VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Kiếp Bạc

Kiếp Bạc Từ, đền Đức Thánh Trần

Ngôi đền chính của tín ngưỡng Đức Thánh Trần, dựng trên chính mảnh đất thái ấp Vạn Kiếp, nơi giữ dòng lễ Trần Triều tách riêng khỏi hàng Tứ Phủ.

Lập đền
sau năm 1300
trên nền phủ đệ cũ ở Vạn Kiếp
Phù ấn
4 quả
bằng đồng, ban ấn trong hội mùa thu
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 548 ngày 10 tháng 5 năm 2012

Qua cổng tứ trụ, quý vị đi trên một con đường thần đạo thẳng tắp, hai bên là bãi và vườn, phía trước là toà nghi môn lớn đứng chắn ngang chân núi. Trên mặt ngoài nghi môn ấy có chín chữ Hán lớn, hàng trên bốn chữ được một số tài liệu đọc là Dữ thiên vô cực và một số tài liệu đọc là Hưng thiên vô cực, hàng dưới là Trần Hưng Đạo Vương từ. Đi hết nghi môn thì ba toà đền hiện ra trong một thung lũng mở, mặt trông ra chỗ sáu dòng sông gặp nhau mà người vùng này quen gọi là Lục Đầu.

Chỗ quý vị đứng là đất Vạn Kiếp, thái ấp cũ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đền không dựng ở một nơi được chọn cho đẹp mắt, mà dựng đúng trên nền chỗ ở của chính người được thờ. Cả nước có hàng trăm nơi thờ Đức Thánh Trần và phần lớn là đền vọng, còn Kiếp Bạc là cửa đền gốc, cũng là nơi dòng lễ Trần Triều giữ được đủ nếp hơn cả.

Đền Kiếp Bạc
Đền Kiếp Bạc. Ảnh: Handyhuy (thảo luận) 14:20, ngày 21 tháng 4 năm 2008 (UTC), giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐức Thánh Trần Và Công Đồng Trần Triều

Tên gọi nơi này ghép từ tên tục của hai làng cũ trên đất Vạn Kiếp, gồm làng Vạn Yên tục gọi làng Kiếp và làng Dược Sơn tục gọi làng Bạc. Đây là một địa danh ghép chứ không phải một mỹ tự. Chữ Hán 劫泊祠 thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ địa danh ấy, không phải chữ chép lại từ hoành phi, còn chữ thật sự đang treo trên nghi môn là Trần Hưng Đạo Vương từ.

Vị được thờ là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, mất ngày hai mươi tháng Tám âm lịch năm 1300 tại chính phủ đệ này. Về năm sinh của ông thì sách vở ghi vênh nhau, có nơi ghi năm 1228, có nơi ghi năm 1231, có tài liệu lại ước khoảng năm 1230 tới 1234, nên thư viện ghi cả các mốc ấy chứ không chọn bừa một con số.

Theo giáo nghĩa

Điều làm nơi này khác một ngôi đền thờ danh nhân thông thường là ở đây có một hệ thần hẳn hoi, dân gian gọi là Công đồng Trần Triều. Hệ ấy xếp theo vai vế trong một nhà chứ không xếp theo phẩm trật quan lại. Trên hết là vương phụ và vương mẫu, tức cha mẹ của Đức Thánh. Giữa là Đức Thánh Trần cùng vương phu nhân Nguyên Từ quốc mẫu Thiên Thành công chúa. Dưới là tứ vị vương tử tức bốn người con trai gồm Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Hiếu Vương Trần Quốc Uy, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng và Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện, cùng nhị vị vương cô tức hai người con gái là Quyên Thanh công chúa và Đại Hoàng công chúa Anh Nguyên quận chúa, rồi tới hàng tướng thân cận như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, sau cùng là hàng Cô hàng Cậu như Cô bé Cửa Suốt, Cậu bé Cửa Đông.

Người theo tín ngưỡng này tin rằng Đức Thánh Trần có quyền trừ tà và chữa bệnh. Đó là lớp nghĩa mạnh trong cả hệ thờ tự, giải thích vì sao người ta tới cửa đền không chỉ để tưởng nhớ một người xưa.

