Từ chân núi Câu Lậu, quý vị leo một đường bậc xây bằng đá ong, thứ đá đỏ sạm và lỗ rỗ vốn có sẵn trong đất xứ Đoài. Lên tới đỉnh là một khoảng sân hẹp và ba nếp nhà nằm song song, mái xếp hai tầng, tường để nguyên màu gạch mộc không quét vôi, trên tường mở những ô cửa tròn viền trắng. Cả ba nếp nhà đều thấp, không có tháp, không có gác chuông cao.
Thứ đáng đến đây để xem nằm bên trong. Trong ba nếp nhà ấy là mấy chục pho tượng tạc bằng gỗ mít, phần lớn thuộc thời Tây Sơn, cuối thế kỷ 18. Điều lạ ở bộ tượng này không phải kích thước hay số lượng, mà là mỗi pho một dáng, mỗi pho một nét mặt, không pho nào lặp lại pho nào. Đó là lý do chùa Tây Phương được nhắc tới trong mọi cuốn sách về nghệ thuật tạc tượng của người Việt.

壹Tên Gọi Và Những Pho Tượng Được Thờ
Chùa có ba tên cùng dùng. Sùng Phúc Tự là tên chữ. Tây Phương Cổ Tự là tên được ghi trong lần dựng lại thời Tây Sơn. Chùa Tây Phương là tên quen, gọi theo hai chữ ấy, và người trong vùng còn gọi gọn là chùa Tây. Quả núi chùa ngồi trên cũng mang cả hai tên, núi Câu Lậu và núi Tây Phương.
Hai chữ Tây Phương lấy từ cách gọi cõi Tây Phương Cực Lạc, quốc độ của Phật A Di Đà theo giáo nghĩa Tịnh Độ. Đặt tên chùa như vậy là gửi luôn vào tên một lời nguyện vãng sinh, và cũng vì thế mà bộ Di Đà Tam Tôn có chỗ trọng trong hệ tượng của chùa.
Còn bộ tượng làm nên tiếng tăm của nơi này thì thuộc một lớp khác. Đó là hệ các vị Tổ truyền đăng, tức các vị tổ nối nhau giữ mạch truyền của Thiền tông, tính từ Tổ thứ nhất ở Tây Thiên trở đi. Chữ truyền đăng nghĩa là trao đèn: đèn của người trước chưa tắt thì người sau đã thắp tiếp. Hệ tượng này tả một dòng người, mỗi vị một thân phận và một nỗi riêng, nên người tạc được phép tạc mỗi pho một dáng.
Về hiện vật, hồ sơ di tích coi hệ tượng ở đây gần như một bảo tàng tượng Phật, phần lớn tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng, niên đại chính từ cuối thế kỷ 18 tới giữa thế kỷ 19. Riêng nhóm thuộc thời Tây Sơn, gồm 34 pho, được công nhận bảo vật quốc gia năm 2015 dưới tên gọi bộ tượng Phật giáo chùa Tây Phương thời Tây Sơn, niên đại cuối thế kỷ 18.
Tổng số tượng trong chùa thì các nguồn ghi vênh nhau: có nguồn ghi 62 pho, nguồn ghi 64 pho, nguồn ghi 72 pho, và có bài ghi hơn bảy mươi pho. Sự chênh lệch này phần lớn do cách đếm, có nơi tính cả tượng nhỏ trên các ban phụ, có nơi chỉ tính tượng trong ba nếp nhà chính. Chúng tôi ghi cả các con số chứ không chọn bừa một con số.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây nằm trong một cái tên rất quen. Người ta gọi bộ tượng này là mười tám vị La Hán, và cái tên ấy được dùng rộng đến mức thành mặc định.
