VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Phủ Cam

· Nhà thờ Chính tòa Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ

Nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Huế, công trình mà một kiến trúc sư người Việt dựng thành hình hai bàn tay đang chắp lại giữa lòng cố đô.

Nhà nguyện đầu tiên
1682
thời chúa Nguyễn Phúc Tần
Bản thiết kế hiện nay
1963
kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
Cung hiến
29 tháng 6 năm 2000
sau khi hai tháp được hoàn thiện

Từ chân gò, quý vị leo mấy bậc rồi bước ra một khoảng sân, và cả mặt tiền dựng đứng trước mặt: không vòm nhọn, không cửa sổ hoa hồng, không tượng thánh xếp thành hàng. Chỉ có hai khối bê tông cong vút lên trời, khép vào nhau ở trên cao, và giữa chúng là một mảng kính lớn. Hai khối ấy dựng theo hình hai bàn tay đang chắp lại, và đó là toàn bộ trang trí của mặt tiền này.

Bước vào trong, cái khác thứ hai hiện ra: lòng nhà thờ trống, không một hàng cột nào chắn giữa. Mái vòm bê tông vươn từ hai bên tường lên gặp nhau, để cho cả đám đông hai nghìn năm trăm người đều nhìn thẳng được tới bàn thờ. Đây là Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam, công trình do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, và là nhà thờ mẹ của Tổng giáo phận Huế.

Nhà thờ Phủ Cam
Nhà thờ Phủ Cam. Ảnh: Chainwit., giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi, Tước Hiệu Và Vai Trò Chính Tòa

Cái tên Phủ Cam là tên đất chứ không phải tên nhà thờ. Đây là địa danh một vùng ở bờ nam sông Hương, và nhà thờ dựng trên gò Phước Quả trong vùng ấy thì được gọi luôn theo tên vùng. Tư liệu viết cả hai lối, Phủ CamPhú Cam, nên gặp cả hai cách viết là chuyện thường, không phải một bên đúng một bên sai.

Tên chính thức của công trình thì khác: Nhà thờ Chính tòa Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ. Hai phần trong tên ấy nói hai việc riêng biệt. Chính tòa cho biết vị trí của ngôi nhà thờ này trong tổ chức của Giáo hội Công giáo, còn Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ là tước hiệu mà nhà thờ được dâng kính, tức bổn mạng của nó.

Theo giáo nghĩa

Chữ chính tòa không phải một tính từ chỉ độ lớn. Trong tổ chức của Giáo hội Công giáo, thế giới được chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một vị giám mục coi sóc. Nhà thờ nào có đặt cathedra, tức chiếc ghế hay ngai tòa của vị giám mục ấy, thì gọi là nhà thờ chính tòa.

Ngai tòa là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, nên nhà thờ chính tòa được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận: những nghi lễ trọng nhất trong năm được cử hành tại đây và vị giám mục chủ sự. Phủ Cam là chính tòa của Tổng giáo phận Huế, nên vai trò ấy trải trên một vùng rộng chứ không riêng giáo xứ tại chỗ.

Theo sử liệu

Mấy mốc tổ chức cần nêu để hiểu vì sao nhà thờ này giữ vai trò hiện nay. Ngày hai mươi tám tháng Tám năm 1850, Đức Piô IX ban sắc chỉ lập giáo phận mới mang tên Bắc Đàng Trong, tức giáo phận Huế về sau. Ngày tám tháng Mười Hai năm 1960, giáo phận Huế được nâng lên hàng tổng giáo phận; trước đó, từ đầu thế kỷ 20, Phủ Cam đã là nơi đặt tòa giám mục. Chuỗi mốc ấy giải thích một điều về kiến trúc: công trình lớn hơn hẳn ngôi nhà thờ cũ được khởi công ngay sau khi giáo phận nâng cấp, tức quy mô công trình đi theo quy mô của đơn vị mà nó phục vụ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất về Phủ Cam là tuổi của công trình. Nhiều người thấy một nhà thờ lớn giữa Huế thì mặc nhiên xếp nó vào lớp công trình cuối thế kỷ 19, cùng lớp với những nhà thờ Gothic xây bằng gạch đá. Thực ra ngôi đang đứng là một công trình hiện đại, thiết kế năm 1963 bởi một kiến trúc sư người Việt, dùng bê tông cốt thép làm kết cấu chính, cung hiến năm 2000.