Theo sử liệu

Xét về mặt tư liệu, việc một người có thật trở thành một vị thánh có hệ thần riêng là quá trình kéo dài nhiều thế kỷ. Sau khi ông mất, đền thờ được lập ngay trên nền phủ đệ và các triều đại nối nhau ban sắc phong, rồi từ cửa đền gốc này các đền vọng mọc dần khắp nơi, xa tới tận miền Trung. Riêng ở Huế, ngôi đền vọng sớm nhất được chép là lập năm 1857, tới nay vùng ấy vẫn còn bốn nơi thờ giữ lệ lễ ngày hai mươi tháng Tám.

Lớp thần tích cũng thành hình trong khoảng thời gian ấy, trong đó có chuyện Đức Thánh trừ một loài yêu quái quấy phá đàn bà con gái mà truyền tụng gọi là Phạm Nhan. Chuyện ấy thuộc lớp truyền tụng chứ không phải sử biên niên, và giá trị của nó nằm ở chỗ giải thích vì sao cửa đền này từ xưa đã là nơi người ta tới xin trừ tà chữa bệnh.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất ở cửa đền này là lẫn Trần Triều với Tứ Phủ của Đạo Mẫu. Hai dòng ấy khác nhau ngay từ gốc.

Tứ Phủ chia thế giới thành các phủ do các vị Mẫu cai quản, hệ thần xếp theo thứ bậc kiểu quan chức, đứng đầu là Thánh Mẫu, dưới là hàng Chầu, hàng Quan Lớn, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu. Trần Triều thờ một gia đình có thật, hệ thần xếp theo vai vế trong nhà, đứng đầu là Đức Thánh Trần, và những vị dưới ông là con, là rể, là tướng thân cận của chính ông.

Vì gốc khác nên giá hầu và khăn áo khác hẳn. Một vấn hầu Tứ Phủ đi qua các giá Mẫu, giá Chầu, giá Quan, giá Ông Hoàng, giá Cô giá Cậu, khăn áo đủ bốn sắc đỏ vàng trắng xanh ứng với bốn phủ. Lễ hầu Thánh của dòng Trần Triều chỉ có các giá trong nhà Trần, lấy sắc đỏ làm chủ, bản văn riêng, lối múa riêng, nhạc cũng đi khác.

Thực tế thì nhiều nơi hành lễ chung, trong phủ Mẫu thường có ban Trần Triều và trong đền Trần Triều thường có ban Tứ Phủ. Việc thờ chung ấy đã có từ lâu, nằm trong nếp thờ nhiều lớp quen thuộc của người Việt. Nhưng chung một điện thờ không có nghĩa là chung một hệ thần.

IITừ Phủ Đệ Vạn Kiếp Đến Cửa Đền Gốc

Lịch sử thờ tự ở đây bắt đầu sớm hơn cả ngày mất của người được thờ. Theo hồ sơ di tích, cách đền chính chừng tám trăm mét về phía đông bắc còn dấu một ngôi sinh từ, tức đền dựng để thờ người khi người ấy vẫn còn sống, một lệ hiếm và chỉ dành cho bậc rất trọng. Ngôi đền hôm nay là lớp sau, dựng trên nền phủ đệ sau khi ông mất.

  • Thời TrầnSinh từ trên đất Vạn Kiếp
    Một ngôi đền lập để thờ Hưng Đạo Đại Vương ngay khi ông còn sống, nay còn dấu tích cách đền chính khoảng tám trăm mét về phía đông bắc.
  • 1300Lập đền trên nền phủ đệ
    Ông mất ngày hai mươi tháng Tám âm lịch tại phủ đệ Vạn Kiếp và đền được lập ngay trên nền ấy. Ngày này về sau thành ngày giỗ, là trục của cả kỳ hội mùa thu.
  • Thời LêSắc phong và lan toả
    Các triều đại nối nhau ban sắc, tín ngưỡng Đức Thánh Trần lan ra ngoài vùng Vạn Kiếp, các đền vọng bắt đầu được lập ở nhiều nơi.
  • 1857Đền vọng ở Huế
    Ngôi đền vọng sớm nhất được chép ở Huế lập năm này, và tới nay vùng ấy còn bốn nơi thờ giữ lệ lễ ngày hai mươi tháng Tám.
  • 1904 và 1962Trùng tu lớn và xếp hạng quốc gia
    Bộ khung kiến trúc thấy hôm nay chủ yếu thuộc lớp thời Nguyễn, định hình qua đợt trùng tu năm 1904 và các đợt tu bổ nối theo. Ngày 28 tháng 4 năm 1962, di tích được xếp hạng cấp quốc gia theo Quyết định số 313-VH/VP.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Côn Sơn Kiếp Bạc được xếp hạng theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ký ngày 10 tháng 5 năm 2012. Cùng năm, sân đền được tôn tạo lại.
  • 2025Di sản thế giới
    Ngày 12 tháng 7 năm 2025, tại kỳ họp thứ bốn mươi bảy của Ủy ban Di sản Thế giới ở Paris, quần thể Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh.
Theo sử liệu

