VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Nghè

安邊古廟 · An Biên Cổ Miếu

Ngôi đền trong lòng phố Hải Phòng, thờ người đã lập ra trang An Biên, tức gốc của thành phố này, và được đất cảng tôn làm thành hoàng.

Vị được thờ
Lê Chân
người lập trang An Biên, thành hoàng đất cảng
Lớp kiến trúc hiện còn
đầu thế kỷ 20
dựng và trùng tu trong khoảng các năm 1919 tới 1927
Xếp hạng
Di tích quốc gia
nguồn ghi năm 1974, nguồn ghi năm 1975

Đền nằm giữa phố. Quý vị đi trên đường Lê Chân, hai bên là nhà cửa và hàng quán của một khu nội thành đông đúc, rồi gặp một cổng đền xây gạch với đôi voi đá và ngựa đá chầu hai bên. Bước qua cổng là hết tiếng phố: một khoảng sân gạch, mấy cây lâu năm, và ba lớp nhà thấp lợp ngói. Cách đó chừng hơn một trăm mét về phía tây bắc, giữa vườn hoa trung tâm thành phố, là pho tượng đồng của chính người được thờ trong đền.

Tên chữ của đền là An Biên cổ miếu, nghĩa là ngôi miếu cổ của làng An Biên. Cái tên ấy nói ra điều quan trọng nhất về nơi này: trước khi có thành phố Hải Phòng, ở đây có một làng tên An Biên, và người lập ra làng ấy chính là người đang được thờ trong hậu cung.

Nữ Tướng Lê Chân Và Chữ Nghè Trong Tên Đền

Vị được thờ là Lê Chân, người theo thần tích sinh năm 20 sau Công nguyên, gốc vùng Đông Triều, sau đưa dân về vùng ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm khai hoang lập ấp. Ấp ấy ban đầu gọi là làng Vẻn, về sau đổi thành trang An Biên, và đó là tiền thân của thành phố Hải Phòng hôm nay. Bà tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và theo thần tích được Trưng Vương giao chức chưởng quản binh quyền nội bộ.

Chữ Hán ghi ở đầu bài là do thư viện chuyển tự từ tên chữ An Biên cổ miếu, không phải chép từ một bức hoành phi cụ thể trong đền.

Theo giáo nghĩa

Đây là lối thờ nhân thần, tức thờ một người thật được tôn làm thần, và ở bậc cao nhất của lối thờ ấy: thành hoàng. Thành hoàng là vị thần cai quản và che chở một cộng đồng dân cư cụ thể, khác với các vị thần chung của cả nước. Lê Chân được thờ làm thành hoàng của trang An Biên, rồi khi làng ấy lớn thành thành phố, bà thành thành hoàng của cả đất cảng.

Trong hậu cung còn một khối đá được thờ, trên mặt khắc chìm dòng chữ Đương cảnh Thành Hoàng Nam Hải uy linh Thượng đẳng tôn thần. Đọc dòng chữ ấy là đọc đúng ngôi vị của vị được thờ: đương cảnh nghĩa là ngay tại cõi đất này, thượng đẳng là bậc cao nhất trong ba bậc phong thần của lệ cũ.

Theo sử liệu

Thần tích của đền chép rằng sau khi Lê Chân mất, bà hoá thành một phiến đá trôi trên mặt sông về tới đất An Biên. Dân làng vớt phiến đá ấy lên và lập miếu thờ. Chuyện hoá đá thuộc lớp truyền thuyết, không phải sử biên niên; giá trị của nó nằm ở chỗ cho biết ngôi miếu đầu tiên ở đây được lập quanh một hòn đá thiêng chứ không quanh một pho tượng, và tới nay khối đá vẫn được giữ trong hậu cung như vật thờ gốc.

