Đứng ở khoảng sân trước nghi môn ngoại, quý vị thấy bốn trụ đá vươn lên, đầu trụ chạm hình phượng lá lật, hai trụ thấp bên ngoài đặt nghê chầu. Sau lưng bốn trụ ấy là một hồ sen hình chữ nhật, rồi một tấm bình phong đá nguyên khối dạng cuốn thư chắn ngang tầm mắt. Phải qua hết ba lớp nghi môn quý vị mới lên tới tiền đường, và lúc ấy núi Gai đã nằm ngay sau mái đền.
Nhưng nơi thờ tự này không chỉ có ngôi đền. Bên kia quãng đồng là một quả núi thấp khác, núi Tùng, trên đỉnh có lăng mộ; giữa làng còn một ngôi đình cổ dựng năm 1772. Ba chỗ ấy hợp thành một nơi thờ tự duy nhất chứ không phải ba di tích rời nhau.

壹Người Được Thờ Và Lối Thờ
Nơi này thờ Triệu Thị Trinh, người đời quen gọi là Bà Triệu, sinh năm 226 và mất năm 248. Xin nói rõ khuôn của bài ngay từ đầu: trang này chỉ viết phần thờ tự, tín ngưỡng và kiến trúc. Phần chinh chiến của Bà thuộc về sách sử, không nằm trong khuôn khổ mục Địa Điểm của thư viện.
Về tên gọi, tư liệu địa phương tôn Bà với mỹ tự Lệ Hải Bà Vương; ngôi đền thờ Bà trên đất Tân Ninh cũng mang chính tên hiệu ấy. Bốn chữ Hán ở đầu trang là mỹ tự đó, do chúng tôi ghép lại theo tư liệu chứ không chép nguyên từ một tấm hoành phi trong đền, xin quý vị hiểu đúng mức độ của nó.
Xét theo lối thờ tự cổ truyền của người Việt, đây là hình thức thờ nhân thần, tức thờ người thật có công được cộng đồng đưa lên hàng thần. Nếp này khác hẳn thờ thiên thần, thờ Phật và thờ Mẫu. Nó đi theo ba bước: người có công qua đời, dân lập nơi thờ ngay tại chỗ gắn với người ấy, rồi các đời triều đình ban sắc phong. Ở đây bước thứ hai để lại dấu rõ nhất, vì lăng mộ đặt đúng trên đỉnh núi Tùng còn đền thì dựng dưới chân núi Gai, nghĩa là nơi thờ đi theo chỗ đất chứ không theo sự thuận tiện. Cũng theo nếp ấy, việc thờ ở đây do làng làm chủ: đội tế của làng Phú Điền giữ phần lễ, các nghi thức lấy đình làng làm một đầu và lấy đền làm đầu kia. Đó là dấu hiệu của thờ nhân thần, không phải của một cơ sở thuộc tôn giáo có tổ chức.
Trên phương diện khảo được, tư liệu di tích chép rằng đền do Lý Nam Đế cho dựng vào thế kỷ 6, và các nhà nghiên cứu nhận định ngôi đền phải có trước năm 549. Diện mạo kiến trúc hôm nay thì muộn hơn nhiều: phần lớn định hình từ đợt tu chỉnh cuối thế kỷ 18, còn lớp di vật hiện còn thuộc khoảng cuối thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20. Chỗ thờ rất cũ mà mái đền không cũ bằng, điều ấy là chuyện thường của đền miếu Việt Nam.
Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, về chỗ xếp mục. Thư viện xếp nơi này vào mục Thờ Cúng Tổ Tiên, và không ít người thấy lạ, vì Bà Triệu không phải tổ tiên của một dòng họ nào đang thờ. Lý do như sau: đây là lối thờ nhân thần có công theo tín ngưỡng bản địa của người Việt, tức thờ một con người thật đã mất, với nghi thức đi từ giỗ chạp và tế lễ của làng mà nâng lên. Nó không thuộc một tôn giáo có giáo hội: không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không hàng tăng lữ, không có hệ thần linh nhiều tầng như bên thờ Mẫu. Trong cách phân loại của thư viện, mọi nơi thờ người thật theo nếp ấy đều nằm chung một mục với thờ tổ tiên và thờ thành hoàng. Đây là cách sắp xếp để bạn đọc dễ đối chiếu, không phải một phán xét về thân thế người được thờ.
