VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Ngũ Hành Sơn

五行山 · Non Nước, chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng Non Nước

Năm khối núi đá nhô lên giữa bãi cát ven biển, trong lòng là một hệ hang động và trên đỉnh lớn nhất là hai ngôi quốc tự.

Ngọn lớn nhất
Thủy Sơn
cao khoảng 120 mét, mang hai quốc tự Tam Thai và Linh Ứng
Bia ma nhai
78 bia
76 bia chữ Hán và 2 bia chữ Nôm, xưa nhất là bia năm 1640
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018

Từ đường ven biển phía nam Đà Nẵng, quý vị thấy năm khối đá nhô lên giữa một vùng đất bằng, khối cao khối thấp, không nối vào dãy núi nào. Khối lớn nhất có bậc đá dẫn lên, và trên đỉnh nó là hai ngôi chùa cùng một cái cổng đá mở ra khoảng trời trống. Dưới chân núi là những xưởng đá, tiếng búa và tiếng mài vọng ra suốt ngày.

Năm khối đá ấy mang tên năm hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cái tên Ngũ Hành Sơn vì thế không phải tên mô tả hình dáng mà là một cách đọc: người xưa nhìn năm khối núi rồi gán cho chúng năm hành, biến một cụm địa hình thành một hệ có trật tự. Đáng nói thêm là trong lòng các khối đá ấy có hang, và người ta đã đưa chùa chiền vào những cái hang đó.

Ngũ Hành Sơn
Ngũ Hành Sơn. Ảnh: Thuydaonguyen, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Ngũ Hành Sơn Và Tên Non Nước

Nơi này có nhiều tên cùng lúc. Non Nước là tên dân gian, cũng là tên làng dưới chân núi và tên nghề đá ở đó. Ngũ Hành Sơn là tên chữ, xếp năm ngọn theo ngũ hành. Trong tư liệu Phật giáo còn gặp Phổ Đà SơnNgũ Uẩn Sơn, hai tên lấy từ ngôn ngữ nhà Phật; chữ Ngũ Uẩn Sơn hiện còn khắc trên đá trong lòng động Huyền Không. Ba chữ 五行山 dùng ở đầu bài là dạng chữ Hán của chính tên gọi Ngũ Hành Sơn, không phải chữ chép từ một tấm hoành phi cụ thể.

Theo giáo nghĩa

Theo thuyết ngũ hành, mọi vật trong trời đất được quy về năm loại khí: Kim là kim khí, Mộc là cây cỏ, Thủy là nước, Hỏa là lửa, Thổ là đất. Năm hành nối nhau thành hai vòng: vòng tương sinh, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy; và vòng tương khắc, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy. Đặt tên năm ngọn núi theo năm hành tức là nói rằng chúng làm thành một chỉnh thể. Đây là cách nghĩ của thuật số phương Đông chứ không phải giáo nghĩa nhà Phật, dù chùa ở đây đều là chùa Phật giáo.

Theo sử liệu

Tên Ngũ Hành Sơn đã xuất hiện trong sách địa dư của Lê Quang Định năm 1806, tức trước thời Minh Mạng. Tới năm 1837, vua Minh Mạng xác nhận lại tên gọi ấy và định danh cho từng ngọn, đồng thời đặt tên hai điểm ngắm trên Thủy Sơn là Vọng Giang Đài nhìn ra sông và Vọng Hải Đài nhìn ra biển.

