VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thánh địa La Vang

· Tiểu vương cung thánh đường Đức Mẹ La Vang

Nơi hành hương lớn nhất của người Công giáo Việt Nam, dựng trên một câu chuyện kể từ năm 1798 và giữ lại ngọn tháp cổ đứng trơ giữa quảng trường.

Sự tích hiện ra
1798
theo lưu truyền, thời có chỉ cấm đạo
Tiểu vương cung thánh đường
1961
sắc chỉ của Đức Gioan XXIII, xem phần lịch sử
Tháp cổ
3 tầng
phần còn lại của nhà thờ dựng 1924 tới 1928

Rẽ khỏi đường lớn, quý vị đi vào một vùng đồi thấp đất cát pha, và thứ đầu tiên hiện ra không phải một mái nhà thờ mà là ngọn tháp gạch ba tầng đứng trơ giữa khoảng quảng trường rộng. Tháp không còn mái, không còn thân nhà thờ nào đi kèm; các ô cửa trống nhìn suốt sang bên kia trời. Sau lưng tháp, dưới ba gốc cây trồng thành một cụm, là linh đài với pho tượng Đức Mẹ mặc áo dài Việt Nam, tay ẵm Chúa Hài Đồng.

Đây là La Vang, nơi hành hương lớn nhất của người Công giáo Việt Nam. Điều làm nên nơi này không phải quy mô công trình, mà một câu chuyện kể từ năm 1798: giữa lúc có chỉ cấm đạo, một nhóm giáo dân vùng Quảng Trị lánh vào rừng La Vang, và theo lưu truyền, họ gặp Đức Mẹ hiện ra dưới gốc một cây vằng.

Thánh địa La Vang
Thánh địa La Vang. Ảnh: Hoangvantoanajc, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Sự Tích Năm 1798, Tên Gọi Và Lòng Sùng Kính

Câu chuyện nền của La Vang rất ngắn, và chính cái ngắn ấy giữ cho nó sống lâu. Theo lưu truyền trong vùng, năm 1798, khi có chỉ cấm đạo, nhiều gia đình giáo dân ở các làng quanh Quảng Trị bỏ nhà lánh vào vùng rừng núi La Vang, dựng chòi, ăn lá rừng, chịu bệnh và chịu đói. Trong những đêm quây quần đọc kinh dưới một gốc cây cổ thụ, họ thấy một người phụ nữ mặc áo dài, tay ẵm một hài nhi, hiện ra giữa ánh sáng, và họ nhận đó là Đức Mẹ. Lời được truyền lại là lời an ủi: hãy vững lòng chịu khổ, Mẹ đã nhận lời các con kêu xin.

Theo sử liệu

Không có bản tường trình nào viết ngay lúc ấy. Chuyện được kể miệng trong các xóm đạo quanh vùng, mãi sau mới chép thành văn; La Vang gần như nằm ngoài giấy tờ suốt một trăm năm đầu. Tư liệu của Tổng giáo phận Huế cho biết Đức cha Antoine Louis Caspar Lộc là người đưa nơi này ra khỏi quãng lặng ấy: năm 1886 ngài quyết định dựng ở La Vang một nhà thờ lợp ngói, năm 1900 ngài định lệ hành hương ba năm một lần. Bước thứ hai thuộc về Đức cha Eugène Marie Joseph Allys Lý, người trong những năm 1920 đưa La Vang lên quy mô cả nước.

Ba cách giải thích tên La Vang

Cái tên La Vang tự nó là một câu hỏi, tới nay chưa có câu trả lời được mọi người chấp nhận. Các nguồn đưa ra ba cách hiểu, chúng tôi ghi cả ba.