Một chỗ nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Nhiều bài viết phổ thông ghi rằng vua Trần Thánh Tông là người cho lập đền sau khi Hưng Đạo Đại Vương mất. Cách ghi ấy không khớp về niên đại, vì Trần Thánh Tông mất năm 1290, tức mười năm trước ngày mất của người được thờ. Hồ sơ di tích thận trọng hơn, chỉ ghi rằng đền được lập sau năm 1300 trên nền phủ đệ cũ, không nêu đích danh vị vua nào. Thư viện ghi cả hai để quý vị tự đối chiếu.

IIIBa Toà Trong Một Thung Lũng

Đền quay hướng tây nam, dàn theo một trục dọc rất dài từ cổng tứ trụ ngoài cùng qua đường thần đạo, nghi môn và sân đền rộng rồi mới tới khu thờ. Khu thờ dựng theo lối tiền nhất hậu đinh, gồm ba lớp nối nhau là tiền tế, trung từ và hậu cung, giữ đúng nếp cung đình, bên trong lưu giữ bảy pho tượng đồng cổ mang giá trị nghệ thuật cao.

Nghi môn

Toà cổng lớn ba cửa, mặt ngoài đắp chín chữ Hán. Hàng trên bốn chữ được đọc là Dữ thiên vô cực hoặc Hưng thiên vô cực tuỳ nguồn, hàng dưới năm chữ Trần Hưng Đạo Vương từ. Chín chữ ấy nói thẳng đền này thờ ai.

Giếng Ngọc mắt rồng

Giếng cổ nằm bên trái cổng lớn, theo lệ truyền trong vùng là giếng không bao giờ cạn nước. Nước giếng được dùng trong việc thờ tự của đền.

Tiền tế

Lớp ngoài cùng, nơi đặt hương án và tiến hành phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày. Tại đây có ban thờ tướng Phạm Ngũ Lão, vừa là tướng thân cận vừa là con rể của Đức Thánh, cùng tượng hai tướng Yết Kiêu và Dã Tượng.

Trung từ

Lớp giữa thờ Hưng Đạo Đại Vương cùng bốn bài vị và ngai thờ bốn người con trai của ông, tức tứ vị vương tử gồm Hưng Vũ Vương, Hưng Hiếu Vương, Hưng Nhượng Vương và Hưng Trí Vương.

Hậu cung

Lớp trong cùng tức thượng điện, nơi bài trí ban thờ và tượng đồng của Đức Thánh Trần, Quốc mẫu Thiên Thành công chúa cùng hai người con gái là Quyên Thanh công chúa và Anh Nguyên quận chúa, kèm tượng Nam Tào và Bắc Đẩu. Đây là chỗ cho thấy rõ tính chất thờ cả một gia đình chứ không thờ riêng một người.

Đền còn giữ bốn quả phù ấn bằng đồng, mỗi quả một kích thước và một chức năng. Quả lớn nhất hình vuông cạnh 10 nhân 10 cm, khắc bảy chữ Trần triều Hưng Đạo vương chi ấn. Ba quả nhỏ hơn gồm ấn Quốc pháp Đại Vương hình vuông cạnh 5,5 nhân 5,5 cm khắc bốn chữ, ấn Vạn dược linh phù hình vuông cạnh 4,3 nhân 4,3 cm khắc bốn chữ, và ấn Phi thiên thần kiếm linh phù hình chữ nhật cạnh 5,2 nhân 7,7 cm khắc sáu chữ. Đọc bốn tên ấy là đọc được bốn điều người xưa xin ở cửa đền này gồm uy quyền, phép nước, thuốc men và trừ tà. Khi ban ấn, các quả được in lên lụa vàng, trong đó quả cuối được in hai lần để tổng số dấu thành năm chứ không dừng ở bốn, vì theo lối đếm sinh lão bệnh tử thì số bốn rơi vào chữ tử.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Thế đất ở đây thuộc loại dễ đọc trong các di tích Bắc Bộ, vì cả bốn yếu tố của phép xem đất cổ truyền đều hiện ra rõ trên mặt bằng. Đền nằm trong một thung lũng mở của dải Vạn Yên, lưng dựa vào núi Rồng tức Trán Rồng, hai bên có cánh núi Bắc Đẩu ở phía bắc và núi Nam Tào tức Dược Sơn ở phía nam ôm lại, mặt quay hướng tây nam trông ra nơi hợp lưu của sáu dòng sông mà dân gian gọi là Lục Đầu giang.