Một điểm cần nói cho chính xác: tên gọi là năm hành, nhưng số ngọn núi mà tư liệu địa phương liệt kê lại là sáu, vì hành Hỏa chia làm hai khối Dương Hỏa SơnÂm Hỏa Sơn đứng liền nhau. Quý vị sẽ thấy chỗ ghi năm ngọn, chỗ ghi sáu ngọn; cả hai đều đúng, chỉ khác ở chỗ đếm theo hành hay theo khối đá.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay lẫn nhất ở Đà Nẵng là cái tên chùa Linh Ứng, vì thành phố này có ba ngôi cùng tên. Ngôi cổ nhất là Linh Ứng Non Nước, tức ngôi trên ngọn Thủy Sơn trong bài này, có gốc từ thời Minh Mạng. Ngôi thứ hai là Linh Ứng Bà Nà, dựng năm 1999 trên núi Bà Nà, ở độ cao lớn nhất trong ba nơi. Ngôi thứ ba là Linh Ứng Sơn Trà, tức chùa Bãi Bụt, khởi công năm 2004 trên bán đảo Sơn Trà, là ngôi rộng nhất và thư viện đã có trang riêng tại chùa Linh Ứng Sơn Trà. Ba nơi khác nhau, ba thời khác nhau; hỏi đường mà chỉ nói ba chữ chùa Linh Ứng thì rất dễ tới nhầm.

Từ Bia Đá Năm 1640 Tới Hai Ngôi Quốc Tự

Lịch sử ở đây đọc được bằng hai lớp tư liệu: bia khắc trên vách đá, gọi là bia ma nhai, còn tại chỗ và còn đọc được; và các đợt ban sắc, tu tạo của triều Nguyễn chép trong tư liệu triều đình cùng tư liệu nhà chùa.

  • 1630Dựng chùa Tam Thai
    Chùa dựng trên sườn nam ngọn Thủy Sơn, tư liệu gắn việc khai sơn với Thiền sư Hưng Liên. Đây là mốc thường lấy làm năm khởi dựng của cả khu chùa chiền Ngũ Hành Sơn.
  • 1640Khắc bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật
    Tấm bia ma nhai xưa nhất còn lại, khắc vào vách động Hoa Nghiêm, do Thiền sư Huệ Đạo Minh biên soạn.
  • 1806Tên Ngũ Hành Sơn vào sách địa dư
    Tên gọi Ngũ Hành Sơn đã có trong sách địa dư của Lê Quang Định, tức trước khi vua Minh Mạng xác nhận lại.
  • 1825Ban sắc hai ngôi quốc tự
    Vua Minh Mạng ban sắc phong quốc tự cho chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng, đưa hai ngôi vào hàng chùa của nhà nước quân chủ. Chùa Linh Ứng lúc ấy mang tên Ứng Chơn Tự.
  • 1826Ban tượng, chuông và kim bài
    Chùa Tam Thai nhận tấm kim bài hình trái tim lửa khắc dòng Ngự chế Tam Thai Tự, Minh Mạng lục niên, cùng tượng và chuông do triều đình cấp.
  • 1837Định danh năm ngọn và hai vọng đài
    Vua Minh Mạng xác nhận tên Ngũ Hành Sơn, định danh từng ngọn theo ngũ hành, đặt tên Vọng Giang Đài và Vọng Hải Đài trên Thủy Sơn.
  • 1891Đổi tên thành Linh Ứng Tự
    Năm Thành Thái thứ ba, chùa Ứng Chơn đổi tên thành Linh Ứng Tự và giữ tới nay. Đây là ngôi Linh Ứng cổ nhất trong ba ngôi cùng tên ở Đà Nẵng.
  • 2018Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 1820 ký ngày 24 tháng 12 năm 2018, sau khi đã là di tích quốc gia từ năm 1980.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Thứ nhất là gốc tên Ứng Chơn: một luồng tư liệu chép chùa được dựng năm 1825, tức năm Minh Mạng thứ sáu, và được chính vua này ban sắc; luồng khác chép ngôi chùa tiền thân nằm ở động Tàng Chơn từ đầu thế kỷ 17, lần lượt mang tên Dưỡng Chơn Am rồi Dưỡng Chơn Đường, và tên Ngự chế Ứng Chơn Tự có sau một lần vua Gia Long ghé thăm. Hai cách kể lệch nhau cả về người ban tên lẫn niên đại, nên chúng tôi ghi cả hai. Thứ hai là niên đại nghề đá Non Nước: tài liệu ghi nghề có từ thế kỷ 17, nhưng cũng có bài ghi làng nghề hơn bốn trăm năm.