Ngôi nhà thờ theo lối Gothic ở Phủ Cam thì có thật, nhưng là ngôi do Đức cha Allys dựng trong khoảng 1898 tới 1902, và đã được tháo dỡ để nhường chỗ cho công trình mới. Cái mà người ta tưởng đang thấy là lớp đã mất.

Ba Trăm Năm Và Sáu Lần Dựng Lại

Đất Phủ Cam có nhà thờ từ cuối thế kỷ 17, và trong hơn ba trăm năm sau đó nơi này dựng lại tới sáu lần. Phần dưới đây chỉ ghi mạch xây dựng và trùng tu.

  • 1682Nhà nguyện đầu tiên
    Linh mục Pierre Langlois dựng một nhà nguyện nhỏ tại xóm Đá trên đất Phủ Cam, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, dâng kính Thánh Phêrô. Vật liệu là tranh tre và đá tại chỗ.
  • Khoảng 1688 tới 1691Ngôi nhà thờ đá
    Nhà nguyện tranh được thay bằng một công trình bằng đá, quy mô lớn hơn nhiều, được tư liệu đương thời ghi lại bằng đơn vị đo cũ.
  • 1698Công trình bị triệt hạ
    Trong một giai đoạn cấm đạo, cả hai ngôi nhà thờ trước đó bị triệt hạ. Nhiều thập niên sau đó giáo dân chỉ có nơi thờ tự tạm.
  • Khoảng 1715 và 1805 tới 1806Hai lần dựng lại bằng vật liệu nhẹ
    Một nhà nguyện lợp tranh được dựng lại khoảng năm 1715. Đầu thế kỷ 19, một ngôi nhà thờ bằng gỗ làm theo lối kiến trúc Việt được dựng trong hai năm 1805 và 1806.
  • 1898 tới 1902Ngôi nhà thờ Gothic
    Đức cha Eugène Marie Allys cho dựng một nhà thờ xây bằng gạch đá theo lối Gothic, có hai tháp chuông, quay mặt về phía bắc. Đây là ngôi tồn tại lâu nhất trước công trình hiện nay.
  • 1963Khởi công bản thiết kế hiện nay
    Ngôi nhà thờ Gothic được tháo dỡ, và công trình mới khởi công theo thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, dùng bê tông cốt thép làm kết cấu chính.
  • 1967Xong phần thân
    Phần thân nhà thờ, gồm hệ vòm và lòng nhà thờ, hoàn thành trong khoảng này. Sau đó việc thi công gián đoạn nhiều đợt và kéo dài qua nhiều vị quản xứ.
  • 1999 tới 2000Hai tháp và lễ cung hiến
    Hai tháp chuông được hoàn thiện, khép lại gần bốn mươi năm thi công. Lễ cung hiến cử hành ngày hai mươi chín tháng Sáu năm 2000, nhân một trăm năm mươi năm thành lập giáo phận.
Theo sử liệu

Một chi tiết đáng để ý: ngày hai mươi chín tháng Sáu là lễ hai Thánh Phêrô và Phaolô, mà ngôi nhà nguyện đầu tiên năm 1682 trên đất này lại được dâng kính Thánh Phêrô. Chọn ngày ấy để cung hiến là nối lại một vòng ba trăm mười tám năm.

Về mốc hoàn thành thì các nguồn ghi khác nhau. Có tài liệu ghi công trình hoàn thành năm 1967, có tài liệu ghi năm 2000, và có bài ghi tận năm 2020. Cách đọc hợp lý nhất là coi đây là ba việc khác nhau bị gọi chung bằng một chữ hoàn thành: phần thân xong vào khoảng 1967, hai tháp và lễ cung hiến thuộc năm 1999 tới 2000, còn các hạng mục hoàn thiện trong khuôn viên thì làm tiếp về sau.