  • Cây lá vằng. Trong rừng La Vang có loài dây leo mà người địa phương gọi là cây vằng; lá phơi khô sắc nước cho sản phụ uống là lệ quen của cả vùng. Theo cách này, Lá Vằng đọc trẹo dần thành La Vang. Đây là cách được nhắc nhiều nhất và gắn khít nhất với sự tích.
  • Tiếng la vang giữa rừng. Dân quanh vùng vào rừng đốn củi, làm chòi ở lại nhiều ngày, gặp nguy thì la lên gọi nhau; tiếng la dội vào vách núi mà vang lại, nên chỗ ấy thành chỗ la vang. Cụ Nguyễn Hữu Bài được dẫn như người nêu cách hiểu này.
  • Lối đọc từ tiếng của người bản địa. Cách thứ ba cho rằng đây vốn là địa danh của người bản địa ở vùng núi phía tây Quảng Trị, người Việt nghe rồi ghi lại theo âm Việt, thành một cái tên không giải nghĩa được bằng tiếng Việt.

Có tác giả gốc Quảng Trị lập luận rằng cách thứ nhất ít hợp lý vì người vùng này phát âm rõ, không dễ đọc trẹo Lá Vằng thành La Vang, nên ngả về cách thứ hai. Đó là một ý kiến, không phải kết luận đã chốt.

Theo giáo nghĩa

Trong tổ chức của Giáo hội Công giáo, vương cung thánh đường là danh hiệu do Tòa Thánh ban cho một ngôi nhà thờ, không phải một hạng mục kiến trúc hay một cấp bậc hành chính. Danh hiệu có hai bậc: bậc trên là đại vương cung thánh đường, chỉ dành cho bốn ngôi ở Rôma; bậc dưới là tiểu vương cung thánh đường, tiếng Latinh là basilica minor, ban cho những nhà thờ có tầm quan trọng riêng về lịch sử, nghệ thuật hoặc lòng sùng kính, kèm một số đặc quyền phụng vụ. Điều cần phân biệt: danh hiệu này nói về tầm quan trọng của ngôi nhà thờ, không phải một phán quyết về sự kiện đã xảy ra ở đó.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nằm đúng ở ranh giới ấy. Nhiều người hiểu rằng việc nâng đền thờ La Vang lên hàng tiểu vương cung thánh đường năm 1961 là việc Tòa Thánh chính thức công nhận cuộc Đức Mẹ hiện ra năm 1798. Xét theo tư liệu thì đó là hai việc khác nhau. Giáo hội có một thủ tục thẩm tra riêng, rất dè dặt, cho các trường hợp được cho là Đức Mẹ hiện ra, và tới nay chưa có phán quyết chính thức nào của Tòa Thánh về một cuộc hiện ra nào ở Việt Nam, kể cả La Vang. Những gì đã được ban là danh hiệu cho ngôi đền thờ, việc hàng giám mục chọn La Vang làm trung tâm Thánh Mẫu của cả nước, và sự chuẩn nhận lòng sùng kính tại đây. Lòng sùng kính của hàng vạn người hành hương là một sự thật xã hội, không cần văn kiện để tồn tại.

Từ Nhà Thờ Tranh Tới Thánh Địa

Lịch sử công trình ở La Vang là lịch sử của những lần dựng lại: cứ vài chục năm, nơi thờ tự lại được thay bằng một công trình lớn hơn, theo sát số người kéo về.