Thủy Sơn, Hai Ngôi Chùa Và Hệ Hang Động

Thủy Sơn là ngọn lớn nhất, cao chừng 120 mét, có ba đỉnh xếp như ba ngôi sao nên còn gọi là núi Tam Thai; ba đỉnh mang tên Thượng Thai, Trung ThaiHạ Thai. Có hai lối lên: lối phía tây với 156 bậc đá dẫn tới chùa Tam Thai, lối phía đông với 108 bậc dẫn tới chùa Linh Ứng. Điều làm Thủy Sơn khác các danh thắng núi khác là phần rỗng: chùa chiền ở đây không chỉ đứng trên mặt núi mà nằm cả trong lòng núi.

Chùa Tam Thai

Ngôi chùa trên sườn nam, tư liệu gắn việc khai sơn với Thiền sư Hưng Liên và ghi mốc năm 1630. Năm 1825 chùa được vua Minh Mạng ban sắc quốc tự, năm sau nhận tấm kim bài hình trái tim lửa khắc dòng Ngự chế Tam Thai Tự, Minh Mạng lục niên, hiện vẫn là hiện vật quý nhất của chùa. Bố cục chùa theo hình chữ Vương, ba lớp ngang nối bằng một trục dọc, ba bậc mang đúng tên ba đỉnh núi.

Chùa Linh Ứng Và Tháp Xá Lợi

Ngôi chùa phía đông, cùng được ban sắc quốc tự năm 1825 dưới tên Ứng Chơn Tự, đổi thành Linh Ứng Tự năm Thành Thái thứ ba. Chùa gắn liền với động Tàng Chơn ngay phía sau, nên khu thờ tự là một tổ hợp nửa ngoài trời nửa trong hang. Trong khuôn viên có tháp Xá Lợi, khởi công năm 1997, khánh thành năm 2004, mặt bằng lục giác, bảy tầng, cao khoảng 28 mét.

Hệ Hang Động

Động Huyền Không

Hang lớn nhất, nằm phía đỉnh Thượng Thai. Nền phẳng, vòm tròn, trên vòm có năm khoảng giếng trời cho ánh sáng rọi xuống. Trong động có tượng Phật Thích Ca, ban thờ Bồ Tát Địa Tạng, đền thờ bà Ngọc Phi, ngôi Trang Nghiêm Tự và nhiều bia ma nhai.

Động Tàng Chơn

Hang phía sau chùa Linh Ứng, gồm hệ năm hang nhỏ nối nhau là Tam Thanh, Chăm Pa, Bàn Cờ Tiên, Thiên Long và A Di Đà, mỗi hang một ban thờ. Đây cũng là nơi tư liệu gắn với ngôi chùa tiền thân của Linh Ứng.

Động Vân Thông

Hang hình ống dựng đứng, lòng hẹp, dẫn từ trong núi lên thẳng đỉnh Thủy Sơn, ra ở một miệng hang trên cao. Tên Vân Thông nghĩa là thông lên mây, gọi đúng theo lối đi ấy.

Động Hoa Nghiêm

Hang trên lối vào động Huyền Không, có giá trị tư liệu đặc biệt vì trên vách khắc bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật năm 1640, tấm bia ma nhai xưa nhất của cả khu.

Động Linh Nham và các hang nhỏ

Nhiều hang nhỏ khác trong lòng năm ngọn núi, trong đó động Linh Nham và các hang Vân Căn Nguyệt Quật, Thiên Phước Địa, Vân Nguyệt Cốc đều có bia khắc trên vách.

Hệ bia ma nhai là tài sản riêng của nơi này. Hiện đếm được 78 tấm, gồm 76 bia chữ Hán và 2 bia chữ Nôm, niên đại trải từ nửa đầu thế kỷ 17 tới thập niên 60 của thế kỷ 20, phân bố theo hang: động Huyền Không chừng 30 tấm, động Hoa Nghiêm và động Tàng Chơn mỗi nơi chừng 20 tấm. Tấm trọng nhất là Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật khắc năm 1640, do Thiền sư Huệ Đạo Minh biên soạn, ghi việc trùng tu cùng danh sách người cúng dâng, trong đó có cả người Nhật và người Hoa buôn bán ở vùng Hội An khi ấy. Hệ bia được ghi vào danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á và Thái Bình Dương ngày 26 tháng 11 năm 2022.