Trong hồ sơ di tích và trong các nghiên cứu về chùa, nhóm tượng ấy được gọi là các vị Tổ, tức các vị tổ truyền đăng của Thiền tông, chứ không phải mười tám vị La Hán theo nghĩa kinh điển. La Hán là quả vị của người đã dứt hết phiền não trong hệ thống giáo nghĩa; còn Tổ truyền đăng là một chuỗi người có tên, có thứ tự, nối nhau giữ mạch pháp. Hai lớp khái niệm khác nhau, dù trong chùa Bắc Bộ cả hai đều hay được đặt ở hành lang hoặc hai bên Phật điện. Cái tên La Hán sống lâu hơn vì nó gọn, vì tượng bày thành hàng dài giống các dãy La Hán ở chùa khác, và vì một bài thơ nổi tiếng đã dùng đúng chữ ấy. Chúng tôi ghi lại đây không để bắt lỗi cách gọi quen, mà để quý vị biết trong hồ sơ di tích nhóm tượng ấy mang tên gì.
Bài thơ vừa nhắc là Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy Cận, viết năm 1960. Câu mở đầu chỉ có bảy chữ, Tôi đến thăm về lòng vấn vương, mà nói đúng cái cảm giác phần lớn người xem có khi ra khỏi chùa. Bài thơ ấy từng nằm trong sách giáo khoa nhiều năm và là lý do khiến rất nhiều người biết tên chùa Tây Phương trước khi biết nó ở đâu.
貳Các Lớp Niên Đại Của Ngôi Chùa
Chùa Tây Phương có nhiều lớp niên đại xếp lên nhau, và các nguồn không ghi giống nhau về từng lớp. Điều được thống nhất là lần dựng lại cuối thế kỷ 18 đã định hình cả bộ khung nhà lẫn hệ tượng còn thấy hôm nay.
- Lớp truyền thuyếtNiên đại xa nhất được nhắcMột số tư liệu địa phương đẩy gốc chùa về những thế kỷ đầu Công nguyên. Đây là lớp truyền thuyết, không có cấu kiện hay văn bia nào chứng cho niên đại ấy.
- 1554Dựng lại đời Mạc Phúc NguyênHồ sơ di tích ghi chùa được dựng với quy mô như hiện nay vào năm Giáp Dần 1554. Đây là mốc sớm nhất có tư liệu.
- Thế kỷ 17Thêm thượng điện và tam quanTư liệu địa phương ghi các đợt dựng thêm trong thế kỷ này, trong đó tam quan được dựng dưới thời Trịnh Tạc; niên đại cụ thể các nguồn ghi 1632 và 1660.
- 1735 tới 1740Trùng tu và tạc tượngĐợt sửa lớn dưới thời Trịnh Giang, kèm việc tạc thêm tượng. Một phần hệ tượng hiện còn thuộc lớp này.
- 1794Dựng lại thời Tây SơnLần dựng lại quan trọng nhất, cho ra bộ khung ba nếp nhà chồng diêm hai tầng tám mái và phần lớn hệ tượng gỗ mít. Chùa mang tên Tây Phương Cổ Tự từ đây. Một số nguồn ghi công việc kéo dài trong khoảng 1793 tới 1802.
- 1962Xếp hạng di tích cấp quốc giaChùa nằm trong lớp di tích được xếp hạng sớm của ngành văn hóa. Các đợt tu bổ tiếp theo diễn ra vào cuối thế kỷ 19 và trong những năm 1990.
- 2014Di tích quốc gia đặc biệtDi tích kiến trúc nghệ thuật chùa Tây Phương được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014.
- 2015Bảo vật quốc giaBộ tượng Phật giáo chùa Tây Phương thời Tây Sơn, niên đại cuối thế kỷ 18, gồm 34 pho, được công nhận bảo vật quốc gia.
Hai chỗ cần nói rõ. Thứ nhất, về thời điểm dựng lại thời Tây Sơn, phần lớn tư liệu ghi năm 1794, nhưng có nguồn ghi công việc trải trong khoảng 1793 tới 1802; hai cách ghi này không loại nhau, có thể một là năm khởi công và một là cả quá trình, song chúng tôi chưa tra được tài liệu nói dứt điểm. Thứ hai, về các mốc thế kỷ 17, tư liệu địa phương ghi 1632 cho phần thượng điện và hành lang, 1660 cho tam quan, nhưng cũng có bài ghi khác đi vài năm. Quý vị nên xem các mốc này là mốc tương đối.
