Qua cổng tứ trụ, quý vị đi trên một con đường thần đạo thẳng tắp, hai bên là bãi và vườn, phía trước là toà nghi môn lớn đứng chắn ngang chân núi. Trên mặt ngoài nghi môn ấy có chín chữ Hán lớn, hàng trên là Hưng thiên vô cực, hàng dưới là Trần Hưng Đạo Vương từ. Đi hết nghi môn thì ba toà đền hiện ra trong một thung lũng mở, mặt trông ra chỗ sáu dòng sông gặp nhau mà người vùng này quen gọi là Lục Đầu.
Chỗ quý vị đứng là đất Vạn Kiếp, thái ấp cũ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đền không dựng ở một nơi được chọn cho đẹp mắt, mà dựng đúng trên nền chỗ ở của chính người được thờ. Cả nước có hàng trăm nơi thờ Đức Thánh Trần, phần lớn là đền vọng; Kiếp Bạc là cửa đền gốc, và cũng là nơi dòng lễ Trần Triều còn giữ được đủ nếp hơn cả.

壹Đức Thánh Trần Và Công Đồng Trần Triều
Tên gọi nơi này ghép từ tên tục của hai làng cũ trên đất Vạn Kiếp: làng Vạn Yên tục gọi làng Kiếp, làng Dược Sơn tục gọi làng Bạc. Đây là một địa danh ghép chứ không phải một mỹ tự. Chữ Hán 劫泊祠 thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ địa danh ấy, không phải chữ chép lại từ hoành phi; chữ thật sự đang treo trên nghi môn là Trần Hưng Đạo Vương từ.
Vị được thờ là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, mất ngày hai mươi tháng Tám âm lịch năm 1300 tại chính phủ đệ này. Về năm sinh của ông thì sách vở ghi vênh nhau, có nơi ghi khoảng năm 1228, có nơi ghi khoảng năm 1230; chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số.
Điều làm nơi này khác một ngôi đền thờ danh nhân thông thường là ở đây có một hệ thần hẳn hoi, dân gian gọi là Công đồng Trần Triều. Hệ ấy xếp theo vai vế trong một nhà chứ không xếp theo phẩm trật quan lại: trên hết là vương phụ và vương mẫu, tức cha mẹ của Đức Thánh; giữa là Đức Thánh Trần cùng vương phu nhân Thiên Thành công chúa; dưới là tứ vị vương tử tức bốn người con trai, nhị vị vương cô tức hai người con gái, rồi tới hàng tướng thân cận như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, sau cùng là hàng Cô hàng Cậu như Cô bé Cửa Suốt, Cậu bé Cửa Đông.
Người theo tín ngưỡng này tin rằng Đức Thánh Trần có quyền trừ tà và chữa bệnh. Đó là lớp nghĩa mạnh nhất của cả hệ, và nó giải thích vì sao người ta tới cửa đền không chỉ để tưởng nhớ một người xưa.
Xét về mặt tư liệu, việc một người có thật trở thành một vị thánh có hệ thần riêng là quá trình kéo dài nhiều thế kỷ. Sau khi ông mất, đền thờ được lập ngay trên nền phủ đệ; các triều đại nối nhau ban sắc phong; rồi từ cửa đền gốc này, các đền vọng mọc dần khắp nơi, xa tới tận miền Trung. Riêng ở Huế, ngôi đền vọng sớm nhất được chép là lập năm 1857, tới nay vùng ấy vẫn còn bốn nơi thờ giữ lệ lễ ngày hai mươi tháng Tám.
Lớp thần tích cũng thành hình trong khoảng thời gian ấy, trong đó có chuyện Đức Thánh trừ một loài yêu quái quấy phá đàn bà con gái mà truyền tụng gọi là Phạm Nhan. Chuyện ấy thuộc lớp truyền tụng chứ không phải sử biên niên; giá trị của nó nằm ở chỗ giải thích vì sao cửa đền này từ xưa đã là nơi người ta tới xin trừ tà chữa bệnh.
Chỗ hay hiểu lầm nhất ở cửa đền này là lẫn Trần Triều với Tứ Phủ của Đạo Mẫu. Hai dòng ấy khác nhau ngay từ gốc.
Tứ Phủ chia thế giới thành các phủ do các vị Mẫu cai quản, hệ thần xếp theo thứ bậc kiểu quan chức, đứng đầu là Thánh Mẫu, dưới là hàng Chầu, hàng Quan Lớn, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu. Trần Triều thờ một gia đình có thật, hệ thần xếp theo vai vế trong nhà, đứng đầu là Đức Thánh Trần, và những vị dưới ông là con, là rể, là tướng thân cận của chính ông.