Còn một lớp nữa nằm dưới chân núi: nghề đá Non Nước. Làng nghề dùng chính đá cẩm thạch nhiều vân của vùng này; tư liệu ghi nghề xuất hiện từ thế kỷ 17, người khai nghề là ông Huỳnh Bá Quát gốc Thanh Hóa, và nghề vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014. Ngày nay đá làm hàng phần lớn lấy từ nơi khác đưa về, vì đá trong năm ngọn núi đã thuộc phạm vi di tích được bảo vệ.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước tiên là chính việc đặt tên. Năm khối núi nhô lên giữa vùng đất bằng ven biển, không nối vào dãy nào, và trong phép xem đất thì những mỏm đá đứng lẻ như thế gọi là độc sơn, thường bị coi là thế cô. Người xưa xử lý cái lẻ ấy bằng cách gán ngũ hành: khi năm khối được đặt tên theo năm hành, chúng thành một hệ có tương sinh tương khắc, tức từ năm mỏm rời thành một chỉnh thể. Ngũ hành ở đây không phải nhãn trang trí mà là một cách sắp đặt.

Thứ hai là thế nước bao. Vùng này nằm giữa biển ở phía đông và sông ở phía tây. Trong phép xem đất ven biển, nước là thứ tụ khí, và một khối núi đá đứng giữa hai mặt nước được coi là có đủ cả chỗ dựa lẫn chỗ tụ. Hai điểm ngắm mà vua Minh Mạng đặt tên trên Thủy Sơn nói đúng thế đất ấy: Vọng Giang Đài nhìn về sông, Vọng Hải Đài nhìn ra biển.

Thứ ba là cái rỗng trong lòng núi, nét riêng mà các danh thắng núi khác của ta ít có. Trong cách nghĩ cổ truyền, hang trong núi được coi là chỗ khí lặng nhất, vì kín bốn mặt mà vẫn thông hơi; những khoảng giếng trời trên vòm động Huyền Không càng làm rõ cái thế nửa kín nửa hở ấy. Việc người xưa đưa ban thờ và cả một ngôi chùa nhỏ vào trong hang là lựa chọn ăn với phép cũ.

Cuối cùng là hướng của hai ngôi chùa. Chùa Tam Thai ở sườn nam, chùa Linh Ứng ở phía đông, mỗi ngôi lấy một mặt núi làm lưng tựa và mở ra một phía trống. Ở đỉnh núi hẹp thì phép tựa sơn hướng thủy của sách vở không áp nguyên xi được; người dựng chùa phải lấy chính khối đá làm hậu chẩm và lấy khoảng trời trống làm minh đường. Hai lối lên riêng cũng theo lẽ ấy, để mỗi ngôi giữ được một trục vào riêng.

Lễ Hội Quán Thế Âm Và Lễ Trong Năm

Lễ lớn nhất ở đây không diễn ra trên Thủy Sơn mà ở ngọn Kim Sơn, tại chùa Quán Thế Âm: đó là lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn, ngày chính là 19 tháng Hai âm lịch. Gốc của hội gắn với việc tìm thấy một pho tượng Quán Thế Âm bằng thạch nhũ trong hang ở Kim Sơn; lễ khánh thành ngôi chùa dựng bên hang ấy năm 1956 được coi là kỳ hội đầu. Lễ hội thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2021.

Trình tự nghi thức của lễ hội và các ngày vía trong năm. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội Quán Thế Âm, Ngũ Hành Sơn..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Ngày 17 tháng HaiLễ khai kinhMở đầu kỳ hội, tụng kinh cầu cho kỳ lễ được yên.
Tối ngày 18 tháng HaiLễ rước ánh sángRước đèn và hoa đăng quanh khu chùa, nghi thức đêm trước ngày chính.
Ngày 19 tháng HaiLễ vía Đức Quán Thế ÂmNgày chính của hội, có lễ vía, lễ rước tôn tượng và phần hóa trang Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trong kỳ hộiLễ tế Xuân và lễ tế Thạch NghệLễ tế đầu năm của làng, kèm lễ tế tổ nghề đá Non Nước dưới chân núi.
Tối ngày 19 tháng HaiLễ tạ pháp đàn hoa đăngNghi thức khép lại kỳ hội.
Ngày 19 tháng Sáu và 19 tháng ChínHai ngày vía còn lạiTheo lệ Phật giáo Bắc tông, ba ngày 19 tháng Hai, tháng Sáu và tháng Chín đều là ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm.