Thứ hai, về chỗ hay lẫn tên. Trang này nói về đền Bà Triệu ở núi Gai, xã Triệu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, nơi có lăng mộ trên núi Tùng. Nơi ấy không phải đền Nưa và khu Am Tiên trên núi Nưa thuộc xã Tân Ninh cùng tỉnh, vốn cũng thờ Bà Triệu dưới tên hiệu Lệ Hải Bà Vương và được xếp hạng riêng từ năm 2009; cũng không phải Phủ Na ở xã Xuân Du, một quần thể thờ Mẫu trong đó có ban thờ Bà Triệu. Chỗ lẫn thường bắt đầu từ cái tên khác: nhiều bảng liệt kê ghi kèm chữ Am Tiên hoặc Am Tiêm cạnh tên đền Bà Triệu, trong khi Am Tiên là địa danh trên đỉnh núi Nưa.
貳Từ Thế Kỷ Sáu Tới Quần Thể Hôm Nay
Lịch sử nơi này không đi thành một đường liền: một mốc khởi dựng rất sớm chỉ còn trong tư liệu, rồi một khoảng dài không có văn bản, sau đó là các đợt dựng và tu bổ từ thế kỷ 18 trở đi mà dấu vết còn nguyên trên gỗ và đá.
- Thế kỷ 6Dựng đền dưới chân núi GaiTheo tư liệu di tích, đền do Lý Nam Đế cho dựng. Các nhà nghiên cứu nhận định đền phải có trước năm 549.
- 1772Dựng đình làng Phú ĐiềnĐình của làng dựng theo lối chữ Đinh, năm gian và sáu vì kèo gỗ, thành một đầu của nghi thức thờ Bà.
- Cuối thế kỷ 18Tu chỉnh lớn ngôi đềnĐợt tu chỉnh định hình diện mạo còn thấy hôm nay, gồm ba lớp nghi môn, tiền đường, trung đường và hậu cung.
- Thế kỷ 17 tới 20Lớp di vật hiện cònKhu di tích giữ 297 di vật thuộc khoảng cuối thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20, chất liệu giấy, gỗ, đồng và gốm.
- 1979Xếp hạng di tích quốc giaĐền Bà Triệu được công nhận di tích cấp quốc gia theo quyết định của Bộ Văn hóa và Thông tin.
- 1996Đình làng Phú Điền được công nhậnNgôi đình được xếp hạng, từ đó nằm chung hệ thống di tích với đền và lăng mộ.
- 2004Dự án bảo quản và phục hồiNgày 27 tháng 1 năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 247 phê duyệt dự án bảo quản và phục hồi.
- 2014Di tích quốc gia đặc biệtKhu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Bà Triệu được xếp hạng theo Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014.
Ba chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng chứ không chọn bừa.
Về ngày lễ hội. Hồ sơ di tích ghi kỳ hội diễn ra ngày 19 tới 22 tháng Hai âm lịch; báo chí có bài ghi 19 tới 24 tháng Hai, có bài ghi 20 tới 23 tháng Hai. Khoảng chênh nhiều khả năng đến từ chỗ tính hay không tính hai ngày sửa lễ và rã hội. Các nguồn thống nhất rằng ngày trọng nhất nằm trong khoảng 21 và 22 tháng Hai.
Về năm ghi danh lễ hội. Một số nguồn ghi năm 2022, một số ghi năm 2023. Cách hiểu hợp lý là quyết định thuộc năm 2022 còn lễ đón nhận bằng tổ chức vào tháng 3 năm 2023, nhưng chúng tôi chưa tra được số quyết định để nói dứt điểm.