Vì gốc khác nên giá hầu và khăn áo khác hẳn. Một vấn hầu Tứ Phủ đi qua các giá Mẫu, giá Chầu, giá Quan, giá Ông Hoàng, giá Cô giá Cậu, khăn áo đủ bốn sắc đỏ vàng trắng xanh ứng với bốn phủ. Lễ hầu Thánh của dòng Trần Triều chỉ có các giá trong nhà Trần, lấy sắc đỏ làm chủ, bản văn riêng, lối múa riêng, nhạc cũng đi khác.
Thực tế thì nhiều nơi hành lễ chung: trong phủ Mẫu thường có ban Trần Triều, trong đền Trần Triều thường có ban Tứ Phủ. Việc thờ chung ấy đã có từ lâu, nằm trong nếp thờ nhiều lớp quen thuộc của người Việt. Nhưng chung một điện thờ không có nghĩa là chung một hệ thần.
貳Từ Phủ Đệ Vạn Kiếp Đến Cửa Đền Gốc
Lịch sử thờ tự ở đây bắt đầu sớm hơn cả ngày mất của người được thờ. Theo hồ sơ di tích, cách đền chính chừng tám trăm mét về phía đông bắc còn dấu một ngôi sinh từ, tức đền dựng để thờ người khi người ấy vẫn còn sống, một lệ hiếm và chỉ dành cho bậc rất trọng. Ngôi đền hôm nay là lớp sau, dựng trên nền phủ đệ sau khi ông mất.
- Thời TrầnSinh từ trên đất Vạn KiếpMột ngôi đền lập để thờ Hưng Đạo Đại Vương ngay khi ông còn sống, nay còn dấu tích cách đền chính khoảng tám trăm mét về phía đông bắc.
- 1300Lập đền trên nền phủ đệÔng mất ngày hai mươi tháng Tám âm lịch tại phủ đệ Vạn Kiếp; đền được lập ngay trên nền ấy. Ngày này về sau thành ngày giỗ, là trục của cả kỳ hội mùa thu.
- Thời LêSắc phong và lan toảCác triều đại nối nhau ban sắc, tín ngưỡng Đức Thánh Trần lan ra ngoài vùng Vạn Kiếp, các đền vọng bắt đầu được lập ở nhiều nơi.
- 1857Đền vọng ở HuếNgôi đền vọng sớm nhất được chép ở Huế lập năm này; tới nay vùng ấy còn bốn nơi thờ giữ lệ lễ ngày hai mươi tháng Tám.
- 1904Trùng tu lớnBộ khung kiến trúc thấy hôm nay chủ yếu thuộc lớp thời Nguyễn, định hình qua đợt trùng tu này và các đợt tu bổ nối theo.
- 2012Di tích quốc gia đặc biệtDi tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Côn Sơn Kiếp Bạc được xếp hạng theo Quyết định số 548 ký ngày 10 tháng 5 năm 2012. Cùng năm, sân đền được tôn tạo lại.
- 2025Di sản thế giớiNgày 12 tháng 7 năm 2025, tại kỳ họp thứ bốn mươi bảy của Ủy ban Di sản Thế giới ở Paris, quần thể Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh.
Một chỗ nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Nhiều bài viết phổ thông ghi rằng vua Trần Thánh Tông là người cho lập đền sau khi Hưng Đạo Đại Vương mất. Cách ghi ấy không khớp về niên đại, vì Trần Thánh Tông mất năm 1290, tức mười năm trước ngày mất của người được thờ. Hồ sơ di tích thận trọng hơn, chỉ ghi rằng đền được lập sau năm 1300 trên nền phủ đệ cũ, không nêu đích danh vị vua nào. Chúng tôi ghi cả hai để quý vị tự đối chiếu.
參Ba Toà Trong Một Thung Lũng
Đền dàn theo một trục dọc rất dài, dài hơn hầu hết đền miếu Bắc Bộ: cổng tứ trụ ngoài cùng, rồi đường thần đạo, nghi môn, sân đền rộng, sau đó mới tới khu thờ. Khu thờ dựng theo lối tiền nhất hậu đinh, gồm ba lớp nối nhau là tiền tế, trung từ và hậu cung, giữ đúng nếp cung đình.
Toà cổng lớn ba cửa, mặt ngoài đắp chín chữ Hán: hàng trên bốn chữ Hưng thiên vô cực, hàng dưới năm chữ Trần Hưng Đạo Vương từ. Chín chữ ấy nói thẳng đền này thờ ai.
Giếng cổ nằm bên trái cổng lớn, theo lệ truyền trong vùng là giếng không bao giờ cạn nước. Nước giếng được dùng trong việc thờ tự của đền.
Lớp ngoài cùng, nơi đặt hương án và tiến hành phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày. Tại đây có ban thờ tướng Phạm Ngũ Lão, vừa là tướng thân cận vừa là con rể của Đức Thánh.