Ngoài kỳ hội tháng Hai, hai ngôi quốc tự trên Thủy Sơn giữ lịch lễ chung của Phật giáo Bắc tông: lễ cầu an tháng Giêng, đại lễ Phật đản rằm tháng Tư, ba tháng an cư tới rằm tháng Bảy, đại lễ Vu Lan, cùng lễ ngày mùng một và ngày rằm. Riêng lễ tế Thạch Nghệ đáng chú ý: một kỳ hội nhà chùa mà có phần tế tổ nghề đá thì cho thấy núi, chùa và làng nghề được người trong vùng coi là một khối.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn cũ, Đà Nẵng
Đường tới
Năm ngọn núi nằm ở phường Hòa Hải thuộc quận Ngũ Hành Sơn cũ, Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố chừng tám cây số về phía đông nam, trên tuyến đi Hội An.
Toạ độ
16.0033, 108.2633
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động nằm trong một di tích, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và các ban thờ trong hang, đi nhẹ nói khẽ trong động. Đá trong hang trơn và nhiều chỗ tối, xin đi theo lối đã lát, không bám vào khối thạch nhũ. Không viết hay khắc gì lên vách đá, vì vách đá ở đây chính là nơi đặt bảy mươi tám tấm bia. Lối trong động Vân Thông rất hẹp và dựng đứng, quý vị tự lượng sức.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Ngũ Hành Sơn gồm những ngọn núi nào

Năm ngọn mang tên năm hành: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn. Trên thực địa, hành Hỏa gồm hai khối liền nhau là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn, nên tư liệu có chỗ liệt kê sáu ngọn. Thủy Sơn là ngọn lớn nhất, cao khoảng 120 mét, là nơi có hai ngôi quốc tự.

Chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng Non Nước có gì đặc biệt

Cả hai được vua Minh Mạng ban sắc quốc tự năm 1825, tức đưa vào hàng chùa của nhà nước quân chủ. Chùa Tam Thai có mốc dựng năm 1630 và giữ tấm kim bài hình trái tim lửa do triều đình ban. Chùa Linh Ứng khi ấy mang tên Ứng Chơn Tự, đổi thành Linh Ứng năm Thành Thái thứ ba.

Chùa Linh Ứng Non Nước có phải chùa Linh Ứng Sơn Trà không

Không, đó là hai ngôi khác nhau. Đà Nẵng có ba chùa Linh Ứng: Linh Ứng Non Nước trên ngọn Thủy Sơn là ngôi cổ nhất, gốc thời Minh Mạng; Linh Ứng Bà Nà dựng năm 1999; và Linh Ứng Sơn Trà, tức chùa Bãi Bụt, khởi công năm 2004 trên bán đảo Sơn Trà.

Bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật là bia gì

Tấm bia ma nhai xưa nhất ở Ngũ Hành Sơn, khắc vào vách động Hoa Nghiêm năm 1640, do Thiền sư Huệ Đạo Minh biên soạn. Bia ghi việc trùng tu cùng danh sách người cúng dâng, trong đó có cả người Nhật và người Hoa buôn bán ở vùng Hội An.

Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn tổ chức ngày nào

Ngày chính là 19 tháng Hai âm lịch, tại chùa Quán Thế Âm trên ngọn Kim Sơn. Kỳ hội mở từ ngày 17 với lễ khai kinh, tối 18 có lễ rước ánh sáng, ngày 19 là lễ vía và lễ rước tôn tượng, kèm lễ tế Xuân và lễ tế tổ nghề đá.

Đọc Tiếp