Về diện tích. Một nguồn nêu khu di tích rộng khoảng 4 hecta và nói tuổi nơi thờ chừng 1.500 năm; các nguồn khác không nêu. Con số tuổi là cách nói tròn dựa trên mốc thế kỷ 6, không phải niên đại khảo được.
參Ba Phần Của Quần Thể
Quần thể gồm sáu hạng mục: đền Bà Triệu, lăng mộ Bà Triệu, mộ ba ông tướng họ Lý, miếu Bàn Thề, đình làng Phú Điền và đền Đệ Tứ. Ba hạng mục đầu nằm quanh hai quả núi thấp, hai hạng mục sau nằm trong làng.
Đền dưới chân núi Gai
Đền dàn theo một trục dọc, đi từ ngoài vào trong:
- Nghi môn ngoại dạng tứ trụ, đầu trụ chạm hình chim phượng lá lật, hai trụ thấp phía ngoài đặt nghê chầu.
- Hồ sen hình chữ nhật, kích thước khoảng 29,8 mét nhân 42,2 mét.
- Bình phong đá nguyên khối dạng cuốn thư, dài khoảng 4,075 mét và cao khoảng 2,37 mét.
- Nghi môn trung và nghi môn nội, hai lớp cửa nối tiếp nhau.
- Tả mạc và hữu mạc, hai dãy nhà hai bên sân, bộ vì kèo kiểu chồng rường giá chiêng.
- Tiền đường ba gian và trung đường năm gian, bộ vì kèo gỗ có chạm khắc.
- Hậu cung làm bằng gỗ, đặt ở vị trí cao nhất của trục.
Giữa các lớp nhà có sân thượng và sân thiên tỉnh, tức khoảng sân hẹp lấy sáng cho các lớp nhà trong. Cách bày này lấy độ dốc của chân núi mà nâng dần từng lớp, nên mỗi lần lên bậc là một lần lọc bớt tiếng ồn phía ngoài. Đền còn giữ được một số cấu kiện gốc, trong đó có những cột đá khắc chữ Hán; chữ trên đá cho biết niên đại và tên người cúng tiến của từng lần sửa.
Lăng mộ trên đỉnh núi Tùng
Lăng mộ nằm trên đỉnh núi Tùng, làm bằng đá xanh nguyên khối, cao khoảng 5,8 mét, phần mái theo kiểu mái kiệu long đình, tức bắt chước hình cái kiệu có mái cong dùng trong đám rước. Ngôi mộ vì thế được tạo hình như một cỗ kiệu đang dừng lại: chỗ yên nghỉ vẫn giữ dáng của nghi lễ.
Dưới chân núi Tùng còn mộ ba ông tướng họ Lý và miếu Bàn Thề, hai hạng mục giữ cho khu lăng thành một cụm thờ có thứ bậc chứ không phải một ngôi mộ lẻ.
Đình làng Phú Điền
Ngôi đình dựng năm 1772, bố cục theo lối chữ Đinh, quy mô năm gian với sáu bộ vì kèo gỗ. Phần tiền đường có bộ vì kèo chạm trổ dày và tinh, đề tài gồm tứ linh, hoa sen và cả những cảnh sinh hoạt thường ngày. Lối chạm lẫn cảnh dân gian vào giữa đề tài tứ linh là dấu riêng của đình làng thế kỷ 18, ở đây còn khá nguyên.
Đình giữ vai trò thực trong việc thờ: đây là nơi tiến hành phần diễn xướng của kỳ hội, tức một nửa của guồng lễ, chứ không phải hạng mục phụ đứng cho đủ bộ.
Nhóm di vật chất liệu giấy, cho biết các đời ban sắc và tên hiệu được phong. Đây là lớp tư liệu quan trọng nhất để đọc lịch sử thờ tự của nơi này.
Hoành phi, câu đối, hương án và khám thờ, phần lớn thuộc lớp niên đại thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 20, đặt tập trung ở trung đường và hậu cung.
Nhóm tế khí dùng trong nghi thức tế lễ của làng. Gốm là chất liệu hay bị mất nhất trong đồ thờ cổ, nên nhóm còn lại được kiểm kê là phần đáng chú ý.