Lớp giữa, đặt tượng Hưng Đạo Đại Vương ở vị trí trang trọng nhất, cùng bốn bài vị thờ bốn người con trai của ông, tức tứ vị vương tử trong hệ Công đồng Trần Triều.
Lớp trong cùng, thờ Quốc mẫu Thiên Thành công chúa cùng hai người con gái. Đây là chỗ cho thấy rõ nhất tính chất thờ cả một gia đình chứ không thờ riêng một người.
Đền còn giữ bốn quả phù ấn bằng đồng, mỗi quả một kích thước và một chức năng. Quả lớn nhất khắc bảy chữ Trần triều Hưng Đạo vương chi ấn, cạnh khoảng mười phân. Ba quả nhỏ hơn khắc lần lượt Quốc pháp Đại Vương, Vạn dược linh phù và Phi thiên thần kiếm linh phù. Đọc bốn tên ấy là đọc được bốn điều người xưa xin ở cửa đền này: uy quyền, phép nước, thuốc men và trừ tà. Khi ban ấn, các quả được in lên lụa vàng, trong đó quả cuối được in hai lần để tổng số dấu thành năm chứ không dừng ở bốn, vì theo lối đếm sinh lão bệnh tử thì số bốn rơi vào chữ tử.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Thế đất ở đây thuộc loại dễ đọc nhất trong các di tích Bắc Bộ, vì cả bốn yếu tố của phép xem đất cổ truyền đều hiện ra rõ trên mặt bằng. Đền nằm trong một thung lũng mở, lưng dựa vào núi, hai bên có dãy đất ôm lại, mặt trông ra nơi hợp lưu của nhiều dòng sông mà dân gian gọi là Lục Đầu giang.
Xét theo lối cũ thì đây là thế tựa sơn hướng thủy đúng sách: có hậu chẩm là núi sau lưng làm chỗ dựa, có tả long hữu hổ là hai dải đất hai bên khép vào, có minh đường là khoảng nước rộng trước mặt. Ở châu thổ Bắc Bộ, nơi phần lớn đền miếu phải đào thêm ao hồ để bù cho địa hình phẳng, một chỗ hội đủ cả núi lẫn sông tự nhiên là hiếm.
Riêng chỗ sáu dòng sông gặp nhau thì đáng nói thêm. Trong phép xem đất, nước là thứ dẫn khí và tụ khí; một điểm hợp lưu là chỗ nhiều mạch nước đổ về một mối, và theo lối đọc cổ truyền thì đó là chỗ tụ khí mạnh nhất trên cả một vùng rộng. Đền quay mặt thẳng ra chỗ ấy, tức lấy trọn cái minh đường lớn nhất mà địa hình vùng này có thể cho. Đây cũng là lý do khiến trục đền phải kéo dài: trục dài giữ cho khí đi có nhịp, không xổ thẳng từ sông vào hậu cung.
Sau cùng là lớp nghĩa của nền cũ. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất từng là chỗ ở của một người thì mang theo dấu của người ấy, và dựng đền đúng trên nền cũ là cách giữ lấy dấu chứ không để mất. Kiếp Bạc giữ nguyên tắc ấy rất chặt: sinh từ dựng khi người còn sống, đền thờ dựng khi người đã mất, cả hai đều đứng trên cùng một mảnh đất.
伍Hội Mùa Thu Và Lệ Hầu Thánh
Kỳ hội lớn nhất trong năm là hội mùa thu, mở trong tháng Tám âm lịch và lấy ngày hai mươi tháng Tám, tức ngày giỗ Đức Thánh, làm ngày trọng nhất. Hồ sơ di tích ghi kỳ hội chính từ ngày mười sáu tới ngày hai mươi, còn trên thực tế các nghi thức mở màn tiến hành sớm hơn, từ khoảng ngày mùng mười. Kỳ hội này nằm chung một mạch với hội mùa thu chùa Côn Sơn, nên người vùng này quen gọi gộp là hội Côn Sơn Kiếp Bạc.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước ngày mở hội | Lễ cáo yết | Nghi thức trình báo mở hội, làm trước khi các phần lễ chính bắt đầu. |
| Khoảng ngày 10 tháng Tám trở đi | Lễ rước bộ | Đoàn rước của các làng trong vùng đưa cỗ lễ và kiệu về đền. |
| Ngày 16 tháng Tám | Lễ tưởng niệm Nguyễn Trãi | Phần lễ thuộc khu Côn Sơn trong cùng kỳ hội, vì hai nơi chung một quần thể di tích. |
| Trong hội | Liên hoan diễn xướng hầu Thánh | Các bản hội về đền trình các giá hầu của dòng Trần Triều, khác hẳn một vấn hầu Tứ Phủ. |
| Ngày 20 tháng Tám | Lễ giỗ Đức Thánh Trần | Ngày trọng nhất của cả kỳ hội, có đại tế và dâng hương tại đền. |