Hai Bàn Tay Chắp Và Lòng Nhà Thờ Không Cột

Đây là phần đáng đọc kỹ nhất ở Phủ Cam, vì công trình này không mượn nguyên một lối kiến trúc có sẵn mà tự đặt ra ngôn ngữ riêng. Ba quyết định làm nên nó: một mặt bằng hình thánh giá, một hệ kết cấu vươn lên như hai bàn tay chắp, và một lòng nhà thờ không cột.

Mặt bằng hình thánh giá

Nhìn từ trên cao, nhà thờ là một cây thánh giá đặt nằm: phần đầu hướng về phía nam, phần chân về phía bắc, hai cánh ngang là hai khối nhô ra hai bên. Mặt bằng chữ thập là lối kinh điển của nhà thờ châu Âu, nhưng ở đây được vẽ lại bằng đường cong và bằng bê tông, không bằng các gian vòm nối nhau. Cung thánh đặt ở đầu thánh giá, và trục dọc của lòng nhà thờ đưa mắt người bước vào chạy thẳng tới bàn thờ.

Kết cấu và ánh sáng

Điểm nhận ra Phủ Cam từ xa là hệ cột cong. Các cấu kiện đỡ mái không đứng thẳng mà uốn từ chân lên, thu dần vào nhau ở trên cao rồi khép lại, dựng thành hình hai bàn tay đang chắp. Từ hai hàng cấu kiện ấy, hệ vòm bê tông vươn lên gặp nhau ở giữa và đảm luôn việc đỡ mái, nên trong lòng nhà thờ không có cột nào chắn giữa. Đó là điều một công trình Gothic bằng đá không làm được, và là chỗ bê tông cốt thép cho thứ mà vật liệu cũ không cho.

Ánh sáng đi theo cùng một lôgic: thay cho hệ cửa sổ cao hẹp là các mảng kính lớn đặt trên những ô vòm, kính sắc xanh có hình thánh giá, lọc ánh sáng thành một thứ sáng dịu. Trang trí bên trong rất tiết chế: bàn thờ bằng đá cẩm thạch, cây thánh giá trên cung thánh làm từ một cây thông lấy ở đồi Thiên An, mặt đứng ngoài dùng đá ốp.

Các nguồn công bố chênh nhau ở chiều cao tháp và ở cách tính diện tích, nhiều khả năng vì mỗi nguồn đo một phạm vi khác nhau, có nguồn đo tới đỉnh chóp, có nguồn đo tới sàn tháp. Bảng ghi song song để quý vị tự đối chiếu. Nguồn: Tư liệu về nhà thờ chính tòa và các bài chuyên khảo kiến trúc..
Số đoCác nguồn ghiGhi chú
Sức chứa lòng nhà thờKhoảng 2.500 ngườiCác nguồn thống nhất ở con số này
Chiều dài và chiều rộngKhoảng 80 m nhân 24 mSố đo của bản thân công trình
Diện tích khuôn viênGần 11.000 mét vuôngMột bài chuyên khảo kiến trúc ghi con số này, tức đo cả khu đất chứ không đo riêng nhà thờ
Chiều cao hai tháp43,5 m hoặc 50 mNguồn ghi 43,5 mét, nguồn khác ghi 50 mét; thư viện không chọn bừa một con số
Kết cấu chínhBê tông cốt thépKèm đá, gỗ và ngói ở các hạng mục phụ