參Ba Nếp Nhà Chữ Tam Và Bộ Tượng Gỗ Mít
Đường lên chùa là một dãy bậc xây bằng đá ong, thứ vật liệu đặc trưng của vùng đất này. Số bậc thì nguồn ghi vênh nhau: nhiều tài liệu ghi 239 bậc, có bài ghi 238, có bài ghi 237. Quả núi thấp, chỉ cao chừng năm mươi mét so với ruộng chung quanh, nên đường lên ngắn mà dốc.
Ba nếp nhà xếp theo chữ Tam
Trên đỉnh núi là ba nếp nhà nằm song song chứ không nối liền nhau, xếp thành hình chữ Tam, tức ba vạch ngang. Ba nếp lần lượt là chùa Hạ ở ngoài, chùa Trung ở giữa và chùa Thượng ở trong. Theo hồ sơ di tích, chùa Hạ và chùa Thượng đều năm gian hai chái, chùa Trung ba gian hai chái.
Bộ mái là chỗ đáng đứng lại xem. Cả ba nếp làm theo lối chồng diêm hai tầng tám mái: thay vì một bộ mái liền, người dựng nâng phần giữa lên thành một tầng mái thứ hai, chừa một khoảng hở giữa hai tầng để lấy sáng và thoát hơi. Mái lợp hai lớp ngói, lớp trên là ngói mũi hài, lớp lót bên dưới có màu, và các đầu đao cong lên mang con giống đất nung. Diềm mái chạm lá triện cuốn suốt chiều dài.
Tường thì làm ngược với thói quen của chùa Bắc Bộ. Người dựng xây bằng gạch Bát Tràng để trần, nghĩa là không quét vôi, để nguyên màu gạch mộc, chỉ trổ trên tường những ô cửa sổ tròn quét vôi trắng. Cách làm ấy cho cả cụm nhà một sắc đỏ sạm ăn với màu đá ong của đường bậc và của nền núi. Người trong vùng đọc các ô cửa tròn theo nghĩa sắc sắc không không, một chữ trong giáo nghĩa nói về cái có và cái không; đó là cách đọc dân gian, không phải điều chép trong văn bia.
Hệ tượng trong ba nếp nhà
Nhóm tượng làm nên tiếng tăm của chùa, quen gọi là mười tám vị La Hán. Hai vị đặt trong nếp nhà giữa cùng các tượng Phật, mười sáu vị còn lại bày ở hai bên. Mỗi pho một dáng, một tuổi, một nét mặt; có pho ngồi bó chân tì gối, có pho ngửa mặt, có pho chỉ còn xương bọc da.
Pho tạc Đức Phật trong quãng tu khổ hạnh ở núi Tuyết, toàn thân gầy tới mức thấy rõ từng xương sườn, hai tay và hai chân khô lại. Đây là pho được nhắc tới nhiều nhất trong các sách về điêu khắc cổ, thường đi kèm hai pho hầu hai bên.
Phật A Di Đà cùng Quan Âm và Đại Thế Chí, bộ tượng ứng đúng với hai chữ Tây Phương trong tên chùa, đặt ở lớp thờ chính.
Ba pho Phật quá khứ, hiện tại và vị lai, lớp tượng cao nhất trên Phật điện theo lối bài trí chùa Bắc tông.
Gần hết hệ tượng tạc bằng gỗ mít, loại gỗ nhẹ, thớ mịn, ít nứt, rất hợp cho lối tạc khối kỹ. Bề ngoài sơn son thếp vàng hoặc để màu sơn; nếp áo được tả theo đúng cách vải rủ trên người thật.