| Ngày 20 tháng Tám | Lễ khai ấn và ban ấn | Bốn quả phù ấn được đóng lên lụa vàng và ban cho người về dự, theo lệ in thành năm dấu. |
| Sau lễ giỗ | Lễ cầu an và hội hoa đăng | Lễ cầu an cùng việc thả đèn trên sông trước cửa đền, khép lại phần lễ chính của kỳ hội. |
Ngoài kỳ hội mùa thu, đền còn đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một; nhưng các phần đặc trưng nhất đều nằm trong tháng Tám. Nhìn ở góc nhân học, lệ hầu Thánh của dòng Trần Triều là một chỉnh thể gồm bản văn, nhạc, khăn áo, vũ đạo và trình tự giá, tiến hành theo quy ước truyền qua nhiều đời trong các bản hội. Điều làm nó tách khỏi một vấn hầu Tứ Phủ không phải là quy mô mà là danh mục giá hầu: các vị được thỉnh đều thuộc một nhà. Ở Kiếp Bạc, việc này được đưa vào chương trình hội dưới hình thức liên hoan diễn xướng từ giữa những năm hai nghìn, tức phần trình diễn trong hội thì mới, còn bản thân lệ hầu thì cũ hơn nhiều.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thung lũng Vạn Kiếp, phường Hưng Đạo, thành phố Chí Linh cũ, Hải Phòng
- Đường tới
- Đền nằm trong thung lũng Vạn Kiếp, phường Hưng Đạo, thành phố Chí Linh cũ, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Chùa Côn Sơn ở cách đó chừng năm cây số, hai nơi nằm chung một quần thể di tích nên thường được đi liền một chuyến.
- Toạ độ
- 21.1212, 106.3548
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở trung từ và hậu cung, không chạm vào tượng và bài vị, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Nếu gặp một buổi hầu Thánh, xin quý vị đứng ngoài phạm vi chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa người hầu với ban thờ. Việc chụp ảnh trong hậu cung tuỳ lệ từng lúc, hỏi người trông coi đền trước là chắc nhất.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Kiếp Bạc thờ ai
Thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, dân gian tôn là Đức Thánh Trần, cùng cả gia đình ông. Trung từ đặt tượng Đức Thánh và bốn bài vị của bốn người con trai; hậu cung thờ Quốc mẫu Thiên Thành công chúa cùng hai người con gái; tiền tế có ban thờ tướng Phạm Ngũ Lão, vừa là tướng thân cận vừa là con rể.
Trần Triều và Tứ Phủ có phải một không
Không. Tứ Phủ thuộc Đạo Mẫu, hệ thần xếp theo phủ và theo thứ bậc kiểu quan chức, đứng đầu là Thánh Mẫu, khăn áo đủ bốn sắc đỏ vàng trắng xanh. Trần Triều thờ một gia đình có thật, xếp theo vai vế trong nhà, đứng đầu là Đức Thánh Trần, lễ hầu lấy sắc đỏ làm chủ. Nhiều nơi hành lễ chung nhưng giá hầu và khăn áo khác hẳn nhau.
Ấn đền Kiếp Bạc gồm mấy quả và khắc chữ gì
Đền giữ bốn quả phù ấn bằng đồng. Quả lớn nhất khắc bảy chữ Trần triều Hưng Đạo vương chi ấn, cạnh khoảng mười phân. Ba quả nhỏ hơn khắc Quốc pháp Đại Vương, Vạn dược linh phù và Phi thiên thần kiếm linh phù. Khi ban ấn, quả Phi thiên thần kiếm linh phù được in hai lần để tổng số dấu thành năm chứ không dừng ở bốn.
Vì sao gọi là Kiếp Bạc
Tên ghép từ tên tục của hai làng cũ trên đất Vạn Kiếp: làng Vạn Yên tục gọi làng Kiếp, làng Dược Sơn tục gọi làng Bạc. Đây là một địa danh ghép chứ không phải một mỹ tự có nghĩa riêng. Chữ đang treo trên nghi môn đền là Trần Hưng Đạo Vương từ, tức đền thờ Hưng Đạo Vương họ Trần.
Hội đền Kiếp Bạc mở vào ngày nào
Kỳ hội lớn nhất là hội mùa thu trong tháng Tám âm lịch, lấy ngày hai mươi tháng Tám, tức ngày giỗ Đức Thánh, làm ngày trọng nhất. Hồ sơ di tích ghi kỳ hội chính từ ngày mười sáu tới ngày hai mươi, các nghi thức mở màn thường bắt đầu sớm hơn. Trong hội có lễ rước bộ, diễn xướng hầu Thánh, lễ khai ấn ban ấn và hội hoa đăng.