Tác giả của bản thiết kế là Ngô Viết Thụ, kiến trúc sư người Việt từng đoạt giải Khôi nguyên La Mã năm 1955, một trong những tên tuổi lớn nhất của kiến trúc Việt Nam thế kỷ 20. Ở Phủ Cam, ông giải một bài toán khó: làm nhà thờ chính tòa cho hàng nghìn người mà không lặp lại ngôn ngữ Gothic, đồng thời giữ đủ các yêu cầu phụng vụ về trục, về cung thánh và về hình thánh giá. Câu trả lời là chuyển ý niệm hướng lên trời từ vòm nhọn sang đường cong của hai bàn tay chắp.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần một lời rào trước rõ ràng. Công giáo không dạy phong thủy, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành, chứ không phải hướng chọn theo la bàn của thầy địa lý. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy; nó không phải điều chép trong tư liệu của nhà thờ, cũng không phải điều người thiết kế tính tới.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là chỗ đặt. Nhà thờ dựng trên gò Phước Quả, một gò đất nổi ở bờ nam sông Hương, giữa vùng đất mà người xưa đã đọc rất kỹ khi chọn chỗ cho kinh đô: phía bắc là kinh thành bên kia sông, phía nam là núi Ngự Bình. Trong phép xem đất, một công trình đặt trên gò nổi giữa vùng đất bằng thì được coi là đắc cao: nó cao hơn chung quanh nên thoát nước, và nó nhìn thấy được từ xa nên thành mốc của cả khu.

Về nước, vùng này thuộc dạng đất mà sông vây nhiều mặt: sông Hương chảy ở phía bắc, nhánh An Cựu đưa nước vào phía trong. Sách địa lý cổ coi nước là thứ tụ khí, nên một gò đất kề nước mà không bị ngập là thế được cả hai đường.

Về hướng, mặt tiền nhà thờ quay về phía bắc, tức về phía sông và phía kinh thành, còn cung thánh đặt ở đầu nam. Xét theo lối cổ truyền của người Việt, hướng bắc không phải hướng chuộng cho nhà ở, nhưng ở đây cần nhớ hai điều: một, trục này là trục phụng vụ, đặt theo hình thánh giá chứ không theo la bàn; hai, ngôi nhà thờ trước đó dựng năm 1902 cũng đã quay về phía bắc, nên trục hiện nay là trục kế thừa. Cái thế lưng tựa về phía núi ở nam, mặt mở ra phía sông ở bắc thì lại trùng khít với lối tọa sơn hướng thủy mà sách phong thủy chuộng nhất; sự trùng khít ấy là trùng khít của hình thể, không phải của chủ ý.

Cuối cùng là hình thể công trình. Hai tháp cao cân xứng hai bên một khối giữa thấp hơn tạo thành thế mà phong thủy gọi là song phong hộ vệ, tức hai ngọn kèm giữ ở hai bên, được xem là bố cục ổn định vì không bên nào lấn bên nào. Cần nhắc lại rằng mặt tiền hai tháp là quy ước lâu đời của kiến trúc nhà thờ, có trước công trình này nhiều thế kỷ. Chúng tôi ghi các nhận xét trên đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.

Lễ Theo Lịch Phụng Vụ

Là nhà thờ chính tòa, nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội, đồng thời có mấy ngày riêng gắn với tước hiệu của nhà thờ và với vai trò đứng đầu tổng giáo phận. Bài chỉ ghi những ngày cố định hoặc cách tính cố định trong năm phụng vụ, không ghi giờ lễ, vì giờ cử hành thay đổi theo từng năm.