Giá trị của bộ tượng nằm ở chỗ người tạc biết giải phẫu. Xương gò má, gân cổ, khớp ngón tay, chỗ da chùng ở khuỷu, đều đặt đúng chỗ, nên các pho tượng gầy không thành khô mà thành một thân người đã chịu đựng nhiều. Cùng lúc đó, người tạc không tả chân dung một ai cụ thể: các vị Tổ gốc Tây Thiên ở đây mang dáng người và nét mặt đã Việt hóa, có pho trông như một ông lão trong làng. Đây là chỗ người ta thường dẫn ra khi nói rằng tượng chùa Tây Phương là tượng của người Việt, không phải bản sao của mẫu ngoại nhập.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước hết là thế cô sơn. Núi Câu Lậu là một quả núi thấp đứng lẻ giữa vùng ruộng phẳng của xứ Đoài, không nối vào dãy nào. Trong phép xem đất, một khối nổi lên giữa chỗ bằng như vậy được coi là chỗ khí kết, vì không có sơn mạch nào dẫn khí đi tiếp. Chùa không nép vào chân núi mà đặt hẳn trên đỉnh, tức là ngồi đúng vào điểm cao nhất của khối đất ấy. Cách đặt này khác chùa Thầy cách đó không xa, nơi người dựng chọn chân núi để lấy thế tựa.
Đặt trên đỉnh thì được và mất đều rõ. Được là tầm nhìn mở bốn phía và cái thế độc tôn, không có gì cao hơn che trước mặt. Mất là không còn hậu chẩm để tựa lưng, và gió bốn mặt đều thổi tới. Ba nếp nhà thấp, mái nặng, tường gạch dày và không có tháp cao chính là cách bù lại chỗ mất ấy: cả cụm nhà nằm bám xuống mặt núi thay vì vươn lên khỏi nó.
Kế đến là đường vào. Đường bậc đá ong dài hơn hai trăm bậc không chỉ là lối đi mà còn là một đoạn chuyển tiếp. Trong phép cũ, khí đi theo đường mà lên; một lối lên dốc và dài buộc người đi phải chậm lại, đổi nhịp thở, và tới sân chùa thì đã ở một trạng thái khác lúc ở chân núi. Chùa trên núi không có minh đường rộng theo nghĩa một khoảng sân có nước tụ, nên sân hẹp trước ba nếp nhà giữ vai trò ấy, còn cả vùng ruộng dưới chân núi làm thành một minh đường lớn ở tầm xa.
Về ngũ hành, cái đáng nói là vật liệu. Núi đá, bậc đá ong, tường gạch nung: cả ba đều thuộc hành Thổ, và gạch cùng đá ong còn mang thêm dấu của Hỏa vì đều qua lửa hoặc qua nắng mà rắn lại. Thổ vốn là hành của sự bền và của chỗ đứng yên, hợp với một ngôi chùa ngồi trên đỉnh núi và phải chống gió bốn mặt. Người dựng không lấy vôi trắng phủ lên sắc gạch, nên cả công trình giữ đúng màu của hành ấy.
Sau cùng là hướng. Khu chùa mở về phía có đường bậc lên, tức quay xuống đồng bằng ở phía trước và lấy phần đỉnh núi phía sau làm chỗ tựa gần. Đây là cách xử lý quen của chùa trên núi thấp ở Bắc Bộ: khi không có sơn mạch để tựa thì lấy chính phần cao còn lại của quả núi làm tựa, và lấy khoảng trống trước mặt làm chỗ thu khí. Đọc theo lối cũ, cả cụm này là một thế tọa sơn vọng dã, ngồi trên núi mà nhìn ra đồng, thế của nơi tu hành muốn tách khỏi làng mà vẫn trông thấy làng.