Cần nói rõ một điều về niên đại. Người được thờ thuộc thế kỷ thứ nhất, nhưng ngôi đền hiện nay thì không. Không có văn bản đương thời nào cho biết miếu được lập năm nào; các tài liệu di tích chỉ chép rằng ban đầu đây là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh, và bộ mặt quý vị thấy hôm nay hoàn toàn thuộc lớp đầu thế kỷ 20.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nằm ngay trong tên đền. Nhiều người đọc chữ Nghè rồi nghĩ tới ông nghè, tức người đỗ tiến sĩ, và đoán rằng đây là đền thờ một vị đỗ đại khoa. Không phải. Hai chữ ấy chỉ trùng âm.

Nghè trong tên đền là một loại hình kiến trúc thờ tự của người Việt, một dạng của đền miếu, thường có quy mô nhỏ và thường gắn với một di tích trung tâm khác. Nghè có thể là nơi thờ thành hoàng của một làng nhỏ tách ra từ làng gốc, cũng có thể là ngôi đền nhỏ dựng riêng cho việc thờ cúng thường ngày của một vị thần, còn việc tế lớn thì làm ở đình. Những ngôi nghè cổ nhất còn biết được thuộc thế kỷ 17. Đặt trong nghĩa ấy, cặp đền Nghèđình An Biên ở Hải Phòng chính là một cặp chuẩn mực: nghè giữ phần thờ hằng ngày, đình giữ phần việc chung của làng, cả hai cùng thờ một vị.

Từ Miếu Lợp Tranh Đến Ngôi Đền Trong Phố

Lịch sử ở đây có một khoảng trống rất dài. Một đầu là thế kỷ thứ nhất, khi trang An Biên được lập và việc thờ tự bắt đầu. Đầu kia là đầu thế kỷ 20, khi ngôi miếu tranh được dựng lại thành ngôi đền còn thấy hôm nay. Giữa hai đầu ấy, tư liệu hầu như không còn gì.

  • Thế kỷ 1Lập trang An Biên
    Theo thần tích, Lê Chân đưa dân về vùng ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm khai hoang, lập ấp gọi là làng Vẻn, sau đổi thành trang An Biên, tiền thân của thành phố Hải Phòng.
  • Sau khi Lê Chân mấtDựng miếu thờ
    Dân trang An Biên lập miếu thờ quanh phiến đá mà thần tích chép là bà đã hoá thành. Ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh.
  • Cuối thế kỷ 19Chuyển về chỗ hiện nay
    Theo tài liệu di tích, miếu được chuyển tới vị trí đang thấy trong giai đoạn này, khi khu vực đô thị hoá và làng An Biên cũ biến dần thành phố.
  • 1919Dựng toà tiền bái
    Mốc dựng lớn đầu tiên có niên đại rõ. Từ đây ngôi miếu tranh chuyển thành công trình gỗ và gạch có quy mô, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
  • 1924 tới 1927Trùng tu quy mô lớn
    Đợt xây dựng định hình toàn bộ bộ mặt hiện còn, gồm nghi môn, tiền bái, thiêu hương, hậu cung, giải vũ và nhà bia. Các nguồn gắn đợt này với niên hiệu Khải Định năm thứ chín.
  • 1975Xếp hạng di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Một số tài liệu ghi mốc này là năm 1974; chỗ vênh nhau được nói rõ ngay dưới đây.
  • 2000Dựng tượng đài Lê Chân
    Pho tượng đồng cao 7,5 mét, nặng 19 tấn, đặt ở vườn hoa trung tâm thành phố, cách đền hơn một trăm mét về phía tây bắc. Từ đây việc thờ tự có thêm điểm thứ ba ngoài đền và đình.
  • 2016Lễ hội vào danh mục quốc gia
    Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Thứ nhất là niên đại dựng đền: có tài liệu nêu năm 1919 là năm xây dựng và tu bổ, có tài liệu nêu đợt 1924 tới 1927 là đợt trùng tu quy mô lớn. Hai mốc này không loại trừ nhau, nhiều khả năng một là năm dựng toà tiền bái và một là đợt hoàn thiện cả quần thể, nhưng chúng tôi chưa tra được văn bản nào phân định dứt điểm nên ghi cả hai.