Các dịp lễ chính theo lịch phụng vụ. Bài không ghi giờ lễ vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm và từng dịp. Nguồn: Tư liệu của Tổng giáo phận Huế và giáo xứ chính tòa..
Thời điểmLễNội dung
Thứ Bảy sau lễ Thánh TâmLễ Trái Tim Vô Nhiễm Đức MẹLễ bổn mạng của nhà thờ, vì đây là tước hiệu mà nhà thờ được dâng kính. Ngày lễ di động, tính theo lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Thứ Sáu sau tuần bát nhật Mình ThánhLễ Thánh Tâm Chúa GiêsuLễ trọng đi liền trước lễ bổn mạng, cũng là lễ di động trong năm phụng vụ.
29 tháng 6Lễ hai Thánh Phêrô và PhaolôNgày cử hành lễ cung hiến nhà thờ năm 2000, đồng thời nhắc lại vị thánh được dâng kính trong ngôi nhà nguyện đầu tiên năm 1682.
Tuần Thánh và lễ Phục SinhĐỉnh cao của năm phụng vụTrong Tuần Thánh có thánh lễ Dầu, nghi lễ mang tính giáo phận do vị tổng giám mục chủ sự tại nhà thờ chính tòa.
Mùa Vọng và lễ Giáng SinhChuẩn bị và mừng Chúa giáng sinhDịp đông người nhất trong năm ở khu vực quanh nhà thờ, kể cả người không theo đạo.

Vì là nơi đặt ngai tòa, những nghi lễ trọng nhất của cả tổng giáo phận đều cử hành tại đây chứ không ở nhà thờ khác: lễ truyền chức, lễ nhậm chức của vị tổng giám mục, các dịp kỷ niệm lớn của giáo phận. Đó là điều phân biệt một nhà thờ chính tòa với một nhà thờ giáo xứ.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 1 đường Đoàn Hữu Trưng, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế
Đường tới
Nhà thờ ở số 1 đường Đoàn Hữu Trưng, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế, trên gò Phước Quả ở bờ nam sông Hương. Từ khu vực cầu Trường Tiền đi về phía nam chừng hai cây số là tới; các phố quanh nhà thờ nhỏ, phần lớn khách tới đây đi bộ chặng cuối.
Toạ độ
16.4622, 107.5872
Khi tới nơi

Đây là nơi cử hành phụng vụ, không phải điểm tham quan thuần túy, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ. Khi đang có thánh lễ, khách xem kiến trúc xin đợi cho tới khi lễ xong, không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh. Việc vào cung thánh dành cho người có phận sự.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Nhà thờ Phủ Cam tên chính thức là gì

Tên chính thức là Nhà thờ Chính tòa Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ, nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Huế. Phủ Cam là tên vùng đất nơi nhà thờ dựng lên, và là cách gọi quen dùng hơn cả tên chính thức. Tư liệu viết cả hai lối Phủ Cam và Phú Cam.

Nhà thờ chính tòa nghĩa là gì

Là nhà thờ có đặt ngai tòa của vị giám mục coi sóc giáo phận. Ngai tòa là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, nên nhà thờ chính tòa được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận, và những nghi lễ trọng nhất trong năm của giáo phận được cử hành tại đây do vị giám mục chủ sự.

Ai thiết kế nhà thờ Phủ Cam

Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người đoạt giải Khôi nguyên La Mã năm 1955, một trong những tên tuổi lớn nhất của kiến trúc Việt Nam thế kỷ 20. Bản thiết kế khởi công năm 1963, dùng bê tông cốt thép, mặt bằng hình thánh giá và hệ cột cong dựng thành hình hai bàn tay chắp.

Nhà thờ Phủ Cam xây năm nào và hoàn thành năm nào

Đất Phủ Cam có nhà thờ từ năm 1682, nhưng công trình đang đứng khởi công năm 1963. Phần thân xong vào khoảng năm 1967, việc thi công sau đó gián đoạn nhiều đợt, hai tháp chuông được hoàn thiện trong khoảng 1999 tới 2000, và lễ cung hiến cử hành ngày hai mươi chín tháng Sáu năm 2000.

Vì sao trong nhà thờ không có cột

Vì mái được đỡ bằng hệ vòm bê tông vươn từ hai bên tường lên gặp nhau ở giữa, thay cho các hàng cột đỡ vòm đá như nhà thờ Gothic. Nhờ vậy lòng nhà thờ trống hoàn toàn và cả khoảng hai nghìn năm trăm chỗ đều nhìn thẳng tới bàn thờ, điều mà vật liệu cũ không cho.

Đọc Tiếp