Cột đá khắc chữ Hán, bình phong đá dạng cuốn thư, trụ đá nghi môn ngoại và phần đá xanh của lăng mộ. Đá giữ được lâu nhất, nên cũng là chỗ còn nhiều dấu gốc nhất.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Cái đáng đọc trước hết ở đây là hai quả núi. Nơi thờ không nằm trên một chỗ đất mà nằm trên hai chỗ: đền dưới chân núi Gai, lăng trên đỉnh núi Tùng. Trong phép xem đất, một quả núi thấp nhô lên giữa đồng bằng được gọi là đột khởi, tức chỗ mạch đất trồi lên. Vùng này thuộc dải đồng ven biển Thanh Hóa, đất phẳng, nên hai quả núi ấy là hai điểm nhấn duy nhất trong tầm mắt, và người xưa đã dùng cả hai chứ không dùng một.
Cách dùng ấy chia rõ hai việc. Lăng đặt trên đỉnh, tức lấy chỗ cao nhất và kín nhất, đúng với quan niệm rằng phần mộ cần yên. Đền đặt dưới chân, tức lấy chỗ thấp, thoáng, sát đường, đúng với quan niệm rằng nơi thờ cần đón người. Nói theo lối phong thủy, một điểm giữ khí và một điểm tán khí cho cộng đồng.
Kế đến là minh đường của ngôi đền. Đền lưng tựa núi Gai, mặt trông ra đồng, ngay trước trục có hồ sen. Đây là thế tựa sơn hướng thủy theo đúng khuôn sách vở, ít thấy trọn vẹn ở đồng bằng châu thổ. Hồ trước cửa đóng vai trò tụ khí; tấm bình phong đá sau hồ đóng vai trò che chỗ trực xung, tức chắn khí xộc thẳng vào trục.
Thứ ba là trục ba điểm. Nếu đặt đền, đình và lăng lên cùng một bản đồ, ba điểm ấy làm thành một tam giác chứ không thành một đường. Đọc theo lối cổ truyền, đó là thế chân vạc: hai đầu thờ tự ở hai quả núi, một đầu nhân đinh ở giữa làng. Khí của nơi thờ vì thế quây lại thành một vùng trùng khít với địa bàn làng Phú Điền, tức đúng với phạm vi cộng đồng giữ việc thờ.
Cuối cùng là hướng. Đền mở cửa về phía đồng, lưng dựa núi, hướng mà đền miếu Bắc Trung Bộ chuộng nhất vì được sáng và có chỗ tựa vững sau lưng. Còn lăng trên đỉnh núi Tùng thì không cần bàn hướng theo lối ấy: một ngôi mộ đặt ở điểm cao nhất của quả núi độc lập thì bốn phía đều là minh đường.
伍Lễ Hội Và Lệ Trong Năm
Nơi này có một kỳ hội lớn vào tháng Hai âm lịch cùng vài lệ nhỏ rải trong năm. Lễ hội đền Bà Triệu đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình lễ hội truyền thống; như đã nói ở trên, nguồn ghi năm ghi danh vênh nhau giữa 2022 và 2023.