Thứ hai là năm xếp hạng di tích: nguồn ghi năm 1974, nguồn ghi năm 1975. Chênh lệch một năm này thường do lẫn giữa năm ra quyết định và năm công bố, nhưng chúng tôi không chọn bừa. Riêng số cột của toà tiền bái cũng có hai cách ghi, một nguồn chép 24 cột gỗ lim trên 24 viên đá tảng, một nguồn chép 16 cột; cách đếm có thể khác nhau ở chỗ tính hay không tính hàng cột hiên.

Ba Lớp Nhà Và Bộ Đồ Đá

Đền dàn theo một trục dọc, đi từ ngoài vào trong là nghi môn, sân, rồi ba lớp nhà tiền bái, thiêu hươnghậu cung, hai bên có giải vũ, nhà bia và nhà từ phủ. Đây là bố cục quen của đền miếu Bắc Bộ. Cái riêng của đền Nghè không nằm ở bố cục mà nằm ở hai chỗ: phần chạm khắc trên nghi môn và mái, và bộ đồ đá đặt trong các lớp nhà trong.

Phần chạm khắc

Nghi môn đắp nổi các linh vật phượng, rồng và lân. Trên bờ nóc là hai đầu rồng ngậm bờ nóc, hai con quy mang hình Hà đồ, chính giữa là một cuốn thư khắc bốn chữ Hán bằng sứ men lam. Các đề tài chạm trong đền trải từ long, ly, quy, phượng tới tùng, cúc, trúc, mai, tức đủ cả bộ linh vật và bộ cây cỏ của trang trí cổ truyền. Lớp chạm khắc này thuộc phong cách nghệ thuật thời Nguyễn giai đoạn cuối, và chính nó cho biết niên đại thật của công trình.

Sập đá và khánh đá

Hai hiện vật khiến người ta nhớ ngôi đền này chứ không nhớ ngôi đền khác, cả hai đều bằng đá và đều chạm rất kỹ.

Sập đá đặt ở toà thiêu hương, là một khối đá liền chứ không ghép, khá đồ sộ, chung quanh chạm nổi các hình chim, thú, hoa và lá. Một sập thờ tạc liền khối bằng đá tốn công hơn nhiều so với sập gỗ, nên sự có mặt của nó nói lên tầm mức mà người đương thời dành cho nơi thờ tự này.

Khánh đá là một tấm đá nguyên khối dày chừng 5 xentimét, cao chừng 1 mét, rộng chừng 1,6 mét, chạm đề tài rồng. Khánh là nhạc khí nghi lễ, thường làm bằng đồng; làm bằng đá lại tạc nguyên khối mỏng đến mức ấy là việc đòi tay nghề cao, vì đá mỏng rất dễ nứt khi chạm.

Nghi môn

Cổng xây gạch đắp nổi phượng, rồng, lân, phía trước có đôi voi đá và ngựa đá chầu hai bên. Đây là mặt tiền của đền nhìn ra phố.

Toà tiền bái

Năm gian, hệ cột gỗ lim đặt trên đá tảng. Các nguồn ghi số cột khác nhau, một nơi chép 24 cột trên 24 viên đá tảng, một nơi chép 16 cột.

Toà thiêu hương

Lớp nhà giữa, nơi đặt sập đá liền khối. Theo lối cũ đây là chỗ dâng hương trước khi vào hậu cung, nên đồ thờ đặt ở đây thường là đồ trọng nhất.

Hậu cung

Ba gian trong cùng, đặt tượng Lê Chân tạc bằng gỗ, ngồi trên ngai rồng, đội mũ phượng trang trí hoa cúc và chim phượng. Trong hậu cung còn thờ khối đá mang dòng chữ phong thần.