伍Hội Chùa Tây Phương
Hội chùa Tây Phương mở trải theo mùa xuân chứ không gói trong một hai ngày. Mùa hội bắt đầu từ đầu xuân và kéo tới hết tháng Ba âm lịch, trong đó mùng 6 tháng Ba là chính hội. Hội chùa Tây Phương được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ngày 19 tháng 2 năm 2025.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Từ đầu xuân | Mở mùa hội | Người các làng quanh núi Câu Lậu và khách xa về lễ Phật, mùa hội mở dần chứ không khai hội gọn một ngày. |
| Mùng 6 tháng Ba | Chính hội | Ngày trọng nhất trong năm của chùa, tập trung phần lễ và phần trò. |
| Trong chính hội | Lễ tế cáo trời đất | Nghi thức tế của cộng đồng trong vùng, giữ lớp lễ cổ truyền bên cạnh phần cúng Phật. |
| Trong chính hội | Cúng Phật theo lối truyền thống | Phần lễ nhà chùa, dâng hương và tụng niệm tại ba nếp nhà chính. |
| Suốt tháng Ba | Trò chơi dân gian | Các trò của làng xã xứ Đoài diễn ở khoảng sân và dưới chân núi, kéo tới hết tháng Ba. |
Ngoài mùa hội, chùa đông vào các ngày lễ chung của nhà Phật tính theo âm lịch, trong đó có rằm tháng Tư và rằm tháng Bảy. Vào những dịp ấy bộ tượng thời Tây Sơn được nhiều người tới xem hơn cả, vì đây là một trong ít nơi mà bảo vật quốc gia vẫn đứng nguyên tại chỗ thờ chứ không chuyển vào tủ kính bảo tàng.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Câu Lậu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất cũ, Hà Nội
- Đường tới
- Chùa ở trên núi Câu Lậu, xã Thạch Xá thuộc huyện Thạch Thất cũ, Hà Nội, cách trung tâm thành phố chừng bốn mươi cây số về phía tây. Đi cùng tuyến có thể ghé chùa Thầy ở núi Sài Sơn.
- Toạ độ
- 21.0392, 105.5747
Vài lệ của chính nơi này. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào ba nếp nhà. Ba nếp nhà chật và tượng đặt sát lối đi, xin quý vị đi một chiều, không tì tay lên bệ tượng và tuyệt đối không chạm vào các pho gỗ, vì lớp sơn thếp rất dễ tổn. Đường bậc đá ong trơn sau mưa, nên chọn giày bám chân. Việc chụp ảnh trong các nếp nhà tùy lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi trước khi giơ máy.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Tây Phương nổi tiếng vì điều gì
Vì bộ tượng gỗ mít thời Tây Sơn, cuối thế kỷ 18. Nhóm thuộc thời Tây Sơn gồm 34 pho đã được công nhận bảo vật quốc gia năm 2015, trong đó có bộ mười tám vị Tổ và bộ Tuyết Sơn. Mỗi pho một dáng và một nét mặt riêng, không pho nào lặp lại pho nào.
Mười tám vị La Hán hay mười tám vị Tổ mới đúng
Trong hồ sơ di tích và các nghiên cứu về chùa, nhóm tượng ấy được gọi là các vị Tổ, tức các vị tổ truyền đăng của Thiền tông. Cách gọi mười tám vị La Hán là tên quen của dân gian và của bài thơ nổi tiếng, dùng rộng tới mức thành mặc định, nhưng không phải tên trong hồ sơ.
Kiến trúc chùa Tây Phương có gì đặc biệt
Ba nếp nhà nằm song song xếp theo hình chữ Tam, gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Cả ba làm theo lối chồng diêm hai tầng tám mái, lợp hai lớp ngói, đầu đao mang con giống đất nung. Tường xây bằng gạch Bát Tràng để trần không quét vôi, trên tường trổ các ô cửa sổ tròn.
Lên chùa Tây Phương phải leo bao nhiêu bậc
Đường lên là bậc xây bằng đá ong. Nhiều tài liệu ghi 239 bậc, có bài ghi 238 và có bài ghi 237, các nguồn vênh nhau nên chúng tôi ghi cả ba. Núi Câu Lậu thấp, chỉ chừng năm mươi mét so với ruộng chung quanh, nên đường lên ngắn mà dốc.
Bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương của ai
Của nhà thơ Huy Cận, viết năm 1960 sau một lần ông tới thăm chùa. Bài thơ từng nằm trong sách giáo khoa nhiều năm, và chính nó khiến rất nhiều người biết tên chùa Tây Phương cùng cách gọi mười tám vị La Hán trước khi biết ngôi chùa nằm ở đâu.