  • 1798Sự tích hiện ra
    Theo lưu truyền, giáo dân lánh vào rừng La Vang gặp Đức Mẹ hiện ra dưới gốc cây vằng.
  • 1820Ngôi nhà thờ đầu tiên
    Lần dựng nhà thờ đầu tiên tại chỗ được cho là nơi hiện ra, công trình nhỏ, làm bằng vật liệu tại chỗ.
  • 1886Quyết định dựng nhà thờ ngói
    Đức cha Caspar Lộc quyết định dựng ở La Vang một nhà thờ lợp ngói; thi công bắt đầu năm 1894.
  • 1900 tới 1901Hoàn thành, định lệ và cung hiến
    Nhà thờ ngói hoàn thành năm 1900 cùng với việc định lệ hành hương ba năm một lần, gốc của nhịp đại hội còn giữ tới nay; lễ cung hiến và kỳ hành hương lớn đầu tiên diễn ra năm 1901.
  • 1924 tới 1928Ngôi nhà thờ lớn
    Nhà thờ cũ được mở rộng thành công trình lớn hơn nhiều, hai tầng mái lợp ngói, hoàn thành năm 1928. Ngọn tháp ba tầng còn lại hôm nay thuộc lần dựng này.
  • 1961Tiểu vương cung thánh đường
    Đức Giáo hoàng Gioan XXIII ban sắc chỉ Magno Nos Solatio nâng đền thờ lên hàng tiểu vương cung thánh đường; cùng năm, hàng giám mục chọn La Vang làm trung tâm Thánh Mẫu của cả nước.
  • 1972Công trình cũ hư hại
    Ngôi nhà thờ dựng những năm 1920 bị hư hại trong chiến sự, chỉ còn lại ngọn tháp ba tầng.
  • 2012Khởi công thánh đường mới
    Ngôi vương cung thánh đường mới khởi công trong khuôn viên, đặt chệch khỏi nền cũ để giữ nguyên tháp.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Thứ nhất là ngày ban sắc chỉ năm 1961: có tài liệu ghi ngày tám tháng Tám, có tài liệu ghi ngày hai mươi hai tháng Tám. Cả hai thống nhất về năm và về vị giáo hoàng, chỉ lệch ở ngày, nhiều khả năng vì một mốc là ngày ký và một mốc là ngày công bố; chúng tôi ghi cả hai. Thứ hai là mốc khánh thành ngôi nhà thờ ngói: tư liệu Tổng giáo phận phân biệt rõ 1886 là năm quyết định, 1894 là năm khởi công, 1900 là năm hoàn thành và 1901 là năm cung hiến, còn nhiều bài phổ thông gộp cả bốn mốc rồi ghi gọn một con số. Đó là lý do chính khiến các bài về La Vang ghi niên đại lệch nhau.

Tháp Cổ, Linh Đài Và Ngôi Thánh Đường Mới

La Vang không phải một công trình mà là một khuôn viên rộng gồm nhiều hạng mục. Trung tâm thị giác vẫn là tháp cổ, thứ duy nhất còn lại của ngôi nhà thờ những năm 1920. Ngôi thánh đường mới không dựng đè lên nền cũ mà nhường chỗ cho tháp, nên khi đứng ở quảng trường quý vị thấy hai lớp thời gian cùng lúc.

Tháp cổ ba tầng

Khối tháp gạch hình vuông, ba tầng thu dần, không còn mái và không còn thân nhà thờ. Thuộc lần dựng 1924 tới 1928, giữ đúng trong tình trạng còn lại chứ không phục dựng.

Linh đài Đức Mẹ

Dựng năm 1963 tại chỗ được cho là nơi hiện ra, làm theo hình ba gốc cây thành cụm để nhắc lại gốc cây trong sự tích. Giữa linh đài là pho tượng Đức Mẹ mặc áo dài Việt Nam, ẵm Chúa Hài Đồng.

Vương cung thánh đường mới

Khởi công năm 2012; các nguồn ghi diện tích khoảng 13.464 mét vuông và chỗ cho chừng 5.000 người, gồm khoảng 3.500 chỗ tầng dưới và 1.500 chỗ tầng lửng. Mái nhiều tầng cong lợp ngói lưu ly sắc xanh, lấy dáng mái Việt làm ngôn ngữ chính thay cho lối vòm nhọn châu Âu. Trang trí dùng mô típ lá vằng, bông lúa, chùm nho, hoa hồng, chim phượng và ánh lửa.

Quảng trường và đường thánh giá

Quảng trường rộng trước thánh đường là nơi cử hành các nghi lễ đông người, vì lòng nhà thờ không đủ chứa số người hành hương. Trong khuôn viên còn có đường thánh giá mười bốn chặng ngoài trời và một đại lộ có các cụm tượng theo mầu nhiệm Mân Côi.

Giếng nước Đức Mẹ

Giếng nước trong khuôn viên mà người hành hương quen lấy nước mang về. Đây là lệ thuộc lòng sùng kính bình dân, không phải nghi thức phụng vụ.