Nhà bia và giải vũ

Nhà bia giữ các tấm bia đá thời Nguyễn, cho biết các lần tu sửa. Hai dãy giải vũ chạy hai bên sân, khép khuôn viên thành một khối kín so với phố bên ngoài.

Đình An Biên

Ngôi đình của làng An Biên cũ, cũng thờ Lê Chân, nằm gần đền. Đền giữ phần thờ hằng ngày, đình giữ phần việc chung của làng; ngày hội hai nơi cùng vào một cuộc.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thuỷ cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Muốn đọc thế đất ở đây thì phải đọc thế đất của cả làng An Biên xưa chứ không chỉ của mảnh đất đền đang đứng. Nơi được chọn để lập ấp là chỗ ngã ba sông Tam Bạc gặp sông Cấm, gần cửa biển. Trong phép xem đất, hợp lưu hai dòng là chỗ thuỷ tụ, tức nước hội lại; mà nước hội thì khí hội. Vùng châu thổ ven biển không có núi để tựa, nên người xưa lấy chính thế nước làm chỗ dựa, và một ngã ba sông thông ra biển là thế nước quý nhất trong loại đất ấy.

Xét theo ngũ hành, đây là đất thuần Thuỷ: sông, cửa biển, bãi bồi. Dòng chữ phong thần khắc trên khối đá trong hậu cung có ba chữ Nam Hải uy linh, tức oai linh của biển nam. Thần được thờ mang danh hiệu gắn với biển, mà đất thờ lại là đất cửa biển; sự trùng khớp giữa hành của đất và danh hiệu của vị chủ, theo lối cũ, gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ.

Về hướng và về khuôn viên, đền nằm lọt giữa một khu phố đông. Nghi môn mở ra mặt đường, hai dãy giải vũ khép hai bên sân, ba lớp nhà thấp dồn vào trong. Đọc theo lối cũ, đây là cách xử lý của một nơi thờ tự bị đô thị vây quanh: khi không còn minh đường rộng để mở ra ngoài, người ta quay vào trong, lấy khoảng sân gạch làm minh đường thu nhỏ và lấy hàng giải vũ làm vách ngăn tiếng phố. Cái cảm giác bước qua cổng là hết tiếng phố chính là kết quả của cách xử lý ấy.

Sau cùng là bộ ba điểm thờ. Đền Nghè, đình An Biên và tượng đài Lê Chân nằm cách nhau trong bán kính vài trăm mét, và ngày hội thì cả ba cùng vào một cuộc rước. Đọc theo con mắt phong thuỷ, đây không phải ba điểm rời mà là một cụm có tâm: đền giữ phần thiêng, đình giữ phần việc chung, tượng đài giữ phần mặt tiền đô thị. Một làng cổ đã tan vào trong phố, nhưng cái lõi thờ tự của nó vẫn giữ được hình dạng cũ là ba điểm chụm quanh một chỗ.

Lễ Hội Nữ Tướng Lê Chân

Trong năm, đền có ba ngày lệ gắn với thân thế của vị được thờ, và một kỳ hội lớn mở quanh ngày sinh. Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm 2016.

Các mốc lệ chính trong năm của đền. Nguồn: Tài liệu giới thiệu di tích của địa phương và các bản tin về lễ hội Nữ tướng Lê Chân..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Mùng 8 tháng HaiNgày sinhNgày trọng nhất trong năm và là ngày chính của lễ hội. Kỳ hội thường mở từ mùng 8 tới mùng 10 tháng Hai.
Ngày 18 tháng TámNgày khánh hạNgày mừng theo thần tích, quy mô gọn hơn hội tháng Hai. Một số tài liệu ghi ngày này là rằm tháng Tám.
Ngày 25 tháng ChạpNgày hoáLễ tưởng niệm cuối năm, làm tại đền, không mở thành hội.
Trong kỳ hội tháng HaiRước ba điểmPhần lễ làm tại đền Nghè và đình An Biên, hai đoàn rước có múa lân, cờ, trống, chiêng, bát biểu và kiệu Long Đình, đi về quảng trường tượng đài.
Trong kỳ hội tháng HaiPhần hội của làngCác nguồn ghi nhận cờ tướng, đấu vật và các tiết mục hát truyền thống, cùng lệ phục dựng chợ Vẻn theo tên gọi cũ của làng.