Xét theo lối cũ thì đây là thế tựa sơn hướng thủy đúng sách, có hậu chẩm là núi Rồng sau lưng làm chỗ dựa, có tả Thanh Long hữu Bạch Hổ là hai dải núi Nam Tào và Bắc Đẩu hai bên khép vào, có minh đường là khoảng nước rộng trước mặt. Ở châu thổ Bắc Bộ, nơi phần lớn đền miếu phải đào thêm ao hồ để bù cho địa hình phẳng, một chỗ hội đủ cả núi lẫn sông tự nhiên là hiếm.

Riêng chỗ sáu dòng sông gặp nhau thì đáng nói thêm. Trong phép xem đất, nước là thứ dẫn khí và tụ khí, còn một điểm hợp lưu là chỗ nhiều mạch nước đổ về một mối, theo lối đọc cổ truyền là chỗ tụ khí mạnh trên cả một vùng rộng. Đền quay mặt thẳng ra chỗ ấy, tức lấy trọn cái minh đường lớn mà địa hình vùng này có thể cho. Đây cũng là lý do khiến trục đền phải kéo dài, bởi trục dài giữ cho khí đi có nhịp, không xổ thẳng từ sông vào hậu cung.

Sau cùng là lớp nghĩa của nền cũ. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất từng là chỗ ở của một người thì mang theo dấu của người ấy, và dựng đền đúng trên nền cũ là cách giữ lấy dấu chứ không để mất. Kiếp Bạc giữ nguyên tắc ấy rất chặt, từ sinh từ dựng khi người còn sống cho tới đền thờ dựng khi người đã mất đều đứng trên cùng một mảnh đất.

VHội Mùa Thu Và Lệ Hầu Thánh

Kỳ hội lớn nhất trong năm là hội mùa thu, mở trong tháng Tám âm lịch và lấy ngày hai mươi tháng Tám, tức ngày giỗ Đức Thánh, làm ngày trọng nhất. Hồ sơ di tích ghi kỳ hội chính từ ngày mười sáu tới ngày hai mươi, còn trên thực tế các nghi thức mở màn tiến hành sớm hơn, từ khoảng ngày mùng mười. Kỳ hội này nằm chung một mạch với hội mùa thu chùa Côn Sơn, nên người vùng này quen gọi gộp là hội Côn Sơn Kiếp Bạc.

Trình tự các nghi thức chính trong kỳ hội mùa thu. Ngày tổ chức cụ thể của từng phần có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn Kiếp Bạc và chương trình lễ hội mùa thu do cơ quan quản lý di tích công bố..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước ngày mở hộiLễ cáo yếtNghi thức trình báo mở hội, làm trước khi các phần lễ chính bắt đầu.
Khoảng ngày 10 tháng Tám trở điLễ rước bộĐoàn rước của các làng trong vùng đưa cỗ lễ và kiệu về đền.
Ngày 16 tháng TámLễ tưởng niệm Nguyễn TrãiPhần lễ thuộc khu Côn Sơn trong cùng kỳ hội, vì hai nơi chung một quần thể di tích.
Trong hộiLiên hoan diễn xướng hầu ThánhCác bản hội về đền trình các giá hầu của dòng Trần Triều, khác hẳn một vấn hầu Tứ Phủ.
Ngày 20 tháng TámLễ giỗ Đức Thánh TrầnNgày trọng nhất của cả kỳ hội, có đại tế và dâng hương tại đền.
Ngày 20 tháng TámLễ khai ấn và ban ấnBốn quả phù ấn được đóng lên lụa vàng và ban cho người về dự, theo lệ in thành năm dấu.
Sau lễ giỗLễ cầu an và hội hoa đăngLễ cầu an cùng việc thả đèn trên sông trước cửa đền, khép lại phần lễ chính của kỳ hội.
Theo sử liệu