Nhìn theo lối kiến trúc, ngôi thánh đường mới đi ngược con đường của phần lớn nhà thờ lớn ở Việt Nam hồi thế kỷ 19, vốn mượn nguyên ngôn ngữ Gothic hoặc Roman của châu Âu. Ở đây mái cong nhiều tầng và các mô típ lá lúa hoa quả được đặt vào chỗ trước kia dành cho vòm nhọn và cửa sổ hoa hồng. Đó là lựa chọn có chủ ý, khớp với chính hình ảnh trung tâm của nơi này: một Đức Mẹ mặc áo dài.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm hay bị nói vắn tắt thành sai: tháp cổ không phải ngôi nhà thờ đầu tiên của La Vang. Ngôi đầu tiên thuộc năm 1820 và không còn dấu vết; tháp đang đứng thuộc ngôi nhà thờ lớn dựng từ 1924 tới 1928, tức lần dựng thứ ba trên đất này.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần rào trước cho thật rõ. Công giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành, chứ không phải hướng chọn theo la bàn của thầy địa lý; riêng ở La Vang, chỗ đặt công trình còn bị quyết định bởi chỗ được cho là nơi hiện ra. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy; nó không phải điều chép trong tư liệu của Giáo hội.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là chỗ này không được chọn theo nghĩa thông thường của phép xem đất. Người ta không tìm huyệt rồi dựng đền, mà dựng nơi thờ tự đúng vào chỗ một sự việc được kể là đã xảy ra. Đọc thế đất ở La Vang là đọc một mảnh đất được giữ lại vì ký ức.

Xét về hình thế, thánh địa nằm trên vùng đồi thấp đất cát pha ở phía tây dải đồng bằng Quảng Trị, lưng hướng về dãy núi phía tây, mặt mở ra phía đồng bằng và biển ở phía đông. Trong lối đọc cổ truyền, đó là thế tọa sơn hướng hải dạng nhẹ: có chỗ tựa ở sau mà không bị núi ép, có mặt thoáng ở trước mà không trống trơn. Vùng đồi thấp cũng là dạng đất mà sách xưa gọi là đất nổi, cao hơn ruộng chung quanh và thoát nước.

Về bố cục, cái đáng chú ý nhất là lòng nhà thờ ở đây không giữ vai trò trung tâm. Trọng tâm nằm ngoài trời: một quảng trường rộng, một linh đài và một ngọn tháp cổ đứng giữa khoảng trống. Đọc theo lối cũ, đây là một minh đường rất rộng, bằng và sáng, thứ mà sách địa lý coi là điều kiện tốt bậc nhất; chỉ khác là ở nơi khác minh đường dùng để dẫn khí vào trong, còn tại La Vang thì chính minh đường mới là nơi diễn ra việc chính.

Sau cùng là lớp nghĩa của tháp cổ. Trong cách nghĩ cổ truyền, một khối gạch cao đứng giữa khoảng đất trống là một mốc: nó định tâm cho cả khu và neo ký ức vào một chỗ cụ thể. Việc ngôi thánh đường mới nhường chỗ cho tháp thay vì xây đè lên nền cũ, xét theo con mắt ấy, là giữ đúng cái tâm của khu đất. Chúng tôi ghi nhận xét này đúng như một cách đọc cổ truyền, và dừng ở đó.

Hành Hương Và Đại Hội

Nhịp của La Vang gồm hai lớp. Lớp thứ nhất là hành hương hằng năm vào giữa tháng Tám, quy tụ quanh ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Lớp thứ hai là đại hội, kỳ hành hương lớn theo lệ ba năm một lần, đánh số liên tục từ những kỳ đầu thế kỷ 20. Bài chỉ ghi ngày theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc.