Đáng để ý là nhịp ba ngày ấy: ngày sinh, ngày khánh hạ, ngày hoá. Đây là nhịp lệ của lối thờ nhân thần, tức thờ theo đời một người thật, khác với nhịp lệ của chùa vốn theo ngày vía các vị trong kinh điển. Ai quen đi chùa mà lần đầu tới đền sẽ thấy cách tính ngày ở đây khác hẳn.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phố Lê Chân, phường An Biên, quận Lê Chân cũ, Hải Phòng
Đường tới
Đền nằm trên phố Lê Chân, phường An Biên, thuộc quận Lê Chân cũ, thành phố Hải Phòng, ngay trong khu nội thành. Đi bộ được từ vườn hoa trung tâm nơi đặt tượng đài Lê Chân và từ đình An Biên gần đó.
Toạ độ
20.8533, 106.6822
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Sập đá, khánh đá và khối đá thờ trong hậu cung là hiện vật gốc, xin quý vị đừng chạm tay hay gõ vào. Kỳ hội mùng tám tháng Hai có đoàn rước đi từ đền sang đình An Biên rồi ra quảng trường tượng đài, xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Nghè thờ ai

Thờ nữ tướng Lê Chân, người theo thần tích đã đưa dân về vùng ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm khai hoang lập ấp, đặt tên là làng Vẻn rồi đổi thành trang An Biên, tiền thân của thành phố Hải Phòng. Bà được tôn làm thành hoàng của đất cảng, với danh hiệu khắc trên khối đá thờ trong hậu cung.

Chữ Nghè trong tên đền nghĩa là gì

Nghè là một loại hình kiến trúc thờ tự của người Việt, một dạng của đền miếu, quy mô nhỏ và thường gắn với một di tích trung tâm khác, dùng cho việc thờ cúng thường ngày. Chữ này không liên quan gì tới ông nghè tức người đỗ tiến sĩ, hai chữ chỉ trùng âm. Tên chữ của đền là An Biên cổ miếu.

Đền Nghè có gì đáng xem nhất

Bộ đồ đá. Toà thiêu hương có một sập đá tạc liền khối, chung quanh chạm nổi chim, thú, hoa, lá. Ngoài ra còn một khánh đá nguyên khối dày chừng 5 xentimét, cao chừng 1 mét, rộng chừng 1,6 mét, chạm đề tài rồng. Phần chạm trên nghi môn và bờ nóc cũng thuộc lớp nghệ thuật thời Nguyễn giai đoạn cuối.

Đền Nghè xây từ năm nào

Người được thờ thuộc thế kỷ thứ nhất nhưng ngôi đền thì không. Ban đầu đây là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh, không có văn bản đương thời nào cho biết năm lập. Lớp kiến trúc hiện còn thuộc đầu thế kỷ 20: nguồn ghi năm 1919 là năm dựng, nguồn ghi đợt 1924 tới 1927 là đợt trùng tu quy mô lớn, và chúng tôi nêu cả hai.

Lễ hội đền Nghè mở vào ngày nào

Kỳ hội lớn mở quanh mùng tám tháng Hai âm lịch, là ngày sinh của Lê Chân, thường kéo từ mùng tám tới mùng mười. Phần lễ làm tại đền Nghè và đình An Biên, đoàn rước đi ra quảng trường tượng đài. Trong năm còn hai ngày lệ nữa là ngày mười tám tháng Tám và ngày hai mươi lăm tháng Chạp.

Đọc Tiếp