậu cung là hiện vật gốc, xin quý vị đừng chạm tay hay gõ vào. Kỳ hội mùng tám tháng Hai có đoàn rước đi từ đền sang đình An Biên rồi ra quảng trường tượng đài, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Nghè
Contribute photos, information or video for Nghe TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Nghè thờ ai
Thờ nữ tướng Lê Chân, người theo thần tích đã đưa dân về vùng ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm khai hoang lập ấp, đặt tên là làng Vẻn rồi đổi thành trang An Biên, tiền thân của thành phố Hải Phòng. Bà được tôn làm thành hoàng của đất cảng, với danh hiệu khắc trên toà miếu đá đặt ở hiên hậu cung.
Chữ Nghè trong tên đền nghĩa là gì
Nghè là một loại hình kiến trúc thờ tự của người Việt, một dạng của đền miếu, quy mô nhỏ và thường gắn với một di tích trung tâm khác, dùng cho việc thờ cúng thường ngày. Chữ này không liên quan gì tới ông nghè tức người đỗ tiến sĩ, hai chữ chỉ trùng âm. Tên chữ của đền là An Biên cổ miếu.
Đền Nghè có gì đáng xem nhất
Bộ đồ đá và văn bia thời Nguyễn. Toà thiêu hương có một sập đá tạc liền khối, chung quanh chạm nổi chim, thú, hoa, lá. Toà tiền bái treo chiếc khánh đá nguyên khối dày chừng 5 xentimét, cao chừng 1 mét, rộng chừng 1,6 mét, chạm đề tài Long vân khánh hội. Ngoài ra còn toà miếu đá ở hiên hậu cung và bia Hải Phòng An Biên thần tích bi khắc thân thế Nữ tướng Lê Chân.
Đền Nghè xây từ năm nào
Người được thờ thuộc thế kỷ thứ nhất nhưng ngôi đền thì không. Ban đầu đây là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh, không có văn bản đương thời nào cho biết năm lập. Lớp kiến trúc hiện còn thuộc đầu thế kỷ 20, trong đó năm 1919 dựng toà tiền bái và giải vũ, còn đợt trùng tu từ năm 1924 tới năm 1927 hoàn thiện hậu cung, thiêu hương, nhà bia và bộ đồ đá.
Lễ hội đền Nghè mở vào ngày nào
Kỳ hội lớn mở quanh mùng tám tháng Hai âm lịch, là ngày sinh của Lê Chân, thường kéo từ mùng bảy hoặc mùng tám tới mùng mười. Phần lễ làm tại đền Nghè và đình An Biên, đoàn rước đi ra quảng trường tượng đài. Trong năm còn hai ngày lệ nữa là rằm hoặc ngày mười tám tháng Tám và ngày hai mươi lăm tháng Chạp.