Nhịp ba năm một lần từng bị gián đoạn: giữa kỳ thứ ba mươi mốt năm 2017 và kỳ thứ ba mươi hai năm 2026 cách nhau xa hơn ba năm, các nguồn không nói rõ lý do nên chúng tôi chỉ ghi lại con số. Nguồn: Thông báo chương trình hành hương và bản tin chuẩn bị đại hội của Hội đồng Giám mục Việt Nam..
Thời điểmLễ hoặc nghi thứcNội dung
13 tới 15 tháng TámHành hương hằng nămKỳ hành hương chính, mở từ ngày mười ba và khép lại bằng thánh lễ sáng ngày mười lăm.
15 tháng TámLễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên TrờiNgày trọng tâm của kỳ hành hương, cũng là lễ lớn nhất trong năm phụng vụ dành cho Đức Mẹ.
Đêm 14 tháng TámDiễn nguyện, dâng hoa, chầu Thánh ThểPhần đêm, gồm dâng hoa kính Đức Mẹ, lần hạt Mân Côi và chầu Thánh Thể ngoài trời.
Rạng sáng 15 tháng TámRước và thánh lễ bế mạcCuộc rước sáng sớm quanh quảng trường, sau đó là thánh lễ trọng.
Ba năm một lầnĐại hội hành hương toàn quốcKỳ lớn theo lệ đặt từ năm 1900, mỗi kỳ một chủ đề. Kỳ thứ ba mươi mốt năm 2017, kỳ thứ ba mươi hai năm 2026.

Ngoài hai lớp ấy, La Vang có khách quanh năm, phần lớn là các đoàn từ những giáo phận xa. Một nếp riêng của nơi này là người ta hay đi bộ chặng cuối và đọc kinh Mân Côi suốt đường đi.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Hải Phú, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị
Đường tới
Thánh địa nằm ở xã Hải Phú, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị, cách trung tâm thị xã Quảng Trị cũ chừng sáu cây số về phía nam và không xa tuyến quốc lộ 1. Đi từ Huế lên hoặc từ Đông Hà xuống đều thuận.
Toạ độ
16.7444, 107.1806
Khi tới nơi

Đây là nơi cử hành phụng vụ, không phải điểm tham quan thuần túy, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ, và khi đang có thánh lễ thì không đi lại giữa các hàng ghế. Riêng ở La Vang có mấy lệ tại chỗ: không leo lên tháp cổ, đi đường thánh giá theo một chiều, lấy nước ở giếng Đức Mẹ thì xếp hàng và dùng đồ đựng mang theo.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Thánh địa La Vang ở đâu

La Vang nằm ở xã Hải Phú, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị, trên vùng đồi thấp cách trung tâm thị xã Quảng Trị cũ chừng sáu cây số về phía nam. Đây là trung tâm hành hương Công giáo lớn nhất Việt Nam, được hàng giám mục chọn làm trung tâm Thánh Mẫu của cả nước từ năm 1961.

Sự tích Đức Mẹ La Vang kể gì

Theo lưu truyền trong vùng, năm 1798, khi có chỉ cấm đạo, nhiều gia đình giáo dân quanh Quảng Trị lánh vào rừng La Vang, sống trong thiếu thốn và bệnh tật. Trong những đêm đọc kinh dưới một gốc cây vằng, họ thấy một người phụ nữ mặc áo dài ẵm hài nhi hiện ra và nhận đó là Đức Mẹ. Chuyện được truyền miệng rồi mới chép lại.

Vì sao gọi là La Vang

Có ba cách giải thích và chưa cách nào được chấp nhận dứt điểm. Một là tên bắt từ cây lá vằng, loài dây leo mọc trong rừng ở đây, Lá Vằng đọc trẹo thành La Vang. Hai là từ tiếng la gọi nhau của người đi rừng dội vào vách núi mà vang lại. Ba là một địa danh của người bản địa được người Việt ghi theo âm Việt.

Tiểu vương cung thánh đường nghĩa là gì

Là danh hiệu Tòa Thánh ban cho một ngôi nhà thờ có tầm quan trọng riêng về lịch sử, nghệ thuật hoặc lòng sùng kính, tiếng Latinh gọi là basilica minor, bậc dưới của bốn đại vương cung thánh đường ở Rôma. Đền thờ La Vang được Đức Gioan XXIII nâng lên hàng này năm 1961.

Tháp cổ ở La Vang là của công trình nào

Là phần còn lại của ngôi nhà thờ lớn dựng từ năm 1924 tới năm 1928, tức lần dựng thứ ba trên đất này, chứ không phải ngôi nhà thờ đầu tiên năm 1820. Công trình cũ bị hư hại trong chiến sự và chỉ còn ngọn tháp ba tầng, được giữ nguyên chứ không phục dựng.

Đọc Tiếp