| Thời điểm âm lịch | Lệ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 19 tới 22 tháng Hai | Kỳ hội chính | Theo hồ sơ di tích, kỳ hội gồm lễ mộc dục, tế Phụng Nghinh, rước bóng, rước kiệu thần và đại tế. Một số nguồn ghi kỳ hội kéo tới ngày 23 hoặc 24. |
| Ngày 21 và 22 tháng Hai | Ngày trọng của kỳ hội | Theo truyền tụng là ngày hóa của Bà. Phần tế lễ tập trung vào hai ngày này, trong đó có phần tế nữ quan. |
| Trong kỳ hội | Trò diễn dân gian | Các trò diễn tiến hành ở đình làng Phú Điền, kèm nấu cơm thi, đánh cờ người và đánh bài điếm. |
| Mùng 2 tháng 10 | Lễ cơm mới | Theo truyền tụng là ngày sinh của Bà. Dân làng sửa cơm mới dâng tại đền, một lệ riêng của cộng đồng ở đây. |
| Đêm 30 tháng Chạp | Lễ tất niên | Dân làng Phú Điền chuẩn bị mâm lễ dâng tại đền trước giao thừa. |
Nhìn vào bảng trên, quý vị thấy một đặc điểm của thờ nhân thần: các lệ đều neo vào thân thế người được thờ. Ngày hóa thành kỳ hội lớn, ngày sinh thành lễ cơm mới, đêm tất niên thành lệ dâng mâm. Đây là nếp giỗ chạp của một gia đình được phóng lên thành nếp của cả làng, và đó là lý do thư viện đặt nơi này cùng mục với thờ cúng tổ tiên.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Gai, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc cũ, tỉnh Thanh Hóa
- Đường tới
- Nằm dưới chân núi Gai, xã Triệu Lộc, thuộc huyện Hậu Lộc cũ, tỉnh Thanh Hóa, ngay cạnh tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn. Lăng mộ trên đỉnh núi Tùng và đình làng Phú Điền đều trong bán kính đi bộ được từ đền.
- Toạ độ
- 19.8981, 105.8892
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của làng là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi qua nghi môn nội, đi nhẹ nói khẽ ở trung đường và hậu cung, không chạm tay vào đồ thờ cổ, không đặt tiền lẻ lên hương án mà bỏ vào hòm công đức. Đường lên lăng mộ trên đỉnh núi Tùng là đường bậc ngoài trời. Đi đủ ba phần thì nên theo thứ tự đền, đình rồi lăng.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bà Triệu thờ ai
Thờ Triệu Thị Trinh, tức Bà Triệu, sinh năm 226 và mất năm 248, được tôn với mỹ tự Lệ Hải Bà Vương. Đây là lối thờ nhân thần, tức thờ một người thật có công được cộng đồng đưa lên hàng thần, do làng Phú Điền giữ việc thờ. Nơi thờ gồm đền dưới chân núi Gai, lăng mộ trên đỉnh núi Tùng và đình làng.
Đền Bà Triệu ở đâu và gồm những gì
Đền nằm dưới chân núi Gai, xã Triệu Lộc, thuộc huyện Hậu Lộc cũ, tỉnh Thanh Hóa. Khu di tích gồm sáu hạng mục: đền Bà Triệu, lăng mộ trên đỉnh núi Tùng, mộ ba ông tướng họ Lý, miếu Bàn Thề, đình làng Phú Điền dựng năm 1772 và đền Đệ Tứ.
Đền Bà Triệu có từ năm nào
Tư liệu di tích chép đền do Lý Nam Đế cho dựng vào thế kỷ 6, và các nhà nghiên cứu nhận định đền phải có trước năm 549. Tuy vậy diện mạo kiến trúc hiện nay phần lớn định hình từ đợt tu chỉnh cuối thế kỷ 18, còn lớp di vật còn lại thuộc khoảng cuối thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20.
Lễ hội đền Bà Triệu vào ngày nào
Kỳ hội chính diễn ra vào tháng Hai âm lịch, ngày trọng nhất là 21 và 22 tháng Hai. Nguồn ghi khoảng ngày vênh nhau: hồ sơ di tích ghi 19 tới 22, có báo ghi 19 tới 24, có báo ghi 20 tới 23. Ngoài kỳ hội còn lễ cơm mới mùng 2 tháng 10 và lệ dâng mâm đêm 30 tháng Chạp.
Đền Bà Triệu ở Thanh Hóa có phải đền Nưa Am Tiên không
Không. Đây là hai di tích khác nhau, có hồ sơ riêng. Đền Bà Triệu nằm ở núi Gai, xã Triệu Lộc, kèm lăng mộ trên núi Tùng, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2014. Đền Nưa và khu Am Tiên nằm trên núi Nưa thuộc xã Tân Ninh, cũng thờ Bà Triệu nhưng được xếp hạng riêng từ năm 2009.