Ngoài kỳ hội mùa thu, đền còn đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một, nhưng các phần đặc trưng nhất đều nằm trong tháng Tám. Nhìn ở góc nhân học, lệ hầu Thánh của dòng Trần Triều là một chỉnh thể gồm bản văn, nhạc, khăn áo, vũ đạo và trình tự giá, tiến hành theo quy ước truyền qua nhiều đời trong các bản hội. Điều làm nó tách khỏi một vấn hầu Tứ Phủ không phải là quy mô mà là danh mục giá hầu, bởi các vị được thỉnh đều thuộc một nhà. Ở Kiếp Bạc, việc này được đưa vào chương trình hội dưới hình thức liên hoan diễn xướng từ giữa những năm hai nghìn, tức phần trình diễn trong hội thì mới, còn bản thân lệ hầu thì cũ hơn nhiều.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thung lũng Vạn Kiếp, phường Trần Hưng Đạo (xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh cũ), thành phố Hải Phòng
Đường tới
Đền nằm trong thung lũng Vạn Kiếp, phường Trần Hưng Đạo (xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh cũ), thành phố Hải Phòng. Chùa Côn Sơn ở cách đó chừng năm cây số, hai nơi nằm chung một quần thể di tích nên thường được đi liền một chuyến.
Toạ độ
21.1512, 106.3277
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở trung từ và hậu cung, không chạm vào tượng và bài vị, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Nếu gặp một buổi hầu Thánh, xin quý vị đứng ngoài phạm vi chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa người hầu với ban thờ. Việc chụp ảnh trong hậu cung tuỳ lệ từng lúc, hỏi người trông coi đền trước là chắc nhất.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Kiếp Bạc

Contribute photos, information or video for Kiep Bac Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Kiếp Bạc thờ ai

Thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, dân gian tôn là Đức Thánh Trần, cùng cả gia đình ông. Trong đền có bảy pho tượng đồng cổ, gồm tượng Đức Thánh Trần, Quốc mẫu Thiên Thành công chúa, hai người con gái là Quyên Thanh công chúa và Anh Nguyên quận chúa, tướng Phạm Ngũ Lão, Nam Tào và Bắc Đẩu, cùng bốn bài vị của bốn người con trai ở trung từ và tượng Yết Kiêu, Dã Tượng ở tiền tế.

Trần Triều và Tứ Phủ có phải một không

Không. Tứ Phủ thuộc Đạo Mẫu, hệ thần xếp theo phủ và theo thứ bậc kiểu quan chức, đứng đầu là Thánh Mẫu, khăn áo đủ bốn sắc đỏ vàng trắng xanh. Trần Triều thờ một gia đình có thật, xếp theo vai vế trong nhà, đứng đầu là Đức Thánh Trần, lễ hầu lấy sắc đỏ làm chủ. Nhiều nơi hành lễ chung nhưng giá hầu và khăn áo khác hẳn nhau.

Ấn đền Kiếp Bạc gồm mấy quả và khắc chữ gì

Đền giữ bốn quả phù ấn bằng đồng. Quả lớn nhất hình vuông cạnh 10 nhân 10 cm khắc bảy chữ Trần triều Hưng Đạo vương chi ấn. Ba quả nhỏ hơn gồm Quốc pháp Đại Vương cạnh 5,5 nhân 5,5 cm, Vạn dược linh phù cạnh 4,3 nhân 4,3 cm và Phi thiên thần kiếm linh phù hình chữ nhật cạnh 5,2 nhân 7,7 cm. Khi ban ấn, quả Phi thiên thần kiếm linh phù được in hai lần để tổng số dấu thành năm chứ không dừng ở bốn.

Vì sao gọi là Kiếp Bạc

Tên ghép từ tên tục của hai làng cũ trên đất Vạn Kiếp, gồm làng Vạn Yên tục gọi làng Kiếp và làng Dược Sơn tục gọi làng Bạc. Đây là một địa danh ghép chứ không phải một mỹ tự có nghĩa riêng. Chữ đang treo trên nghi môn đền là Trần Hưng Đạo Vương từ, tức đền thờ Hưng Đạo Vương họ Trần.

Hội đền Kiếp Bạc mở vào ngày nào

Kỳ hội lớn nhất là hội mùa thu trong tháng Tám âm lịch, lấy ngày hai mươi tháng Tám, tức ngày giỗ Đức Thánh, làm ngày trọng nhất. Hồ sơ di tích ghi kỳ hội chính từ ngày mười sáu tới ngày hai mươi, các nghi thức mở màn thường bắt đầu sớm hơn. Trong hội có lễ rước bộ, diễn xướng hầu Thánh, lễ khai ấn ban ấn và hội hoa đăng.

›Đọc Tiếp